Bourbaki

§ 11. Đối đại số, tích của các dạng đa tuyến tính, tích vô hướng và đối ngẫu

Trong đoạn này, A là một vành giao hoán với phân bậc tầm thường. Với một A-môđun phân bậc M kiểu N, M^{gr} sẽ ký hiệu A-môđun phân bậc kiểu N mà các phần tử thuần nhất bậc n là các dạng A-tuyến tính triệt tiêu trên M_k với mọi k ≠ n.

1. Đối đại số

Định nghĩa 1

Một đối đại số trên A (hay A-đối đại số, hoặc đơn giản là đối đại số nếu không thể có sự lẫn lộn) là một tập hợp E với một cấu trúc được xác định bởi việc cho các dữ liệu sau: (1) một cấu trúc A-môđun trên E; (2) một ánh xạ A-tuyến tính c: E → E ⊗_A E gọi là đồng tích của E.

Định nghĩa 2

Cho hai đối đại số E, E', mà các đồng tích của chúng lần lượt được ký hiệu bởi c và c', một cấu xạ từ E vào E' là một ánh xạ A-tuyến tính u: E → E' sao cho (1) (u⊗u)∘c=c′∘u,(u \otimes u) \circ c = c' \circ u, nói cách khác, nó làm cho biểu đồ các ánh xạ A-tuyến tính

E→uE′↓c↓c′E⊗AE→u⊗uE′⊗AE′ \begin{array}{ccc} E & \xrightarrow{u} & E' \\ \downarrow c & & \downarrow c' \\ E \otimes_A E & \xrightarrow{u \otimes u} & E' \otimes_A E' \end{array}

giao hoán.

Ngay lập tức kiểm tra được rằng ánh xạ đồng nhất là một cấu xạ, rằng hợp thành của hai cấu xạ là một cấu xạ, và rằng mọi cấu xạ song ánh đều là một đẳng cấu.

Ví dụ

(1) Đẳng cấu chính tắc A→A⊗AAA \to A \otimes_A A (II, § 3, no. 5) xác định một cấu trúc A-đối đại số trên A.

(2) Cho E là một đối đại số, cc là đồng tích của nó và σ\sigma là tự đẳng cấu chính tắc của A-môđun E⊗AEE \otimes_A E sao cho σ(x⊗y)=y⊗x\sigma(x \otimes y) = y \otimes x với x∈E,y∈Ex \in E, y \in E; ánh xạ A-tuyến tính σ∘c\sigma \circ c xác định một cấu trúc đối đại số mới trên E. Với cấu trúc này, E được gọi là đối đại số đối của đối đại số E đã cho.

(3) Cho B là một A-*đại số* và m:B⊗AB→Bm : B \otimes_A B \to B là ánh xạ A-tuyến tính xác định phép nhân trên B (§ 1, no. 3). Khi đó chuyển vị tm^t m là một ánh xạ A-tuyến tính từ đối ngẫu B∗B^* của A-môđun B vào đối ngẫu (B⊗AB)∗(B \otimes_A B)^* của A-môđun B⊗ABB \otimes_A B. Nếu thêm nữa B là một A-môđun xạ ảnh sinh hữu hạn, thì ánh xạ chính tắc μ:B∗⊗AB∗→(B⊗AB)∗\mu : B^* \otimes_A B^* \to (B \otimes_A B)^* là một đẳng cấu A-môđun (II, § 4, no. 4); khi đó ánh xạ c=μ−1∘tmc = \mu^{-1} \circ ^t m là một đồng tích xác định một cấu trúc đối đại số trên đối ngẫu B∗B^* của A-môđun B.

(4) Cho X là một tập hợp, A(X)A^{(X)} là A-môđun các tổ hợp tuyến tính hình thức của các phần tử của X với hệ số trong A (II, § 1, no. 11) và (ex)x∈X(e_x)_{x \in X} là cơ sở chính tắc của A(X)A^{(X)}. Một ánh xạ A-tuyến tính c:A(X)→A(X)⊗AA(X)c : A^{(X)} \to A^{(X)} \otimes_A A^{(X)} được xác định bởi điều kiện c(ex)=ex⊗exc(e_x) = e_x \otimes e_x và do đó thu được một cấu trúc đối đại số chính tắc trên A(X)A^{(X)}.

(5) Cho M là một A-môđun và T(M)T(M) là đại số tenxơ của M (§ 5, no. 1); theo II, § 3, no. 9, tồn tại một và chỉ một ánh xạ A-tuyến tính cc từ A-môđun T(M)T(M) vào A-môđun T(M)⊗AT(M)T(M) \otimes_A T(M) sao cho, với mọi n≥0n \geq 0,

c(x1x2…xn)=∑0≤p≤n(x1x2…xp)⊗(xp+1…xn) c(x_1 x_2 \ldots x_n) = \sum_{0 \leq p \leq n} (x_1 x_2 \ldots x_p) \otimes (x_{p+1} \ldots x_n)

với mọi xi∈Mx_i \in M (x1x2…xnx_1 x_2 \ldots x_n ký hiệu tích trong đại số T(M)T(M)). Như vậy T(M)T(M) được trang bị một cấu trúc đối đại số.

