Bourbaki

19. Hàm gamma.

Ý tưởng "nội suy" một dãy (un)(u_n) bằng các giá trị của một tích phân phụ thuộc vào một tham số thực λ\lambda và bằng unu_n khi λ=n\lambda = n, bắt nguồn từ Wallis (xem tr. 187 tt.). Chính ý tưởng này đã là phương hướng chủ yếu dẫn dắt Euler khi, vào năm 1730 ([108 a], (1), v. XIV, tr. 1-24), ông nảy ra ý tưởng nội suy dãy các giai thừa. Ông bắt đầu bằng cách nhận thấy rằng n!n! bằng tích vô hạn ∏k=1∞(k+1k)nkk+n\prod_{k=1}^{\infty} \left( \frac{k+1}{k} \right)^n \frac{k}{k+n}, rằng tích này được xác định với mọi giá trị của nn (nguyên hay không), và đặc biệt, với n=12n = \frac{1}{2} nó nhận giá trị 12π\frac{1}{2} \sqrt{\pi} theo công thức của Wallis. Sự tương tự của kết quả này với các kết quả của Wallis dẫn ông đến chỗ xét lại tích phân ∫01xe(1−x)ndx\int_0^1 x^e (1-x)^n dx (nn là một số nguyên, ee tùy ý), vốn đã được chính Wallis khảo sát. Euler thu được giá trị của nó là n!(e+1)(e+2)⋯(e+n)\frac{n!}{(e+1)(e+2)\cdots(e+n)} bằng khai triển nhị thức; khi đó một phép đổi biến cho ông thấy rằng n!n! là giới hạn, khi zz tiến tới 0, của tích phân ∫01(1−xzz)ndx\int_0^1 \left( \frac{1-x^z}{z} \right)^n dx, do đó có "tích phân Euler thứ hai" n!=∫01(log⁡1x)ndxn! = \int_0^1 (\log \frac{1}{x})^n dx; bằng cùng phương pháp ấy và việc dùng công thức của Wallis, ông thu được công thức ∫01log⁡1xdx=12π\int_0^1 \sqrt{\log \frac{1}{x}} dx = \frac{1}{2} \sqrt{\pi}. Trong các công trình về sau, Euler thường xuyên quay lại các tích phân này; theo cách đó, ông khám phá ra quan hệ về các phần bù ([108 a], (1), v. XV, p. 82 và v. XVII, p. 342), công thức B(p,q)=Γ(p)Γ(q)/Γ(p+q)B(p, q) = \Gamma(p) \Gamma(q) / \Gamma(p + q) ([108 a], (1), v. XVII, p. 355), và trường hợp riêng của công thức Legendre-Gauss ứng với x=1x = 1 ([108 a], (1), v. XIX, p. 483); tất nhiên, trong tất cả những điều ấy ông không bận tâm đến các vấn đề hội tụ.

Gauss tiếp tục nghiên cứu hàm Γ\Gamma liên hệ với các nghiên cứu của ông về hàm siêu bội, mà hàm Γ\Gamma là một trường hợp giới hạn ([124 a], v. III, tr. 125-162); chính trong nghiên cứu này mà ông thu được công thức tổng quát về phép nhân (mà Legendre đã lưu ý trước đó không lâu trong trường hợp p=2p = 2). Các công trình tiếp theo về Γ\Gamma chủ yếu nhằm mở rộng hàm này sang miền phức. Chỉ gần đây người ta mới nhận thấy rằng tính chất lồi lôgarit đặc trưng cho Γ(x)\Gamma(x) (trong miền thực) tới một nhân tử giữa mọi nghiệm của phương trình phiếm hàm f(x+1)=xf(x)f(x+1) = x f(x) ([26], tr. 149-164); và Artin đã chỉ ra [7 d] rằng mọi kết quả cổ điển về Γ(x)\Gamma(x) đều có thể được liên kết một cách đơn giản với tính chất ấy.

Machine translation of the English, by gpt-5.4, against glossary version 34. Not checked by a person.