§ 4. Một số lớp các toán tử trong các không gian Hilbert
Trong suốt đoạn này, lE ký hiệu ánh xạ đồng nhất của một không gian Hilbert E. Hợp thành v∘u của hai ánh xạ tuyến tính thường sẽ được ký hiệu là vu hoặc v.u.
1. Liên hợp
Mệnh đề 1
— Cho E và F là hai không gian Hilbert. Với mọi ánh xạ u∈L(E;F), tồn tại một ánh xạ duy nhất u∗∈L(F;E) sao cho
⟨u(x)∣y⟩F=⟨x∣u∗(y)⟩E
với mọi x∈E và mọi y∈F. Ánh xạ u↦u∗ từ L(E,F) vào L(F;E) là song ánh, đẳng cự và nửa tuyến tính (đối với tự đẳng cấu ξ↦ξ của K).
Gọi S(E,F) là không gian của tất cả các dạng sesquilinear liên tục trên E×F, được trang bị chuẩn
∥Φ∥=∥x∥≤1,∥y∥≤1sup∣Φ(x,y)∣.
Ta định nghĩa không gian S(F,E) một cách tương tự. Ta đã định nghĩa (V, p. 16, cor. 2) một đẳng cấu không gian Banach từ L(E;F) lên S(F,E), ký hiệu bởi u↦Φu và được đặc trưng bởi
Φu(y,x)=⟨y∣u(x)⟩F(x∈E, y∈F).
Theo cách tương tự, ta định nghĩa một đẳng cấu từ L(F,E) lên S(E,F). Cuối cùng ta định nghĩa một ánh xạ Φ↦Φ∗ từ S(F,E) lên S(E,F) bởi
Φ∗(x,y)=Φ(y,x)(x∈E, y∈F).
Ánh xạ này là song ánh, nửa tuyến tính và đẳng cự. Nhưng công thức (1) được chuyển thành Φu∗=(Φu)∗, do đó suy ra mệnh đề.
Định nghĩa 1
— Cho E và F là hai không gian Hilbert. Với mọi ánh xạ tuyến tính liên tục u:E→F, ánh xạ tuyến tính liên tục từ F vào E được xác định bởi công thức (1) được gọi là ánh xạ liên hợp của u và được ký hiệu bởi u∗.
Ta có
(u+v)∗(λu)∗(u∗)∗(1E)∗(wu)∗=u∗+v∗=λu∗=u=1E=u∗w∗;
trong tất cả các công thức này, u và v thuộc L(E;F), λ thuộc K, và w thuộc L(F;G) trong đó G là một không gian Hilbert. Các công thức (5) và (6) có nghĩa là u↦u∗ là nửa tuyến tính. Công thức (8) là hiển nhiên. Để chứng minh (7), ta lấy liên hợp của hai vế của (1), thu được ⟨u∗(y)∣x⟩=⟨y∣u(x)⟩, và điều này chứng minh rằng u là liên hợp của u∗. Cuối cùng, với các ký hiệu của (9), ta có, với mọi z∈G
⟨w(u(x))∣z⟩=⟨u(x)∣w∗(z)⟩=⟨x∣u∗(w∗(z))⟩,
do đó u∗w∗ là liên hợp của wu.
Cho u:E→F là một ánh xạ tuyến tính liên tục và song ánh; khi đó nó cũng là song liên tục (I, p. 19, cor. 1). Từ (8) và (9) ta suy ra ngay lập tức rằng u∗ là song ánh và song liên tục và rằng
(10)
(u−1)∗=(u∗)−1.
Mệnh đề 2
Với mọi u∈L(E;F), ta có
(11)
∥u∗u∥=∥uu∗∥=∥u∥2=∥u∗∥2.
Theo mệnh đề 1, ∥u∗∥=∥u∥, do đó ∥u∗u∥≤∥u∗∥⋅∥u∥≤∥u∥2. Mặt khác,
∥u∥2=∥x∥≤1sup∥u(x)∥2=∥x∥≤1sup⟨u(x)∣u(x)⟩=∥x∥≤1sup⟨x∣u∗u(x)⟩≤∥u∗u∥,
do đó ∥u∗u∥=∥u∥2. Thay thế u bởi u∗, ta được ∥uu∗∥=∥u∗∥2, do đó (11) suy ra vì ∥u∥=∥u∗∥.
Cho E1,...,En và F1,...,Fn là các không gian Hilbert, và với mọi số nguyên i giữa 1 và n, cho ui là một ánh xạ tuyến tính liên tục từ Ei vào Fi. Khi đó
(12)
(u1⊗^2...⊗^2un)∗=u1∗⊗^2...⊗^2un∗.
Cho v là ánh xạ tuyến tính liên tục u1⊗^2...⊗^2un từ
E=E1⊗^2...⊗^2EnvaˋoF=F1⊗^2...⊗^2Fn
và w là ánh xạ tuyến tính liên tục u1∗⊗^2...⊗^2un∗ từ F vào E. Chỉ cần chứng minh đẳng thức ⟨y∣v(x)⟩=⟨w(y)∣x⟩ với x∈E và y∈F. Nhờ tính tuyến tính và tính liên tục, ta rút gọn về trường hợp khi x và y có dạng sau
x=x1⊗...⊗xn,y=y1⊗...⊗yn
với xi∈Ei và yi∈Fi cho 1≤i≤n. Từ định nghĩa của tích vô hướng trong một tích tenxơ (V, p. 27, công thức (6)), ta suy ra
⟨y∣v(x)⟩=i=1∏n⟨yi∣ui(xi)⟩=i=1∏n⟨ui∗(yi)∣xi⟩=⟨w(y)∣x⟩.
Điều đó chứng minh mệnh đề của chúng ta.
Cho E và F là hai không gian Hilbert, u∈L(E;F) và n là một số nguyên dương. Nếu ta đặt u1=...=un=u trong công thức (12) thì ta thu được kết quả rằng ánh xạ tuyến tính liên tục T^n(u∗) từ T^n(F) vào T^n(E) là liên hợp của ánh xạ tuyến tính liên tục T^n(u) từ T^n(E) vào T^n(F). Các công thức
S^n(u)∗=S^n(u∗),Λ^n(u)∗=Λ^n(u∗)
có thể được thiết lập theo cùng một cách như công thức (12), do định nghĩa của tích vô hướng trong S^n(E) (V, p. 30, công thức (15)) và trong Λ^n(E) (V, p. 33, công thức (26)).
Mệnh đề 3
— Cho E và F là hai không gian Hilbert và u∈L(E;F). Các điều kiện sau là tương đương :
(i) u là một đẳng cấu không gian vectơ tôpô, với nghịch đảo bằng u∗; (ii) u là toàn ánh và u∗u=1E; (iii) u là đơn ánh và uu∗=1F; (iv) u là một đẳng cấu của các không gian chuẩn; (v) u là một đẳng cấu không gian Hilbert.
Điều kiện (1) có nghĩa là ta có u∗u=1E và uu∗=1F. Do đó sự tương đương của (i), (ii) và (iii) suy ra từ E, II, § 3, No. 8, mệnh đề 8. Ta đã thấy sự tương đương của (iv) và (v) (V, p. 5). Cuối cùng, quan hệ u∗u=1E tương đương với
1 Xem P. A. M. Dirac, Quantum Mechanics, Oxford University Press, New York, 1935.
⟨x∣u∗u(y)⟩=⟨x∣y⟩, nghĩa là, với ⟨u(x)∣u(y)⟩=⟨x∣y⟩ với mọi x,y trong E, và hiển nhiên kéo theo rằng u là đơn ánh; điều này chứng minh sự tương đương của (ii) và (v).