(6) Cho M là một A-môđun và S(M)S(M) là đại số đối xứng của M (§ 6, no. 1); ánh xạ đường chéo Δ:x↦(x,x)\Delta : x \mapsto (x, x) từ M vào M×MM \times M là một ánh xạ A-tuyến tính, do đó tương ứng với nó có một đồng cấu S(Δ)S(\Delta) từ A-đại số S(M)S(M) vào A-đại số S(M×M)S(M \times M) (§ 6, no. 2, Mệnh đề 3). Mặt khác, ở § 6, no. 6 ta đã xác định một đẳng cấu đại số phân bậc chính tắc h:S(M×M)→S(M)⊗AS(M)h : S(M \times M) \to S(M) \otimes_A S(M); bởi hợp thành, do đó ta thu được một đồng cấu *đại số trên A

c=h∘S(Δ):S(M)→S(M)⊗AS(M), c = h \circ S(\Delta) : S(M) \to S(M) \otimes_A S(M),

nhờ đó xác định trên S(M)S(M) một cấu trúc đối đại số. Với mọi x∈Mx \in M, theo định nghĩa S(Δ)(x)=(x,x)S(\Delta)(x) = (x, x) và định nghĩa của hh đã cho ở § 6, no. 6 cho thấy rằng

h((x,x))=x⊗1+1⊗x. h((x, x)) = x \otimes 1 + 1 \otimes x.

Suy ra cc là đồng cấu đại số duy nhất sao cho, với mọi x∈Mx \in M,

(4)

c(x)=x⊗1+1⊗x. c(x) = x \otimes 1 + 1 \otimes x.

Vì cc là một đồng cấu đại số, suy ra rằng, với mọi dãy (xi)1≤i≤n(x_i)_{1 \leq i \leq n} gồm nn phần tử của MM,

(5)

c(x1x2…xn)=∏i=1n(xi⊗1+1⊗xi) c(x_1 x_2 \ldots x_n) = \prod_{i=1}^n (x_i \otimes 1 + 1 \otimes x_i)
=∑(xi1…xip)⊗(xj1…xjn−p) = \sum (x_{i_1} \ldots x_{i_p}) \otimes (x_{j_1} \ldots x_{j_{n-p}})

trong đó phép tổng ở vế phải của (5) lấy trên mọi cặp có thứ tự các dãy tăng ngặt (trong một số trường hợp là rỗng)

i1<i2<⋯<ip,j1<j2<⋯<jn−p i_1 < i_2 < \cdots < i_p, \quad j_1 < j_2 < \cdots < j_{n-p}

của các phần tử của {1,n}\{1, n\}, mà các tập hợp phần tử của chúng là bù nhau. Phần tử c(x1x2…xn)c(x_1 x_2 \ldots x_n) là một phần tử có bậc toàn phần nn trong S(M)⊗AS(M)S(M) \otimes_A S(M) và thành phần của nó có song bậc (p,n−p)(p, n-p) là

(6)

∑σ(xσ(1)…xσ(p))⊗(xσ(p+1)…xσ(n)) \sum_{\sigma} (x_{\sigma(1)} \ldots x_{\sigma(p)}) \otimes (x_{\sigma(p+1)} \ldots x_{\sigma(n)})

trong đó phép lấy tổng được thực hiện trên mọi hoán vị σ∈Sn\sigma \in S_n mà tăng trên mỗi khoảng {1,p}\{1, p\} và {p+1,n}\{p+1, n\}.

(7) Cho MM là một AA-môđun và xét đại số ngoài Λ(M)\Lambda(M) như đã làm với S(M)S(M) trong Ví dụ 6; ánh xạ đường chéo Δ:M→M×M\Delta : M \to M \times M lần này xác định một đồng cấu Λ(Δ)\Lambda(\Delta) của AA-đại số Λ(M)\Lambda(M) vào AA-đại số Λ(M×M)\Lambda(M \times M) (§ 7, no. 2, Mệnh đề 2); mặt khác có một đẳng cấu đại số phân bậc chính tắc

h:Λ(M×M)→Λ(M)g⊗AΛ(M) h : \Lambda(M \times M) \to \Lambda(M)^g \otimes_A \Lambda(M)

(§ 7, no. 7, Mệnh đề 10), do đó bởi hợp thành có một đồng cấu đại số c=h∘Λ(Δ):Λ(M)→Λ(M)g⊗AΛ(M)c = h \circ \Lambda(\Delta) : \Lambda(M) \to \Lambda(M)^g \otimes_A \Lambda(M), có thể được xem như một đồng cấu AA-môđun Λ(M)→Λ(M)⊗AΛ(M)\Lambda(M) \to \Lambda(M) \otimes_A \Lambda(M) và vì thế xác định trên Λ(M)\Lambda(M) một cấu trúc đối đại số. Có thể chứng minh như trong Ví dụ 6 rằng cc là đồng cấu đại số duy nhất sao cho, với mọi x∈Mx \in M,

