Bourbaki marks this one as harder than the rest.
Cho A là một vành, p là một iđêan nguyên tố của A, B là một A-đại số sinh hữu hạn và cho r1⊂…⊂rm là một dãy tăng không rỗng các iđêan của B nằm trên p. Chứng minh rằng tồn tại một phần tử a∈A−p và một họ hữu hạn (yk)1≤k≤q các phần tử của B có các tính chất sau:
(1) Nếu ta viết B′=A[y1,…,yq] và nếu S là tập hợp các lũy thừa của a, vành S−1B là nguyên trên S−1B′.
(2) Với mọi i sao cho 1≤i≤m tồn tại một số nguyên h(i)≥0 sao cho ri chứa y1,…,yh(i) và với mọi đa thức P∈A[Xh(i)+1,…,Xq] quan hệ P(yh(i)+1,…,yr)∈ri kéo theo rằng tất cả các hệ số của P thuộc về p.
Iđêan ri∩B′ khi đó được sinh bởi p và các yk sao cho k≤h(i). (Lập luận bằng quy nạp theo m, do đó quy về trường hợp m=1. Sau đó đặt c=r1a; lập luận bằng quy nạp theo số n các phần tử sinh của A-đại số B. Cho (xi)1≤i≤n là một hệ các phần tử sinh như vậy và cho s là iđêan của A[X1,…,Xn] gồm các P sao cho P(x1,…,xi)∈c; khi đó s⊇pA[X1,…,Xn]; phân biệt hai trường hợp tùy theo s có bằng hay không bằng pA[X1,…,Xn]. Trong trường hợp thứ hai, tồn tại một đa thức Q∈A[X1,…,Xn] mà không có hệ số nào của nó thuộc p và thuộc về B. Chứng minh rằng có thể xác định các số nguyên mi (2≤i≤n) sao cho, nếu ta viết xi′=Q(x1,…,xn),xi′=xi−x1mi (2≤i≤n), tồn tại một phần tử b∈A−p sao cho bx1 là nguyên trên C=A[x2′,…,xn′]; áp dụng giả thiết quy nạp cho A-đại số
B1=A[x2′,…,xn′] và iđêan
c∩B1.