Một tự đẳng cấu của không gian Hilbert E còn được gọi là một toán tử unita, nghĩa là, một toán tử u∈L(E) thỏa mãn uu∗=u∗u=1E.
2. Các ánh xạ tuyến tính từng phần đẳng cự
Định nghĩa 2
Cho E và F là hai không gian Hilbert và u∈L(E;F). Phần bù trực giao của hạt nhân của u trong E được gọi là không gian con ban đầu của u và bao đóng của ảnh của u trong F được gọi là không gian con cuối của u. Phép chiếu trực giao từ E (tương ứng F) lên không gian con ban đầu (tương ứng cuối) của u được gọi là phép chiếu trực giao ban đầu (tương ứng cuối) của u.
Cho P là không gian con ban đầu của u. Vì E là tổng trực tiếp của P và hạt nhân của u, ta có u(P)=u(E).
Mệnh đề 4
(i) *Không gian con ban đầu (tương ứng cuối) của u∗ bằng không gian con cuối (tương ứng ban đầu) của u.
(ii) Giả sử rằng E=F. Cho M là một không gian vectơ con đóng của E và M∘ là phần bù trực giao của nó. Các quan hệ u(M)⊂M và u∗(M∘)⊂M∘ là tương đương.
Cho Q=u(E) là không gian con cuối của u. Phần bù trực giao Q∘ của Q trong F gồm tất cả các vectơ y sao cho ⟨u(x)∣y⟩=0 với mọi x∈E; điều này tương đương với : ⟨x∣u∗(y)⟩=0 với mọi x∈E, hay với u∗(y)=0. Do đó ta có Q∘=Keru∗, và Q là không gian con ban đầu của u∗. Vì u là chuyển vị của u∗, không gian con cuối của u∗ cũng là không gian con ban đầu của u. Điều này chứng minh (i).
Quan hệ u(M)⊂M suy ra rằng u(M) trực giao với M∘, và quan hệ u∗(M∘)⊂M∘ suy ra rằng u∗(M∘) trực giao với M. Nhưng ta có ⟨u(x)∣y⟩=⟨u∗(y)∣x⟩ với mọi x∈M và y∈M∘; do đó (ii) suy ra.
Ta nhận xét rằng mệnh đề 4 có thể được suy ra từ các tính chất tổng quát của chuyển vị (II, p. 51, hệ quả 2) xét đến nhận xét 3, V, p. 41.
Định nghĩa 3
Cho E và F là hai không gian Hilbert. Một ánh xạ u∈L(E;F) được* gọi là đẳng cự từng phần nếu ∥u(x)∥=∥x∥ với mọi x thuộc không gian con ban đầu của u.
Cho u∈L(E;F) và gọi N là hạt nhân và I là ảnh của nó. Nói rằng u là đẳng cự bộ phận cũng chính là nói rằng ánh xạ tuyến tính u~:E/N→I suy ra từ u là đẳng cự (V, p. 13). Khi đó không gian con I của F là đầy đủ, do đó đóng, và là không gian con cuối của u. Do đó, u cảm sinh một đẳng cấu không gian Hilbert từ không gian con ban đầu của u lên không gian con cuối của nó.
Mệnh đề 5
Cho u∈L(E;F), gọi P là không gian con ban đầu và Q là không gian con cuối của nó. Gọi p (tương ứng q) là phép chiếu trực giao ban đầu (tương ứng cuối) của u. Giả sử rằng u là đẳng cự bộ phận.
(i) Ánh xạ u∗∈L(F;E) là đẳng cự bộ phận, với không gian con ban đầu Q và không gian con cuối P. Khi đó, đẳng cấu từ P lên Q cảm sinh bởi u là nghịch đảo của đẳng cấu từ Q lên P cảm sinh bởi u∗.
(ii) Ta có u∗u=p và uu∗=q.
Theo mệnh đề 4 (i), mệnh đề (i) là một hệ quả của (ii).
Bây giờ chứng minh (ii). Vì P chứa ảnh của u∗, nên ánh xạ u∗u ánh xạ E vào P. Cho x∈E và y∈P, khi đó
⟨u∗u(x)∣y⟩=⟨u(x)∣u(y)⟩.
Nếu x thuộc P, thì ⟨u(x)∣u(y)⟩=⟨x∣y⟩ theo định nghĩa của ánh xạ đẳng cự bộ phận; nếu x thuộc hạt nhân N của u, thì u(x)=0, do đó ⟨u(x)∣u(y)⟩=0 và ⟨x∣y⟩=0 vì N và P trực giao. Vì E=P⊕N, ta có ⟨u∗u(x)−x∣y⟩=0 trong mọi trường hợp, và do đó u∗u là phép chiếu trực giao p từ E lên P. Hệ thức uu∗=q suy ra bằng cách đổi chỗ u và u∗ trong lập luận trên.
Mệnh đề 6
Với mọi u∈L(E;F), các điều kiện sau đây là tương đương :
(i) u là đẳng cấu từng phần ; (ii) u∗ là đẳng cấu từng phần ; (iii) u∗u là một phép chiếu trực giao ; (iv) uu∗ là một phép chiếu trực giao ; (v) *uu∗u=u;∗ (vi) *u∗uu∗=u∗.∗
Theo mệnh đề 5, (i) tương đương với (ii).
(i) ⇒ (v) : Giả sử u là đẳng cấu từng phần. Khi đó u∗u là phép chiếu trực giao ban đầu của u theo mệnh đề 5. Do đó với mọi x∈E, u∗u(x)−x thuộc hạt nhân của u, nghĩa là uu∗u(x)=u(x).
(v) ⇒ (iii) : Giả sử rằng uu∗u=u và đặt p=u∗u; khi đó p=p∗ và p2=p. Gọi M (tương ứng N) là ảnh (tương ứng hạt nhân) của p. Với x∈M và y∈N, ta có ⟨x∣y⟩=⟨p(x)∣y⟩=⟨x∣p∗(y)⟩=⟨x∣p(y)⟩=0. Vì M và N trực giao, p là phép chiếu trực giao từ E lên M.
(iii) ⇒ (i) : Giả sử p=u∗u là một phép chiếu trực giao có ảnh M và hạt nhân N.
Với mọi x∈E, ta có
∥u(x)∥2=⟨u∗u(x)∣x⟩=⟨p(x)∣x⟩. Do đó
u(x)=0 với
x∈N và
∥u(x)∥=∥x∥ với
x∈M, và vì thế
u là đẳng cấu từng phần với hạt nhân
N và không gian con ban đầu
M.
Ta đã chứng minh sự tương đương của (i), (iii) và (v). Thay u bởi u∗, ta có thể suy ra sự tương đương của (ii), (iv) và (vi). Điều này chứng minh mệnh đề 6.
3. Các tự đồng cấu chuẩn
Định nghĩa 4
Cho E là một không gian Hilbert và u∈L(E). Ta nói rằng u là chuẩn nếu nó giao hoán với tự liên hợp u∗ của nó.