(7)

c(x)=x⊗1+1⊗x, c(x) = x \otimes 1 + 1 \otimes x,

do đó, với mọi dãy (xi)1≤i≤n(x_i)_{1 \leq i \leq n} các phần tử của MM,

c(x1∧x2∧⋯∧xn)=(x1⊗1+1⊗x1)∧…∧(xn⊗1+1⊗xn) c(x_1 \wedge x_2 \wedge \cdots \wedge x_n) = (x_1 \otimes 1 + 1 \otimes x_1) \wedge \ldots \wedge (x_n \otimes 1 + 1 \otimes x_n)
trong đó tích ở vế phải được lấy trong đại số
⋀(M)g⊗A⋀(M); \bigwedge(M)^{\mathfrak{g}} \otimes_A \bigwedge(M);
để tính tích này, hãy xét, với mỗi cặp có thứ tự các dãy tăng ngặt i1<i2<⋯<ip, j1<j2<⋯<jn−pi_1 < i_2 < \cdots < i_p,\ j_1 < j_2 < \cdots < j_{n-p} gồm các phần tử của [1,n][1, n], mà các tập hợp phần tử của chúng là bù nhau, tích y1y2…yny_1 y_2 \ldots y_n, trong đó yih=xih⊗1y_{i_h} = x_{i_h} \otimes 1 (1≤h≤p1 \leq h \leq p) và yjk=1⊗xjky_{j_k} = 1 \otimes x_{j_k} (1≤k≤n−p1 \leq k \leq n - p), rồi lấy tổng trên mọi tích như vậy. Vì đại số phân bậc ⋀(M)g⊗A⋀(M)\bigwedge(M)^{\mathfrak{g}} \otimes_A \bigwedge(M) là phản giao hoán và các phần tử xi⊗1x_i \otimes 1 và 1⊗xi1 \otimes x_i đều có bậc toàn phần 1, theo § 4, no. 6, Bổ đề 3 và Bổ đề 1,
(8)c(x1∧x2∧⋯∧xn)(8)\quad c(x_1 \wedge x_2 \wedge \cdots \wedge x_n)
=∑(−1)v(xi1∧⋯∧xip)⊗(xj1∧⋯∧xjn−p) = \sum (-1)^v (x_{i_1} \wedge \cdots \wedge x_{i_p}) \otimes (x_{j_1} \wedge \cdots \wedge x_{j_{n-p}})
trong đó vv là số các cặp có thứ tự (h,k)(h, k) sao cho jk<ihj_k < i_h và phép lấy tổng được thực hiện trên cùng tập hợp như trong (5). Phần tử c(x1∧⋯∧xn)c(x_1 \wedge \cdots \wedge x_n) có bậc toàn phần nn trong ⋀(M)g⊗A⋀(M)\bigwedge(M)^{\mathfrak{g}} \otimes_A \bigwedge(M) và thành phần thuần nhất của nó có song bậc (p,n−p)(p, n - p) bằng
(9)∑σεσ(xσ(1)∧⋯∧xσ(p))⊗(xσ(p+1)∧⋯∧xσ(n))(9)\quad \sum_{\sigma} \varepsilon_\sigma (x_{\sigma(1)} \wedge \cdots \wedge x_{\sigma(p)}) \otimes (x_{\sigma(p+1)} \wedge \cdots \wedge x_{\sigma(n)})
trong đó phép lấy tổng được thực hiện trên các hoán vị σ∈Sn\sigma \in S_n mà tăng trên mỗi khoảng [1,p][1, p] và [p+1,n][p + 1, n].

Về sau, khi nói đến A(x),T(M),S(M)A^{(x)}, T(M), S(M) hoặc ⋀(M)\bigwedge(M) như các đối đại số, ta sẽ hiểu, trừ khi có nói khác, là với các cấu trúc đối đại số được định nghĩa lần lượt trong Ví dụ 4, 5, 6 và 7.

(8) Cho E,FE, F là hai AA-đối đại số và c,c′c, c' là các đồng tích tương ứng của chúng. Gọi τ:(E⊗AE)⊗A(F⊗AF)→(E⊗AF)⊗A(E⊗AF)\tau : (E \otimes_A E) \otimes_A (F \otimes_A F) \to (E \otimes_A F) \otimes_A (E \otimes_A F) là đẳng cấu kết hợp sao cho τ((x⊗x′)⊗(y⊗y′))=(x⊗y)⊗(x′⊗y′)\tau((x \otimes x') \otimes (y \otimes y')) = (x \otimes y) \otimes (x' \otimes y') với x,x′x, x' trong EE và y,y′y, y' trong FF. Khi đó ánh xạ tuyến tính hợp thành

E⊗AF→c⊗c′(E⊗AE)⊗A(F⊗AF)→τ(E⊗AF)⊗A(E⊗AF) E \otimes_A F \xrightarrow{c \otimes c'} (E \otimes_A E) \otimes_A (F \otimes_A F) \xrightarrow{\tau} (E \otimes_A F) \otimes_A (E \otimes_A F)
xác định một cấu trúc đối đại số trên A-môđun E⊗AFE \otimes_A F, được gọi là tích tenxơ của các đối đại số EE và FF.

