Bourbaki

Bài tập 13, § 8

Đại số giao hoán, VI, 466

Bourbaki marks this one as harder than the rest.

(a) Cho K là một trường và vv là một định giá không tầm thường trên K. Cho E là một tập hợp được lọc bởi một siêu lọc U\mathscr{U} và ξ↦xξ,ξ↦yξ\xi \mapsto x_\xi, \xi \mapsto y_\xi là hai ánh xạ từ E vào K với tôpô Tv\mathscr{T}_v. Chứng minh rằng, nếu ánh xạ ξ↦xξyξ\xi \mapsto x_\xi y_\xi hội tụ về 0 trong K đối với U\mathscr{U}, thì một trong hai ánh xạ ξ↦xξ,ξ↦yξ\xi \mapsto x_\xi, \xi \mapsto y_\xi cũng vậy. (Nhận xét rằng, nếu ξ↦xξ\xi \mapsto x_\xi không có điểm tụ đối với U\mathfrak{U}, thì ánh xạ z↦xξ−1z \mapsto x_\xi^{-1} bị chặn trên một tập con của U.)

(b) Cho ff là một đa thức không hằng trong K[X]K[X]. Chứng minh rằng, nếu ξ∈f(K)\xi \in f(\mathbf{K}) hội tụ về 0 trong KK đối với U\mathfrak{U}, thì ξ↦xξ\xi \mapsto x_\xi hội tụ trong K^\hat{K} (phân tích ff thành các nhân tử trong một mở rộng đại số của KK và sử dụng (a)).

(c) Giả sử rằng KK là đóng đại số trong K^\hat{K}. Khi đó ánh xạ x↦f(x)x \mapsto f(x) từ KK vào chính nó là đóng (sử dụng (b)). Suy ra rằng, nếu gg là một hàm hữu tỉ trong K(X)K(X) và BB là một tập con đóng bị chặn của K, thì g(B−P)g(B - P) (trong đó PP là tập hợp các cực của gg trong BB) là đóng trong K.

(d) Giả sử rằng bao đóng đại số của K là một mở rộng thuần bất khả quy của K. Khi đó chứng minh rằng K^\hat{K} là đóng đại số. (Áp dụng (b) cho một bao đóng đại số của K^\hat{K} và một đa thức f∈K^[X]f \in \hat{K}[X]; cũng sử dụng Bài tập 12 (a).)

Lời giải

Chưa có lời giải nào được viết.

Bản dịch máy từ tiếng Anh, bởi gpt-5-6-mini. Chưa được người kiểm tra. Mô hình này là bản rút gọn của mô hình đã viết phần còn lại của ngôn ngữ này.