Ví dụ, mọi tự đẳng cấu u của không gian Hilbert E đều là chuẩn vì ta có uu∗=u∗u=1E.
Mệnh đề 7
Để u∈L(E) là chuẩn, điều kiện cần và đủ là ∥u(x)∥=∥u∗(x)∥ với mọi x∈E.
Ta định nghĩa một dạng Hermit Φ trên E bởi
Φ(x,y)=⟨uu∗(x)∣y⟩−⟨u∗u(x)∣y⟩. Để
u là chuẩn thường, điều kiện cần và đủ là
Φ=0. Theo các công thức phân cực (V, p. 2), điều này tương đương với
Φ(x,x)=0 với mọi
x∈E. Mệnh đề được suy ra ngay vì
Φ(x,x)=∥u∗(x)∥2−∥u(x)∥2.
Mệnh đề 8
Giả sử rằng u∈L(E) là chuẩn thường. Gọi N là hạt nhân của u và M là không gian trực giao của N trong E; gọi m và n là hai số nguyên dương sao cho m+n≥1. Khi đó N là hạt nhân của um(u∗)n và M vừa là không gian con ban đầu vừa là không gian con cuối của um(u∗)n. Đặc biệt, M vừa là không gian con ban đầu vừa là không gian con cuối của u và của u∗, và ổn định đối với u và u∗.
Mệnh đề 7 chỉ ra rằng u và u∗ có cùng hạt nhân N. Theo mệnh đề 4, (ii) của V, p. 41, không gian con M của E là ổn định đối với u và u∗ vì điều này đúng với N=M∘, vì M∩N={0}, các tự đồng cấu của M cảm sinh bởi u và u∗ là đơn ánh. Đặt v=um(u∗)n; lập luận trước cho thấy hạn chế của v trên M (tương ứng N) là đơn ánh (tương ứng không), do đó N là hạt nhân của v. Do đó, M=N∘ là không gian con ban đầu của v. Theo mệnh đề 4, (i) của V, p. 41, không gian con cuối của v bằng không gian con ban đầu của v∗. Nhưng v∗=un(u∗)m và do đó không gian con ban đầu của v∗ bằng M theo điều đã chứng minh ở trên.
Hệ quả
Cho λ∈K. Các không gian con sau đây của E là bằng nhau : a) không gian con riêng của u ứng với λ; b) không gian con riêng của u∗ ứng với λ;
c) không gian con nguyên sơ của u đối với λ (nói cách khác, theo LIE, VII, § 1, No. 1, tập hợp mọi vectơ x của E sao cho tồn tại một số nguyên n⩾0 để (u−λ.1E)n(x)=0); d) không gian con nguyên sơ của u∗ đối với λ.
Rõ ràng w=u−λ.1E là một tự đồng cấu chuẩn của E, do đó các tự đồng cấu w,w∗=u∗−λ.1E,wn và (w∗)n của E có cùng hạt nhân theo mệnh đề 8.
4. Các tự đồng cấu Hermit
Định nghĩa 5
Cho E là một không gian Hilbert và cho* u∈L(E). Ta nói rằng u là Hermit nếu u∗=u.
Kí hiệu H(E) là tập hợp tất cả các phần tử Hermit của L(E); đây là một không gian con vectơ của không gian vectơ L(E)[R] trên R thu được từ L(E) bằng cách hạn chế vô hướng.
Với mỗi u∈L(E), ta đã liên kết (V, p. 16, hệ quả 2) một dạng sesquilinear Φu:(x,y)↦⟨x∣u(y)⟩ trên E×E. Ta có
Φu∗(x,y)=Φu(y,x)(x,y trong E);
do đó, u là Hermit nếu và chỉ nếu dạng Φu là Hermit. Khi K là C, chỉ cần giả sử rằng Φu(x,x)=⟨x∣u(x)⟩ là thực với mọi x∈E (V, p. 2, Nhận xét).
Cho u∈L(E). Ta đã thấy (V, p. 16, hệ quả 2) rằng chuẩn của u có thể được tính bởi công thức
∥u∥=∥x∥⩽1,∥y∥⩽1sup∣Φu(x,y)∣.
Khi u là Hermit, ta có kết quả sau:
Mệnh đề 9
Với mọi tự đồng cấu Hermit u của* E, *ta có
∥u∥=∥x∥⩽1sup∣⟨x∣u(x)⟩∣.
Đặt Φ=Φu và c=sup∥x∥⩽1∣Φ(x,x)∣, khi đó hiển nhiên c⩽∥u∥. Cho x,y∈E sao cho ∥x∥⩽1,∥y∥⩽1. Khi đó
Φ(x+y,x+y)=Φ(x,x)+Φ(y,y)+2ℜΦ(x,y), do đó
4ℜΦ(x,y)=Φ(x+y,x+y)−Φ(x−y,x−y); nhưng
∣Φ(t,t)∣⩽c∥t∥2 với mọi
t∈E, vì thế
4∣ℜΦ(x,y)∣⩽c(∥x+y∥2+∥x−y∥2)=2c(∥x∥2+∥y∥2)⩽4c. Đặt
a=Φ(x,y); tồn tại một số phức
λ có giá trị tuyệt đối bằng 1 sao cho
λa = |a|. Thay y bởi λy trong bất đẳng thức trên, ta được ∣Φ(x,y)∣⩽c. Theo (15), ∥u∥⩽c và mệnh đề được suy ra. ĐPCM.
Hiển nhiên mọi tự đồng cấu Hermit đều chuẩn. Ngược lại:
Mệnh đề 10
— Giả sử K là C. Cho u∈L(E). Khi đó tồn tại duy nhất một cặp (h1,h2) gồm các tự đồng cấu Hermit của E, sao cho u=h1+ih2. Để u là chuẩn, cần và đủ rằng h1 và h2 giao hoán.
Thật vậy, quan hệ « u=h1+ih2, h1∗=h1, h2∗=h2 » tương đương với
« h1=21(u+u∗) vaˋ h2=2i(u∗−u) ».
Hơn nữa, ta có h1h2−h2h1=2i(uu∗−u∗u). Điều đó chứng minh mệnh đề 10.
Mệnh đề 11
— Cho p∈L(E). Để p là phép chiếu trực giao từ E lên một không gian con vectơ đóng của E, cần và đủ rằng p2=p=p∗.
Giả sử p2=p. Cho M là ảnh của p và N là hạt nhân của nó. E là tổng trực tiếp tôpô của M và N. Để p là một phép chiếu trực giao, cần và đủ rằng M trực giao với N, tức là ta có ⟨p(x)∣y−p(y)⟩=0 với mọi x, y trong E. Quan hệ sau cùng này tương đương với p=p∗p, và suy ra p∗=(p∗p)∗=p∗p=p; ngược lại nếu p∗=p, ta có p=p2=p∗p.
5. Các tự đồng cấu dương
Định nghĩa 6
— Cho E là một không gian Hilbert và u∈L(E). Ta nói rằng u là dương, và viết u≥0, nếu u là Hermit và nếu ⟨x∣u(x)⟩≥0 với mọi x∈E.
Khi K bằng C, quan hệ
⟨x∣u(x)⟩≥0với mọi x∈E
suy ra rằng u là Hermit (V, p. 2, Nhận xét), do đó là dương.