Cho EE là một đối đại số và Δ\Delta là một monoïde giao hoán. Một phân bậc (Eλ)λ∈Δ(E_\lambda)_{\lambda \in \Delta} trên A-môđun EE được gọi là tương thích với đồng tích cc của EE nếu cc là một đồng cấu phân bậc bậc OO của A-môđun phân bậc EE vào A-môđun phân bậc (kiểu Δ\Delta) E⊗AEE \otimes_A E, nói cách khác (II, § 11, no. 5) nếu

(10)c(Eλ)⊂∑μ+ν=λEμ⊗AEν.(10)\quad c(E_\lambda) \subset \sum_{\mu + \nu = \lambda} E_\mu \otimes_A E_\nu.

Trong phần sau, phần lớn chúng ta sẽ chỉ xét các phân bậc kiểu N\mathbf{N} tương thích với đồng tích; một đối đại số có một phân bậc như vậy cũng sẽ được gọi là một đối đại số phân bậc. Nếu F là một đối đại số phân bậc khác, một cấu xạ đối đại số phân bậc ϕ:E→F\phi : E \to F theo định nghĩa là một cấu xạ đối đại số (Định nghĩa 2) đồng thời cũng là một đồng cấu phân bậc bậc 0 của các A-môđun phân bậc.

Ví dụ

(9) Ngay lập tức thấy rằng các đối đại số T(M)T(M), S(M)S(M) và Λ(M)\Lambda(M) được định nghĩa ở trên là các đối đại số phân bậc.

2. Đồng kết hợp, đồng giao hoán, đồng đơn vị

Cho E là một đối đại số, cc là đồng tích của nó, N, N′N', N′′N'' là ba A-môđun và mm là một ánh xạ song tuyến tính từ N×N′N \times N' vào N′′N''. Gọi m~:N⊗AN′→N′′\tilde{m} : N \otimes_A N' \to N'' là ánh xạ A-tuyến tính tương ứng với mm. Nếu u:E→Nu : E \to N, v:E→N′v : E \to N' là hai ánh xạ A-tuyến tính, ta suy ra được một ánh xạ A-tuyến tính u⊗v:E⊗AE→N⊗AN′u \otimes v : E \otimes_A E \to N \otimes_A N' và một ánh xạ A-tuyến tính hợp thành từ E vào N′′N'':

m(u,v):E→cE⊗AE→u⊗vN⊗AN′→m~N′′. m(u, v) : E \xrightarrow{c} E \otimes_A E \xrightarrow{u \otimes v} N \otimes_A N' \xrightarrow{\tilde{m}} N''.

Rõ ràng như thế ta đã xác định được một ánh xạ A-song tuyến tính (u,v)↦m(u,v)(u, v) \mapsto m(u, v) từ HomA(E,N)×HomA(E,N′)\mathrm{Hom}_A(E, N) \times \mathrm{Hom}_A(E, N') vào HomA(E,N′′)\mathrm{Hom}_A(E, N'').

Khi E là một đối đại số phân bậc, N, N′N', N′′N'' là các A-môđun phân bậc cùng kiểu và m~\tilde{m} là một đồng cấu phân bậc bậc k từ N⊗AN′N \otimes_A N' vào N′′N'', thì, nếu uu (tương ứng vv) là một đồng cấu phân bậc bậc pp (tương ứng qq), m(u,v)m(u, v) là một đồng cấu phân bậc bậc p+q+kp + q + k.

Ví dụ

(1) Lấy E là đối đại số phân bậc T(M)T(M) (no. 1) và giả sử rằng N, N′N', N′′N'' có phân bậc tầm thường. Khi đó một đồng cấu phân bậc bậc −p-p từ T(M)T(M) vào N (tương ứng N′N', N′′N'') tương ứng với một ánh xạ đa tuyến tính từ MpM^p vào N (tương ứng N′N', N′′N''). Với một ánh xạ đa tuyến tính u:Mp→Nu : M^p \to N và một ánh xạ đa tuyến tính v:Mq→N′v : M^q \to N', phương pháp trên cho phép ta suy ra một ánh xạ đa tuyến tính m(u,v):Mp+q→N′′m(u, v) : M^{p+q} \to N'' được gọi là tích (đối với mm) của uu và vv. Các công thức (3) (no. 1) và (11) cho thấy rằng, với x1,…,xp+qx_1, \ldots, x_{p+q} thuộc M,

(m(u,v))(x1,…,xp+q)=m(u(x1,…,xp),v(xp+1,…,xp+q)). (m(u, v))(x_1, \ldots, x_{p+q}) = m(u(x_1, \ldots, x_p), v(x_{p+1}, \ldots, x_{p+q})).

(2) Lấy E là đối đại số phân bậc S(M)S(M) (no. 1), vẫn giữ nguyên các giả thiết về N, N′N', N′′N''. Khi đó một đồng cấu phân bậc bậc −p-p từ S(M)S(M) vào N tương ứng với một ánh xạ đa tuyến tính đối xứng từ MpM^p vào N (§ 6, no. 3). Khi đó từ một ánh xạ đa tuyến tính đối xứng u:Mp→Nu : M^p \to N và một ánh xạ đa tuyến tính đối xứng v:Mq→N′v : M^q \to N', ta suy ra một ánh xạ đa tuyến tính đối xứng m(u,v):Mp+q→N′′m(u, v) : M^{p+q} \to N'', cũng được ký hiệu (để tránh nhầm lẫn) là u.mvu._m v (hoặc cả u.vu.v) và được gọi là tích đối xứng (đối với mm) của uu và vv. Các công thức (6) (no. 1) và (11) cho thấy rằng, với x1,…,xp+qx_1, \ldots, x_{p+q} thuộc M,

(u⋅mv)(x1,…,xp+q)=∑σm(u(xσ(1),…,xσ(p)),v(xσ(p+1),…,xσ(p+q)))(u \cdot_m v)(x_1, \ldots, x_{p+q}) = \sum_\sigma m(u(x_{\sigma(1)}, \ldots, x_{\sigma(p)}), v(x_{\sigma(p+1)}, \ldots, x_{\sigma(p+q)}))

trong đó phép lấy tổng được thực hiện trên các hoán vị σ∈Sp+q\sigma \in \mathfrak{S}_{p+q} tăng trên mỗi khoảng [1,p][1, p] và [p+1,p+q][p+1, p+q].

(3) Lấy E là đối đại số phân bậc ⋀(M)\bigwedge(M) (no. 1). Khi đó, tương tự, từ một ánh xạ đa tuyến tính phản xứng u:Mp→Nu : M^p \to N và một ánh xạ đa tuyến tính phản xứng v:Mq→N′v : M^q \to N', ta suy ra một ánh xạ đa tuyến tính phản xứng m(u,v):Mp+q→N′′m(u, v) : M^{p+q} \to N'', cũng được ký hiệu là u∧mvu \wedge_m v hoặc u∧vu \wedge v và được gọi là tích phản xứng (đối với mm) của uu và vv. Các công thức (9) (no. 1) và (11) cho thấy trong trường hợp này rằng, với x1,…,xp+qx_1, \ldots, x_{p+q} thuộc MM,

(u∧mv)(x1,…,xp+q)=∑σεσm(u(xσ(1),…,xσ(p)),v(xσ(p+1),…,xσ(p+q)))(u \wedge_m v)(x_1, \ldots, x_{p+q}) = \sum_\sigma \varepsilon_\sigma m(u(x_{\sigma(1)}, \ldots, x_{\sigma(p)}), v(x_{\sigma(p+1)}, \ldots, x_{\sigma(p+q)}))

phép lấy tổng lại được lấy trên các hoán vị σ∈Sp+q\sigma \in \mathfrak{S}_{p+q} tăng trên mỗi khoảng [1,p][1, p] và [p+1,p+q][p+1, p+q].

Ta quay lại trường hợp E là một đối đại số phân bậc tùy ý (kiểu N) và giả sử rằng ba môđun N, N', N'' đều bằng A-môđun nền của một A-đại số phân bậc B kiểu Z\mathbf{Z}, ánh xạ mm là phép nhân trong B, sao cho m~:B⊗AB→B\tilde{m} : B \otimes_A B \to B là một ánh xạ A-tuyến tính phân bậc bậc 0. Khi đó thu được một cấu trúc A-đại số phân bậc trên A-môđun phân bậc HomgrA(E,B)=C\mathrm{Homgr}_A(E, B) = C.

Đặc biệt, giả sử B=AB = A (với phân bậc tầm thường), khi đó HomgrA(E,A)\mathrm{Homgr}_A(E, A) là đối ngẫu phân bậc E∗grE^{*gr}, do đó có một cấu trúc A-đại số phân bậc.

Cho F là một đối đại số phân bậc khác, c′c' là đồng tích của nó và ϕ:E→F\phi : E \to F là một cấu xạ đối đại số phân bậc (no. 1); khi đó cấu xạ phân bậc chính tắc

ϕ~=Hom(ϕ,1B):HomgrA(F,B)→HomgrA(E,B)\tilde{\phi} = \mathrm{Hom}(\phi, 1_B) : \mathrm{Homgr}_A(F, B) \to \mathrm{Homgr}_A(E, B)

là một đồng cấu đại số phân bậc. Với u,vu, v thuộc HomgrA(F,B)\mathrm{Homgr}_A(F, B) và x∈Ex \in E,

(ϕ~(uv))(x)=(uv)(ϕ(x))=m((u⊗v)(c′(ϕ(x)))).(\tilde{\phi}(uv))(x) = (uv)(\phi(x)) = m((u \otimes v)(c'(\phi(x)))).

Nhưng theo giả thiết ta có c′(ϕ(x))=(ϕ⊗ϕ)(c(x))c'(\phi(x)) = (\phi \otimes \phi)(c(x)), do đó

(u⊗v)(c′((x)))=(ϕ~(u)⊗ϕ~(v))(c(x))(u \otimes v)(c'((x))) = (\tilde{\phi}(u) \otimes \tilde{\phi}(v))(c(x))

và vì thế ϕ~(uv)=ϕ~(u)ϕ~(v)\tilde{\phi}(uv) = \tilde{\phi}(u)\tilde{\phi}(v), điều đó chứng minh mệnh đề của ta.

Đặc biệt, chuyển vị phân bậc tϕ:F∗gr→E∗gr^t\phi : F^{*gr} \to E^{*gr} là một đồng cấu đại số phân bậc.