Ký hiệu L+(E) cho tập hợp tất cả các phần tử dương của L(E); đây là một nón lồi nhọn thực sự trong không gian vectơ thực L(E)[R] nền dưới L(E). Để u là dương, điều kiện cần và đủ là dạng sesquilinear Φu trên E×E liên kết với u là Hermit dương. Cho u và v trong L(E), quan hệ u−v≥0 cũng có thể viết là u≥v hoặc v≤u; đây là một quan hệ thứ tự trên L(E)[R] tương thích với cấu trúc không gian vectơ thực của nó.
Mệnh đề 12
— Cho u là một phần tử Hermit (resp. dương) của L(E) và cho v là một ánh xạ tuyến tính liên tục từ E vào một không gian Hilbert F. Khi đó vuv∗ là một phần tử Hermit (resp. dương) của L(F).
Thật vậy, ta có (vuv∗)∗=v∗∗u∗v∗=vuv∗. Mặt khác, nếu u≥0, ta có
⟨y∣vuv∗(y)⟩=⟨v∗(y)∣u(v∗(y))⟩≥0
với mọi y∈F, do đó vuv∗≥0.
Mệnh đề 12 cho thấy, đặc biệt, rằng vv∗ là dương với mọi v∈L(E;F). Vì, đặc biệt, một toán tử chiếu trực giao p thỏa p=p2=pp∗, nên nó là dương.
Mệnh đề 13
— *Cho H(E) là tập hợp tất cả các tự đồng cấu Hermit liên tục của không gian Hilbert E. Cho F là một tập con không rỗng, có hướng tăng và bị chặn của H(E).
(i) Tập F có một cận trên u0 trong H(E); ta có
⟨x∣u0(x)⟩=u∈Fsup⟨x∣u(x)⟩với mọix∈E.
(ii) Bộ lọc các phần cắt của F hội tụ đến u0 trong không gian L(E) được trang bị tôpô hội tụ đơn.
Cho Σ là bộ lọc các tiết diện của F; với mỗi u∈H(E), đặt Φu là dạng Hermit liên tục trên E được xác định bởi
Φu(x,y)=⟨x∣u(y)⟩. Đặt
Ψu(x)=Φu(x,x) với
u∈H(E) và
x∈E. Theo các công thức phân cực (V, p. 2), ta có
(19)4Φu(x,y)(20)4Φu(x,y)=Ψu(x+y)−Ψu(x−y)=Ψu(x+y)−Ψu(x−y)−iΨu(x+iy)+iΨu(x−iy)neˆˊu K=Rneˆˊu K=C.
Với mọi x∈E, ánh xạ u↦Ψu(x) vào R là tăng và bị chặn, nên có một giới hạn đối với Σ. Theo các công thức trên, giới hạn
u,ΣlimΦu(x,y)=Φ(x,y) tồn tại với mọi cặp
(x,y) các phần tử của
E. Rõ ràng
Φ là một dạng Hermit trên
E. Nếu
v1∈F và
v2 là một cận trên của
F, các dạng Hermit
f1=Φ−Φv1 và
f2=Φv2−Φ là dương; tồn tại một số thực
M≥0 sao cho
f1(x,x)+f2(x,x)=Φv2−v1(x,x)≤M∥x∥2, do đó
f1(x,x)≤M∥x∥2,f2(x,x)≤M∥x∥2(x∈E); do đó các bán chuẩn
x↦fi(x,x)1/2 liên tục trên
E. Vì
f2−f1=Φv2+Φv1−2Φ, ta kết luận rằng
x↦Φ(x,x) là một hàm liên tục trên
E, và theo các công thức (19) và (20), rằng
Φ liên tục trên
E×E. Do đó tồn tại (V, p. 16, Hệ quả 2) một phần tử
u0 của
H(E) sao cho
Φ=Φu0. Công thức (18) hiển nhiên được thỏa mãn, do đó
u0 là cận trên của
F trong
H(E). Điều này chứng minh (i).
Theo phép dựng, ta có
u,Σlim⟨x∣(u0−u)(x)⟩=0với mọi x∈E. Cho
v1∈F; với một
u∈F sao cho
u≥v1, đặt
v=u0−u. Nếu áp dụng bất đẳng thức Cauchy-Schwarz cho dạng Hermit dương
Φv trên
E, ta được
∥v(x)∥4=∣Φv(v(x),x)∣2≤Φv(v(x),v(x))⋅Φv(x,x)=⟨v(x)∣v2(x)⟩⟨x∣v(x)⟩≤∥v∥3∥x∥2⟨x∣v(x)⟩≤∥u0−v1∥3∥x∥2⟨x∣v(x)⟩, vì
∥v∥≤∥u0−v1∥ theo V, p. 44, Mệnh đề 9. Khi đó theo (21) ta được
limu,Σ∥(u0−u)(x)∥=0 với mọi
x∈E; điều này chứng minh mệnh đề (ii).
Đặc biệt, mệnh đề 13 có thể được áp dụng cho trường hợp của một dãy (un)n∈N tăng và bị chặn của các phần tử của H(E). Khi đó tồn tại một phần tử v của H(E) được xác định bởi
⟨x∣v(x)⟩=n→∞lim⟨x∣un(x)⟩=n∈Nsup⟨x∣un(x)⟩(x∈E), và ta có
v(x)=limn→∞un(x) với mọi
x∈E. Hơn nữa,
v là cận trên của tập hợp các
un trong
H(E).
6. Vết của một tự đồng cấu
Cho E và F là hai không gian Hilbert. Theo các quy ước của V, p. 40, với a trong E và b trong F, ta ký hiệu ba∗ là ánh xạ tuyến tính liên tục x↦b⟨a∣x⟩ từ E vào F.
Bổ đề 1
Có một đẳng cấu θ từ không gian vectơ F⊗E′ lên không gian Lf(E;F) gồm tất cả các ánh xạ tuyến tính liên tục hạng hữu hạn từ E vào F, được đặc trưng bởi θ(b⊗a∗)=ba∗ với a∈E,b∈F.
Theo A, II, § 4, No. 2, tồn tại một ánh xạ tuyến tính đơn ánh θ từ F⊗E′ vào L(E;F) và chỉ có một ánh xạ như vậy, biến b⊗a′ thành ánh xạ tuyến tính x↦ba′(x) với a′∈E′,b∈F. Hiển nhiên θ(b⊗a∗)=ba∗, và ảnh của θ được chứa trong Lf(E;F). Tuy nhiên, cho u∈Lf(E;F) và cho (e1,...,en) là một cơ sở trực chuẩn của ảnh của u trong F. Đặt fi=u∗(ei) với 1≤i≤n. Với mọi x∈E, ta có
u(x)=i=1∑n⟨ei∣u(x)⟩⋅ei=i=1∑n⟨fi∣x⟩⋅ei,
suy ra u=∑i=1neifi∗=θ(∑i=1nei⊗fi∗). Vì vậy ảnh của θ bằng Lf(E;F).
Từ nay về sau, ta giả sử rằng E=F, và ta đặt Lf(E)=Lf(E;E). Theo bổ đề 1, tồn tại duy nhất một dạng tuyến tính τ trên Lf(E), sao cho τ(θ(a⊗a′))=a′(a) với a∈E,a′∈E′; nói cách khác, ta có
(22)
τ(ba∗)=⟨a∣b⟩cho a,b trong E.
Khi E hữu hạn chiều, ta có Lf(E)=L(E) và τ(u) là vết của tự đồng cấu u của E (A, II, § 4, No. 3).
Bổ đề 2
Cho (ei)i∈I là một cơ sở trực chuẩn của E. Khi đó
τ(u)=i∈I∑⟨ei∣u(ei)⟩
với mọi u∈Lf(E).
Chỉ cần xét trường hợp u=ba∗ với a,b trong E. Khi đó
⟨ei∣u(ei)⟩=ei∗b⋅a∗ei=⟨ei∣a⟩⟨ei∣b⟩
và bổ đề 2 suy ra từ công thức (22) và công thức (3) của V, p. 22.
Bổ đề 3
Cho u là một tự đồng cấu liên tục và dương của E, và F là tập hợp tất cả các phép chiếu trực giao hạng hữu hạn trên E. Khi đó với mọi cơ sở trực chuẩn (ei)i∈I của E, ta có (trong R+) đẳng thức
i∈I∑⟨ei∣u(ei)⟩=p∈Fsupτ(pup).
Với mỗi tập con hữu hạn J của I, đặt pJ=∑i∈Jeiei∗; đây là phép chiếu trực giao từ E lên không gian con vectơ sinh bởi các vectơ ei, với i chạy trên J. Ta có
pJupJ=i∈J,j∈J∑⟨ei∣u(ej)⟩eiej∗, do đó
τ(pJupJ)=∑i∈J⟨ei∣u(ei)⟩. Vì
pJ∈F,
i∈J∑⟨ei∣u(ei)⟩≤p∈Fsupτ(pup); và do đó ta kết luận rằng
i∈I∑⟨ei∣u(ei)⟩=Jsupi∈J∑⟨ei∣u(ei)⟩≤p∈Fsupτ(pup).
Cho v là một tự đồng cấu liên tục, dương và có hạng hữu hạn của E và cho p∈F. Theo định lý 2 của V, p. 23 tồn tại một cơ sở trực chuẩn (fα)α∈A của E và một tập con hữu hạn B của A sao cho (fα)α∈B là một cơ sở trực chuẩn của ảnh của p. Khi đó ta có p=∑α∈Bfαfα∗, và do đó, như trên, hệ thức τ(pvp)=∑α∈B⟨fα∣v(fα)⟩. Theo bổ đề 2 (V, p. 48) ta có τ(v)=∑α∈A⟨fα∣v(fα)⟩, suy ra công thức
α∈B∑⟨fα∣v(fα)⟩≤τ(v). Áp dụng bất đẳng thức này cho trường hợp
v=pJ.upJ và J là một tập con hữu hạn của I, ta được
α∈B∑⟨pJ(fα)∣upJ(fα)⟩≤i∈J∑⟨ei∣u(ei)⟩. Với mọi
x∈E, ta có
pJ(x)=∑i∈J⟨ei∣x⟩ei, và do đó
x=limJpJ(x) đối với tập có hướng có thứ tự gồm các tập con hữu hạn J của I. Chuyển qua giới hạn theo J trong (23), ta được
τ(pup)=α∈B∑⟨fα∣u(fα)⟩≤i∈I∑⟨ei∣u(ei)⟩, và điều này hoàn tất chứng minh của bổ đề 3.
Định nghĩa 7
Cho u là một tự đồng cấu liên tục và dương của không gian Hilbert E. Đặt*
Tr(u)=p∈Fsupτ(pup) *(cận trên trong
R+), trong đó
F là tập tất cả các phép chiếu trực giao có hạng hữu hạn trên E. Ta nói rằng
Tr(u) là vết của u.
Cho p là phép chiếu trực giao từ E lên một không gian con vectơ hữu hạn chiều của E, và cho (x1,...,xm) là một cơ sở trực chuẩn của F. Ta đã thiết lập hệ thức
τ(pup)=i=1∑m⟨xi∣u(xi)⟩. Do đó, ta có thể định nghĩa vết bởi công thức Tr(u)=x1,...,xmsupi=1∑m⟨xi∣u(xi)⟩, trong đó (x1,...,xm) chạy qua tập mọi dãy hữu hạn trực chuẩn của các vectơ của E.
Theo bổ đề 3 (V, p. 48), ta có
Tr(u)=i∈I∑⟨ei∣u(ei)⟩ với mọi cơ sở trực chuẩn (ei)i∈I của E. Từ đó, ta suy ra Tr(u+v)=Tr(u)+Tr(v) Tr(λu)=λ⋅Tr(u) đối với mọi tự đồng cấu liên tục và dương u và v của E và với mọi số thực λ≥0 (ta quy ước 0.(+∞)=0 trong (27)). Cho ϕ là một đẳng cấu từ E lên một không gian Hilbert F; vì ϕ biến mọi cơ sở trực chuẩn của E thành một cơ sở trực chuẩn của F, từ (25) ta được Tr(ϕuϕ−1)=Tr(u).
Cho (uα)α∈A là một họ không rỗng, có hướng, tăng và bị chặn của các tự đồng cấu liên tục và dương của E; cho u=supαuα, khi đó ⟨x∣u(x)⟩=supα⟨x∣uα(x)⟩ với mọi x∈E (V, p. 46, mệnh đề 13). Ta có Tr(u)=supJ⊂I∑i∈J⟨ei∣u(ei)⟩, trong đó J chạy qua mọi tập con hữu hạn của I, do đó
Tr(u)=αsupTr(uα)vớiu=αsupuα.
Cho pF là phép chiếu trực giao từ E lên không gian con Hilbert F; tồn tại một cơ sở trực chuẩn (ei)i∈I của E và một tập con J của I, sao cho (ei)i∈J là một cơ sở trực chuẩn của F. Ta có Tr(pFupF)=∑i∈J⟨ei∣u(ei)⟩. Công thức này có hai hệ quả: thứ nhất, ta có Tr(pFupF)≤Tr(u); thứ hai, lấy u=1E, ta được
Tr(pF)={dimF+∞neˆˊu F laˋ hữu hạn chieˆˋuneˆˊu khoˆng.
Định nghĩa 8
— Cho E là một không gian Hilbert phức. Ta viết L1(E) cho không gian con vectơ của L(E) sinh bởi mọi tự đồng cấu liên tục, dương của E có vết hữu hạn.
Nhờ công thức (25) của V, p. 50, vết mở rộng thành một dạng tuyến tính trên L1(E), cũng được ký hiệu là Tr, và thỏa mãn quan hệ Tr(u)=∑i∈I⟨ei∣u(ei)⟩ với mọi u trong L1(E) và với mọi cơ sở trực chuẩn (ei)i∈I của E. Với mọi u∈L1(E), ta có u∗∈L1(E) và Tr(u∗)=Tr(u). Các công thức (25) và (28) của V, p. 50 vẫn đúng trong trường hợp u thuộc L1(E). Cho F là một không gian con Hilbert của E; theo công thức (30), phép chiếu trực giao pF thuộc L1(E) khi và chỉ khi F là hữu hạn chiều. Với mọi a và b trong E, ta có 4ab∗=∑ε4=1ε(a+εb)(a+εb)∗ và cc∗ là một toán tử dương có vết hữu hạn với mọi c∈E; do đó, nếu u là một tự đồng cấu liên tục của E có hạng hữu hạn, thì u∈L1(E) và Tr(u)=τ(u).