Nhận xét

Giả sử các EpE_p là các A-môđun xạ ảnh sinh hữu hạn, sao cho các A-môđun phân bậc (E⊗AE)∗gr(E \otimes_A E)^{*gr} và E∗gr⊗AE∗grE^{*gr} \otimes_A E^{*gr} có thể được đồng nhất một cách chính tắc (II, § 4, no. 4, Hệ quả 1 của Mệnh đề 4). Nếu thêm nữa các A-môđun A⊗AAA \otimes_A A và AA khi đó được đồng nhất một cách chính tắc (II, § 3, no. 4), thì ánh xạ tuyến tính E∗gr⊗AE∗gr→E∗grE^{*gr} \otimes_A E^{*gr} \to E^{*gr} xác định phép nhân trong E∗grE^{*gr} có thể được gọi là chuyển vị phân bậc của đồng tích cc.

Mệnh đề 1

Cho EE là một đối đại số trên AA. Điều kiện cần và đủ để, với mọi AA-đại số kết hợp BB, AA-đại số HomA(E,B)\mathrm{Hom}_A(E, B) là kết hợp, là đồng tích c:E→E⊗AEc : E \to E \otimes_A E sao cho biểu đồ

E→cE⊗AE↓c↓lE⊗cE⊗AE→c⊗lEE⊗AE⊗AE \begin{array}{ccc} E & \xrightarrow{c} & E \otimes_A E \\ \downarrow c & & \downarrow l_E \otimes c \\ E \otimes_A E & \xrightarrow{c \otimes l_E} & E \otimes_A E \otimes_A E \end{array}

là giao hoán.

Cho BB là một AA-đại số kết hợp và u,v,wu, v, w là ba phần tử của C=HomA(E,B)C = \mathrm{Hom}_A(E, B). Gọi m3m_3 là ánh xạ A-tuyến tính B⊗AB⊗AB→BB \otimes_A B \otimes_A B \to B biến b⊗b′⊗b′′b \otimes b' \otimes b'' thành bb′b′′bb'b''. Theo định nghĩa của tích trên đại số CC, (uv)w(uv)w là ánh xạ hợp thành

E→cE⊗E→c⊗1EE⊗E⊗E→u⊗v⊗wB⊗B⊗B→m3B E \xrightarrow{c} E \otimes E \xrightarrow{c \otimes 1_E} E \otimes E \otimes E \xrightarrow{u \otimes v \otimes w} B \otimes B \otimes B \xrightarrow{m_3} B

trong khi u(vw)u(vw) là ánh xạ hợp thành

E→cE⊗E→lE⊗cE⊗E⊗E→u⊗v⊗wB⊗B⊗B→m3B. E \xrightarrow{c} E \otimes E \xrightarrow{l_E \otimes c} E \otimes E \otimes E \xrightarrow{u \otimes v \otimes w} B \otimes B \otimes B \xrightarrow{m_3} B.

Suy ra rằng nếu biểu đồ (12) là giao hoán, thì đại số HomA(E,B)\mathrm{Hom}_A(E, B) là kết hợp với mọi đại số trên AA kết hợp BB. Để thiết lập mệnh đề đảo lại, chỉ cần chỉ ra rằng tồn tại một đại số trên AA kết hợp BB và ba ánh xạ AA-tuyến tính u,v,wu, v, w từ EE vào BB sao cho ánh xạ m3∘(u⊗v⊗w)m_3 \circ (u \otimes v \otimes w) từ E⊗E⊗EE \otimes E \otimes E vào BB là đơn ánh. Lấy BB là đại số trên AA T(E)\mathscr{T}(E) và u,v,wu, v, w là ánh xạ chính tắc từ EE vào T(E)\mathscr{T}(E). Khi đó ánh xạ m3∘(u⊗v⊗w)m_3 \circ (u \otimes v \otimes w) là ánh xạ chính tắc E⊗E⊗E=T3(E)→T(E)E \otimes E \otimes E = \mathscr{T}^3(E) \to \mathscr{T}(E), ánh xạ này là đơn ánh.

Khi đối đại số EE thỏa mãn điều kiện của Mệnh đề 1, ta nói rằng nó là đối kết hợp.

Ví dụ

(4) Ta kiểm tra ngay lập tức được rằng đối đại số AA (no. 1, Ví dụ (1)), đối đại số A(X)A^{(X)} (no. 1, Ví dụ 4) và đối đại số T(M)\mathscr{T}(M) (no. 1, Ví dụ 5) đều là đối kết hợp. Nếu BB là một đại số trên AA kết hợp, đồng thời là một A-môđun xạ ảnh sinh hữu hạn, thì đối đại số B∗B^* (no. 1, Ví dụ 3) là đối kết hợp: vì khi đó tính giao hoán của biểu đồ (12) suy ra bằng phép chuyển vị từ tính giao hoán của biểu đồ biểu thị tính kết hợp của BB (§ 1, no. 3). Đảo lại, cùng lập luận ấy và sự đồng nhất chính tắc của A-môđun B với song đối ngẫu của nó (II, § 2, no. 7, Hệ quả 4 của Mệnh đề 13) cho thấy rằng nếu đối đại số B* là đối kết hợp, thì đại số B là kết hợp. Sau cùng, các đối đại số S(M) và Λ(M)\Lambda(M) (no. 1, Ví dụ 6 và 7) là đối kết hợp; điều này suy ra từ tính giao hoán của biểu đồ