Cho E là một không gian Hilbert thực, và cho E(c) là phức hóa của nó (V, p. 5). Ta đồng nhất E với một tập con của E(c). Khi đó L(E) có thể được đồng nhất với một không gian con vectơ thực của L(E(c)) gồm tất cả các ánh xạ tuyến tính liên tục u từ E(c) vào E(c) sao cho u(E)⊂E. Trong trường hợp này ta viết L1(E)=L(E)∩L1(E(c)). Với mọi u∈L1(E), vết Tr(u) là thực và bằng Tr(u∗). Các công thức (25) và (28) lại đúng, Lf(E)⊂L1(E) và Tr(u)=τ(u) với mọi u∈Lf(E). Sau cùng, một không gian con vectơ đóng F của E là hữu hạn chiều khi và chỉ khi pF thuộc L1(E).
\* Nhận xét 1. — Sau này chúng ta sẽ định nghĩa khái niệm một ánh xạ hạt nhân từ một không gian Banach E vào một không gian Banach F. Chúng ta sẽ chứng minh rằng khi L1(E) gồm tất cả các ánh xạ hạt nhân từ E vào E, thì E là một không gian Hilbert thực hoặc phức. \*
Mệnh đề 14
— Cho E1,...,En là các không gian Hilbert, E=E1⊗^2...⊗^2En, và ui là một tự đồng cấu liên tục của Ei với 1≤i≤n. Nếu u1,...,un dương, thì u=u1⊗^2...⊗^2un cũng dương, và
Tr(u)=i=1∏nTr(ui).
Nếu ui∈L1(Ei) với mọi 1≤i≤n, thì u∈L1(E) và công thức (31) vẫn đúng trong trường hợp này.
Làm quy nạp theo n, ta ngay lập tức rút gọn về trường hợp n=2.
Với i=1,2, ta định nghĩa một dạng sesquilinear Φi trên Ei bởi công thức Φi(x,y)=⟨x∣ui(y)⟩ với x,y trong Ei. Nếu u1 và u2 dương, thì các dạng Φ1 và Φ2 là Hermit và dương. Theo Mệnh đề 1 của V, p. 25 tồn tại một dạng Hermit dương trên không gian vectơ E1⊗E2 sao cho
Φ(x1⊗x2,y1⊗y2)=Φ1(x1,y1)⋅Φ2(x2,y2)
với x1,y1 trong E1 và x2,y2 trong E2. Ta kiểm tra ngay lập tức quan hệ Φ(z,t)=⟨z∣u(t)⟩ với z và t trong E1⊗E2. Vì Φ dương, ta có ⟨z∣u(z)⟩≥0 với mọi z trong E1⊗E2. Vì u liên tục và E1⊗E2 trù mật trong không gian Hilbert E=E1⊗^2E2, ta kết luận rằng u là một tự đồng cấu liên tục và dương của E.
Cho (ei)i∈I là một cơ sở trực chuẩn của E1 và (fj)j∈J là một cơ sở trực chuẩn của E2; khi đó họ (ei⊗fj)i∈I,j∈J là một cơ sở trực chuẩn của E và ta có
Tr(u)=i∈I∑j∈J∑⟨ei⊗fj∣u(ei⊗fj)⟩=i∈I∑j∈J∑⟨ei∣u1(ei)⟩⋅⟨fj∣u2(fj)⟩=Tr(u1)⋅Tr(u2).
Đặc biệt, nếu u1 và u2 là các tự đồng cấu dương có vết hữu hạn, thì u cũng vậy. Do tính tuyến tính, ta suy ra rằng u thuộc L1(E) khi K=C và rằng các ui thuộc L1(Ei) với i=1,2; công thức (31) mở rộng sang trường hợp này bởi tính tuyến tính. Cuối cùng, trường hợp K=R và các ui∈L1(Ei) rút gọn về trường hợp phức bằng mở rộng vô hướng.
7. Các ánh xạ Hilbert-Schmidt
Định nghĩa 9
Cho E và F là hai không gian Hilbert. Một ánh xạ tuyến tính liên tục u từ E vào F được gọi là một ánh xạ Hilbert-Schmidt nếu vết của tự đồng cấu dương u∗u của E là hữu hạn. Tập hợp của tất cả các ánh xạ Hilbert-Schmidt từ E vào F được ký hiệu bởi L2(E,F). \
Khi E=F, ta viết L2(E) thay cho L2(E;E).
Với mọi u∈L(E,F), cho ∥u∥2=Tr(u∗u)1/2, do đó u thuộc L2(E;F) khi và chỉ khi ∥u∥2 hữu hạn. Theo định nghĩa của vết, ta có
∥u∥22=x1,…,xmsupi=1∑m∥u(xi)∥2
trong đó (x1,…,xm) chạy qua tập hợp các dãy trực chuẩn hữu hạn trong E. Đặc biệt, lấy m=1 trong công thức (32), ta có
∥u∥≤∥u∥2(u∈L(E;F)).
Cho (ei)i∈I là một cơ sở trực chuẩn của E và (fj)j∈J là một cơ sở trực chuẩn của F. Theo công thức (25) của V, p. 50 và hệ thức Parseval (V, p. 22), ta có
∥u∥22=i∈I∑∥u(ei)∥2=i,j∑∣⟨fj∣u(ei)⟩∣2.
Vì ∣⟨fj∣u(ei)⟩∣=∣⟨ei∣u∗(fj)⟩∣, nên công thức (34) suy ra rằng
∥u∗∥2=∥u∥; do đó, ánh xạ liên hợp của một ánh xạ Hilbert-Schmidt là một ánh xạ Hilbert-Schmidt. Cho E1,F1 là các không gian Hilbert và v:E1→E,w:F→F1 là các ánh xạ tuyến tính liên tục. Từ (32), suy ra ngay lập tức rằng ∥wu∥2≤∥w∥.∥u∥2. Theo (35), (36) và quan hệ uv=(v∗u∗)∗, ta có ∥uv∥2≤∥u∥2∥v∥. Đặc biệt, nếu u thuộc L2(E,F) thì wuv thuộc L2(E1,F1).
Định lý 1
Cho E và F là hai không gian hilbert.* (i) Tập L2(E,F) là một không gian con vectơ của L(E;F) và u↦∥u∥2 là một chuẩn hilbert (V, p. 6) trên L2(E;F). (ii) *Đẳng cấu θ từ F⊗E′ lên Lf(E;F) được xác định bởi θ(y⊗x∗)=yx∗ được mở rộng thành một đẳng cấu θ^ từ F⊗2E′ lên L2(E;F). Đặc biệt, Lf(E;F) trù mật trong L2(E;F).
Với (ei)i∈I (resp. (fj)j∈J) là một cơ sở trực chuẩn của E (resp. F). Với mọi u∈L(E;F), gọi Λ(u) là ma trận của u theo các cơ sở trực chuẩn đã chọn của E và F (V, p. 22). Ký hiệu ∥a∥2 là chuẩn của một phần tử a của không gian hilbert ℓ2(J×I). Theo công thức (34), Λ là một ánh xạ từ L2(E;F) vào ℓ2(J×I) sao cho ∥Λ(u)∥2=∥u∥; hiển nhiên Λ là đơn ánh. Để chứng minh (i), chỉ cần chứng minh rằng Λ là toàn ánh. Cho a=(aji) là một phần tử của ℓ2(J×I); theo bất đẳng thức Cauchy-Schwarz, ta có
∣j,i∑ηjajiξi∣2≤j,i∑∣aji∣2j,i∑∣ηjξi∣2=∥a∥22∥ξ∥2∥η∥2 với mọi
ξ=(ξi) trong
ℓ2(I) và
η=(ηj) trong
ℓ2(J). Khi đó tồn tại một dạng sesquilinear liên tục
Φ trên
F×E sao cho
Φ(y,x)=∑j,iηjajiξi với
x=∑iξiei trong
E và
y=∑jηjfj trong
F. Chọn
u∈L(E;F) sao cho
Φ(y,x)=⟨y∣u(x)⟩ (V, p. 16, cor. 2). Ta được
aji=Φ(fj,ei)=⟨fj∣u(ei)⟩vớii∈I,j∈J, suy ra
a=Λ(u).
Vì Λ là một đẳng cấu giữa các không gian hilbert từ L2(E;F) lên ℓ2(J×I) và vì (fj⊗ei∗) là một cơ sở trực chuẩn của F⊗2E′, nên tồn tại một đẳng cấu θ^ từ F⊗2E′ lên L2(E;F) sao cho
⟨fj∣θ^(t)ei⟩=⟨fj⊗ei∗∣t⟩
với mọi i∈I, j∈I và t∈F⊗2E′. Đặc biệt, với t=y⊗x∗, ta được
⟨fj∣θ^(y⊗x∗)ei⟩=⟨fj⊗ei∗∣y⊗x∗⟩=⟨fj∣y⟩⟨x∣ei⟩=⟨fj∣yx∗ei⟩ do đó
θ^(y⊗x∗)=yx∗. Điều này chứng minh (ii). Q.E.D.
Ví dụ 1
Cho I và J là hai tập hợp. Theo chứng minh đã cho ở trên, để một ánh xạ u từ ℓ2(I) vào ℓ2(J) là một ánh xạ Hilbert-Schmidt, điều kiện cần và đủ là tồn tại một ma trận (aji) trong ℓ2(J×I) sao cho u(ξ)j=∑i∈Iajiξi với mọi ξ=(ξi) trong ℓ2(I).
Ví dụ 2
Cho X và Y là hai không gian tôpô Hausdorff, được trang bị lần lượt các độ đo dương μ và ν. Ta có thể chứng minh rằng các ánh xạ Hilbert-Schmidt từ L2(X) vào L2(Y) tương ứng song ánh với các lớp của các hàm khả tích bình phương trên Y×X; với lớp của một hàm N∈L2(Y×X,ν⊗μ) tương ứng là ánh xạ uN cho bởi
(uNf)(y)=∫XN(y,x)f(x)dμ(x) với
ν-hầu khắp mọi
y∈Y và
f∈L2(X,μ). Ta có
∥uN∥22=∫X∫Y∣N(y,x)∣2dμ(x)dν(y).
8. Chéo hóa các ánh xạ Hilbert-Schmidt
Định lý 2
Cho E và F là hai không gian Hilbert và u là một ánh xạ Hilbert-Schmidt từ E vào F. Tồn tại một cơ sở trực chuẩn (ei)i∈I của E được u biến thành một họ trực giao trong F.
Ký hiệu B là quả cầu đơn vị (đóng) của E, với tôpô yếu được gán cho nó; đó là một không gian compact (V, p. 17). Đặt Q(x)=∥u(x)∥2 với mọi x∈B. Cuối cùng, ký hiệu P là tập hợp tất cả các vectơ x trong E thỏa mãn tính chất sau ;
(H) Với mọi y∈E trực giao với x, phần tử u(y) của E trực giao với u(x).
Bổ đề 4
Hàm Q:B→R liên tục.
Cho (fj)j∈J là một cơ sở trực chuẩn của F. Đặt λj=∥u∗(fj)∥2 với mọi j∈J. Vì u thuộc L2(E;F) nên u∗∈L2(F;E), do đó ∑jλj<+∞. Hơn nữa, ta có
Q(x)=∥u(x)∥2=j∑∣⟨u∗(fj)∣x⟩∣2 theo công thức Parseval (V, p. 22) và định nghĩa của toán tử liên hợp (V, p. 38). Với mọi
x∈B,
∣⟨u∗(fj)∣x⟩∣2≤λj theo bất đẳng thức Cauchy-Schwarz; do đó, sự hội tụ của tổng trong công thức (43) là đều trên B, suy ra bổ đề 4 (GT, X, § 1, No. 6).
Bổ đề 5
Cho E1 là một không gian con vectơ đóng của E, ổn định dưới u∗u. Nếu E1={0}, thì tồn tại một vectơ có chuẩn 1 trong E1∩P.
Vì B compact yếu, nên không gian con đóng yếu B∩E1 của B cũng compact yếu. Do đó tồn tại (GT, IV, § 6, No. 1, th. 1) một điểm x0 trong B∩E1 sao cho Q(x0)≥Q(x) với mọi x∈B∩E1. Nếu Q(x0)=0, ta có Q(x)=0 và do đó u(x)=0 với mọi x∈B∩E1. Suy ra E1⊂P và bổ đề 5 suy ra trong trường hợp này.
Giả sử bây giờ rằng Q(x0)>0, thì x0=0. Vì vectơ ∥x0∥−1⋅x0 thuộc B∩E1, ta có
Q(x0)≥Q(∥x0∥−1⋅x0)=Q(x0)/∥x0∥2 tức là ∥x0∥=1. Ta sẽ chứng minh rằng
x0 thuộc P; cho
y∈E vuông góc với
x0. Chỉ cần chứng minh rằng
u(y) vuông góc với
u(x0). Nhưng vì
y là tổng của một vectơ của
E1 và một vectơ vuông góc với
E1, và cả hai đều vuông góc với
x0 (vì
x0∈E1), nên chỉ cần xét hai trường hợp sau:
a) y vuông góc với E1: vì E1 ổn định dưới u∗u, u∗u(x0)∈E1, do đó 0=⟨y∣u∗u(x0)⟩=⟨u(y)∣u(x0)⟩.
b) y thuộc E1: với mọi t∈R, vectơ x(t)=(x0+ty)/∥x0+ty∥ thuộc B∩E1. Ta có Q(xt)=f(t)/g(t) với
f(t)=∥u(x0)∥2+2tℜ⟨u(x0)∣u(y)⟩+t2∥u(y)∥2g(t)=1+t2∥y∥2. Xét đến định nghĩa của
x0, ta có
Q(x(0))≥Q(x(t)) với mọi
t thực, do đó
dtdQ(x(t)) bằng không khi
t=0. Nhưng
f(0)=∥u(x0)∥2,
g(0)=1,
f′(0)=2ℜ⟨u(x0)∣u(y)⟩,
g′(0)=0. Vì
dtdQ(x(t))=g(t)2f′(t)g(t)−f(t)g′(t), ta suy ra rằng
f′(0)=0, tức là
ℜ⟨u(x0)∣u(y)⟩=0. Khi
K=R,
u(x0) vuông góc với
u(y), khi
K=C, vectơ
iy thuộc
E1 và vuông góc với
x0, do đó
I⟨u(x0)∣u(y)⟩=−ℜ⟨u(x0)∣u(iy)⟩=0, và cuối cùng
u(x0) vuông góc với
u(y). Điều này chứng minh bổ đề 5.