M→ΔM×M↓↓1M×ΔM×M→Δ×1MM×M×M \begin{array}{ccc} M & \xrightarrow{\Delta} & M \times M \\ \downarrow & & \downarrow 1_M \times \Delta \\ M \times M & \xrightarrow{\Delta \times 1_M} & M \times M \times M \end{array}

các tính chất hàm tử của S(M) (§ 6, no. 2) và Λ(M)\Lambda(M) (§ 7, no. 2), cho các biểu đồ giao hoán tương ứng

{S(M)→S(Δ)S(M×M)↓S(Δ)↓S(ΔM×1)S(M×M)→S(Δ×1M)S(M×M×M) \left\{ \begin{array}{ccc} S(M) & \xrightarrow{S(\Delta)} & S(M \times M) \\ \downarrow S(\Delta) & & \downarrow S(\Delta_M \times 1) \\ S(M \times M) & \xrightarrow{S(\Delta \times 1_M)} & S(M \times M \times M) \end{array} \right.
{Λ(M)→Λ(Δ)Λ(M×M)↓Λ(Δ)↓Λ(1M×Δ)Λ(M×M)→Λ(Δ×1M)Λ(M×M×M) \left\{ \begin{array}{ccc} \Lambda(M) & \xrightarrow{\Lambda(\Delta)} & \Lambda(M \times M) \\ \downarrow \Lambda(\Delta) & & \downarrow \Lambda(1_M \times \Delta) \\ \Lambda(M \times M) & \xrightarrow{\Lambda(\Delta \times 1_M)} & \Lambda(M \times M \times M) \end{array} \right.

và sự tồn tại cùng tính hàm tử của các đẳng cấu chính tắc đối với các đại số đối xứng và ngoài của một tổng trực tiếp (§ 6, no. 6 và § 7, no. 7).

Mệnh đề 2

Cho E là một đối đại số trên A. Để với mọi đại số trên A giao hoán B, đại số trên A HomA(E,B)\mathrm{Hom}_A(E, B) là giao hoán, điều kiện cần và đủ là đồng tích c:E→E⊗AEc : E \to E \otimes_A E sao cho biểu đồ

E↙c↘cE⊗AE→σE⊗AE \begin{array}{ccc} E & & \\ & \swarrow_c & \searrow_c \\ E \otimes_A E & \xrightarrow{\sigma} & E \otimes_A E \end{array}

*(trong đó σ\sigma là đồng cấu đối xứng sao cho σ(x⊗y)=y⊗x\sigma(x \otimes y) = y \otimes x) là giao hoán (nói cách khác, điều kiện đủ là đối đại số E trùng với đối đại số đối của nó (no. 1, Ví dụ 2).

Cho B là một đại số trên A giao hoán và u,vu, v là hai phần tử của C=HomA(E,B)C = \mathrm{Hom}_A(E, B).

Theo định nghĩa của tích trong C, uvuv và vuvu lần lượt bằng các ánh xạ hợp thành

E→cE⊗E→u⊗vB⊗B→mB E \xrightarrow{c} E \otimes E \xrightarrow{u \otimes v} B \otimes B \xrightarrow{m} B

và

E→cE⊗E→v⊗uB⊗B→mB. E \xrightarrow{c} E \otimes E \xrightarrow{v \otimes u} B \otimes B \xrightarrow{m} B.

Suy ra rằng nếu biểu đồ (15) là giao hoán thì đại số HomA(E,B)\mathrm{Hom}_A(E, B) là giao hoán với mọi A-đại số giao hoán B. Để thiết lập mệnh đề đảo lại, chỉ cần chỉ ra rằng tồn tại một A-đại số giao hoán B và hai ánh xạ A-tuyến tính u,vu, v từ E vào B sao cho m∘(u⊗v):E⊗E→Bm \circ (u \otimes v): E \otimes E \to B là đơn ánh. Lấy B là đại số S(E⊕E)S(E \oplus E), và uu (resp. vv) là hợp thành của ánh xạ chính tắc E⊕E→S(E⊕E)E \oplus E \to S(E \oplus E) với ánh xạ x↦(x,0)x \mapsto (x, 0) (resp. x↦(0,x)x \mapsto (0, x)) từ E vào E⊕EE \oplus E. Nếu h:S(E)⊗S(E)→S(E⊗E)h: S(E) \otimes S(E) \to S(E \otimes E) là đẳng cấu chính tắc (§ 6, no. 6, Mệnh đề 9) và λ:E→S(E)\lambda: E \to S(E) là ánh xạ chính tắc, thì h−1∘m∘(u⊗v)=λ⊗λh^{-1} \circ m \circ (u \otimes v) = \lambda \otimes \lambda. Mà λ⊗λ\lambda \otimes \lambda là đơn ánh, vì λ(E)\lambda(E) là một nhân tử trực tiếp của S(E)S(E) (II, § 3, no. 7, Hệ quả 5 của Mệnh đề 7).

Khi đối đại số E thỏa mãn điều kiện của Mệnh đề 2, người ta nói nó là đối giao hoán.