Ta chứng minh định lý 2. Áp dụng định lý 1 của S, III, § 4, No. 5 ta thấy, như ở V, p. 23, rằng tồn tại một tập hợp S cực đại trong số các tập con trực chuẩn của E được chứa trong P. Gọi E1 là tập hợp tất cả các vectơ trực giao với S. Cho y∈E1; nếu x∈S, thì các vectơ x và y trực giao, và vì S⊂P, ta suy ra rằng u(x) và u(y) trực giao; khi đó
⟨x∣u∗u(y)⟩=⟨u(x)∣u(y)⟩=0 và
u∗u(y) trực giao với
S. Do đó
E1 ổn định dưới
u∗u. Nếu
E1={0}, thì sẽ tồn tại một vectơ
x có chuẩn 1 trong
E1∩P (bổ đề 5) và
S∪{x} sẽ là một tập con trực chuẩn của
E được chứa trong
P. Điều này mâu thuẫn với tính cực đại của
S. Suy ra
E1={0} và
S là một cơ sở trực chuẩn của
E. ĐPCM.
Hệ quả 1
— *Cho v là một tự đồng cấu liên tục, dương có vết hữu hạn của không gian Hilbert E. Tồn tại một cơ sở trực chuẩn (ei)i∈I của E và một họ khả tổng các số thực dương (λi)i∈I sao cho v(ei)=λiei với mọi i∈I.
Đặt Φ(x,y)=⟨x∣v(y)⟩ với x,y trong E. Khi đó Φ là một dạng Hermit dương trên E. Tồn tại (V, p. 8, hệ quả) một không gian Hilbert F và một ánh xạ tuyến tính liên tục u từ E vào F sao cho Φ(x,y)=⟨u(x)∣u(y)⟩ với x,y trong E. Nói cách khác, ta có v=u∗u. Theo định nghĩa 9 (V, p. 52), u là một ánh xạ Hilbert-Schmidt từ E vào F. Theo định lý 2, tồn tại một cơ sở trực chuẩn (ei)i∈I của E sao cho các vectơ u(ei) đôi một trực giao. Lấy i∈I; với mọi j=i trong I, ta có
⟨ej∣v(ei)⟩=⟨u(ej)∣u(ei)⟩=0
do đó v(ei) tỉ lệ với ei và có dạng λiei, trong đó λi=⟨ei∣v(ei)⟩; khi đó
λi⩾0vaˋi∈I∑λi=Tr(v)<+∞.
Hệ quả 2
Cho E là một không gian Hilbert. Khi đó L1(E)⊂L2(E).
Trường hợp thực quy về trường hợp phức bằng mở rộng vô hướng; do đó có thể giả sử rằng K=C.
Vì L2(E) là một không gian con vectơ của L(E), chỉ cần chứng minh rằng mọi tự đồng cấu dương liên tục v của E có vết hữu hạn đều thuộc L2(E). Với các ký hiệu của hệ quả 1, ta có
i∈I∑∥v(ei)∥2=i∈I∑λi2≤(i∑λi)2<+∞.
Hệ quả 3
Cho v là một tự đồng cấu dương liên tục của không gian Hilbert E có vết hữu hạn. Tồn tại một tự đồng cấu Hilbert-Schmidt dương w của E sao cho v=w2 và sao cho v giao hoán với w.
Với các ký hiệu của hệ quả 1, chỉ cần xét tự đồng cấu w biến vectơ ∑i∈Iξiei thành vectơ ∑iλi1/2ξiei.
9. Vết của một dạng toàn phương đối với một dạng khác
Trong tiết này, E sẽ ký hiệu một không gian vectơ thực và Q, H là hai dạng toàn phương dương trên E. Có hai dạng song tuyến tính đối xứng (x,y)↦⟨x∣y⟩Q và (x,y)↦⟨x∣y⟩H trên E×E, được đặc trưng bởi
Q(x)=⟨x∣x⟩Q,H(x)=⟨x∣x⟩H
với mọi x∈E.
Ta gọi vết của Q theo H, và viết Tr(Q/H), là một số thực dương, hữu hạn hay không, được định nghĩa như sau :
a) Nếu tồn tại x∈E sao cho H(x)=0 và Q(x)=0, ta đặt Tr(Q/H)=+∞.
b) Ngược lại, Tr(Q/H) là cận trên của tập hợp tất cả các số có dạng ∑i=1mQ(xi), trong đó (x1,...,xm) chạy qua tập hợp các dãy hữu hạn các phần tử của E sao cho ⟨xi∣xj⟩H=δij (ký hiệu Kronecker).
Mệnh đề 15
Giả sử tồn tại một cấu trúc không gian Hilbert thực trên E sao cho H(x)=∥x∥2 với mọi x∈E. Để Tr(Q/H) hữu hạn, cần và đủ là tồn tại một tự đồng cấu liên tục và dương u của E có vết hữu hạn, sao cho Q(x)=⟨x∣u(x)⟩ với mọi x∈E; tự đồng cấu u này là duy nhất, và ta có
Tr(u)=Tr(Q/H)=i∈I∑Q(ei)
với mọi cơ sở trực chuẩn (ei)i∈I của E.
Giả sử Tr(Q/H) hữu hạn. Với mọi x∈E có chuẩn 1, ta có H(x)=1, do đó Q(x)≤Tr(Q/H). Vì vậy, Q(x)≤Tr(Q/H)⋅∥x∥2 với mọi x∈E, và
∣⟨x∣y⟩Q∣≤Q(x)1/2Q(y)1/2≤Tr(Q/H)⋅∥x∥⋅∥y∥
theo bất đẳng thức Cauchy-Schwarz. Do đó, dạng song tuyến tính (x,y)↦⟨x∣y⟩Q trên E×E là liên tục. Có (V, p. 16, hệ quả 2) một ánh xạ u∈L(E) sao cho ⟨x∣y⟩Q=⟨x∣u(y)⟩. Ta có ⟨x∣y⟩Q=⟨y∣x⟩Q với x,y trong E, nên u là Hermit; và ⟨x∣u(x)⟩=Q(x)≥0, nên u là dương.
Ngược lại, cho u là một tự đồng cấu liên tục và dương của E sao cho Q(x)=⟨x∣u(x)⟩ với mọi x∈E. Khi đó
⟨x∣u(y)⟩=21(Q(x+y)−Q(x)−Q(y))=⟨x∣y⟩Q,
điều này cho tính duy nhất của u. Theo công thức (24') (V, p. 50), ta được
Tr(u)=x1,…,xmsupi=1∑m⟨xi∣u(xi)⟩=x1,…,xmsupi=1∑mQ(xi),
trong đó (x1,…,xm) chạy qua tập hợp tất cả các dãy trực chuẩn hữu hạn các phần tử của E. Theo định nghĩa của Tr(Q/H), ta được Tr(u)=Tr(Q/H). Cuối cùng, với mọi cơ sở trực chuẩn (ei)i∈I của E, ta có Tr(u)=∑i∈I⟨ei∣u(ei)⟩ theo công thức (25) của V, p. 50, do đó Tr(u)=∑i∈IQ(ei).