Ví dụ

(5) Ngay lập tức thấy rằng đối đại số A (no. 1, Ví dụ 1) và đối đại số A(X)A^{(X)} (II, § 11, no. 1, Ví dụ 4) là đối giao hoán. Từ công thức (5) của no. 1 suy ra đối đại số S(M)S(M) là đối giao hoán. Sau hết, để một A-đại số B sao cho A-môđun B là xạ ảnh và sinh hữu hạn có tính chất rằng đối đại số B∗B^* (no. 1, Ví dụ 3) là đối giao hoán, điều kiện cần và đủ là B giao hoán; thật vậy (dùng sự đồng nhất chính tắc của A-môđun B với song đối ngẫu của nó (II, § 2, no. 7)), điều này suy ra từ việc tính giao hoán của biểu đồ (14), qua chuyển vị, là tương đương với tính giao hoán của biểu đồ biểu thị tính giao hoán của B (§ 1, no. 3).

Mệnh đề 3

Cho E là một đối đại số trên A. Điều kiện cần và đủ để, với mọi A-đại số có đơn vị B, A-đại số HomA(E,B)\mathrm{Hom}_A(E, B) có đơn vị là tồn tại một dạng tuyến tính γ\gamma trên E làm cho các biểu đồ sau giao hoán

E→cE⊗AE↓γ⊗1EA⊗AE \begin{array}{ccc} E & \xrightarrow{c} & E \otimes_A E \\ & & \downarrow \gamma \otimes 1_E \\ & & A \otimes_A E \end{array}
h′h'
E→cE⊗AE↓1E⊗γE⊗AA \begin{array}{ccc} E & \xrightarrow{c} & E \otimes_A E \\ & & \downarrow 1_E \otimes \gamma \\ & & E \otimes_A A \end{array}
h′′h''

trong đó c:E→E⊗AEc: E \to E \otimes_A E là đồng tích và h′h' và h′′h'' là các đẳng cấu chính tắc

(II, § 3, no. 4, Mệnh đề 4). Khi đó phần tử đơn vị của HomA_A(E, B) là ánh xạ tuyến tính x ↦\mapsto γ(x)1\gamma(x)1 (trong đó 1 ký hiệu phần tử đơn vị của B).

Cho γ\gamma là một dạng tuyến tính trên E làm cho biểu đồ (16) giao hoán. Cho B là một A-đại số có đơn vị với phần tử đơn vị 1, η:A→B\eta:A \to B là ánh xạ chính tắc và v=η∘γv = \eta \circ \gamma là phần tử của A-đại số C = HomA_A(E, B). Với mọi phần tử u∈Cu \in C, uvuv là ánh xạ hợp thành

(17)E→cE⊗E→1E⊗γE⊗A→u⊗ηB⊗B→mB. \text{(17)} \quad E \xrightarrow{c} E \otimes E \xrightarrow{1_E \otimes \gamma} E \otimes A \xrightarrow{u \otimes \eta} B \otimes B \xrightarrow{m} B.

Khi đó uv=m∘(u⊗η)∘h′′=uuv = m \circ (u \otimes \eta) \circ h'' = u. Tương tự, chứng minh được rằng vu=uvu = u và do đó vv là phần tử đơn vị của C. Ngược lại, cho A-môđun A ⊕\oplus E một cấu trúc đại số có đơn vị sao cho (a,x)(a′,x′)=(aa′,ax′+a′x)(a, x)(a', x') = (aa', ax' + a'x) với a,a′a, a' trong A và x,x′x, x' trong E. Gọi B là A-đại số được xác định như vậy và C là A-đại số HomA_A(E, B). Giả sử rằng C có đơn vị và gọi e:x↦(γ(x),λ(x))e:x \mapsto (\gamma(x), \lambda(x)) là phần tử đơn vị của nó (trong đó γ(x)∈A\gamma(x) \in A và λ(x)∈E\lambda(x) \in E). Mặt khác gọi ff là phần tử x↦(0,x)x \mapsto (0, x) của C. Một phép tính trực tiếp cho thấy rằng fefe là phần tử

x↦(0,(h′′)−1((1E⊗γ)(c(x)))) x \mapsto (0, (h'')^{-1}((1_E \otimes \gamma)(c(x))))

của C. Điều kiện fe=ffe = f kéo theo tính giao hoán của biểu đồ thứ hai trong (16), và tương tự thấy rằng điều kiện ef=fef = f kéo theo tính giao hoán của biểu đồ thứ nhất trong (16).

Một dạng tuyến tính γ\gamma trên E làm cho các biểu đồ (16) giao hoán được gọi là một đồng đơn vị của đối đại số E. Một đối đại số nhiều nhất chỉ có một đồng đơn vị: vì đó là phần tử đơn vị của đại số HomA_A(E, A). Một đối đại số có đồng đơn vị được gọi là có đồng đơn vị.

Ví dụ

(6) Ánh xạ đồng nhất là đồng đơn vị của đối đại số A; trên đối đại số A(X)^{(X)} (no. 1, Ví dụ 4) dạng tuyến tính γ\gamma sao cho γ(ex)=1\gamma(e_x) = 1 với mọi x∈Xx \in X là đồng đơn vị. Trên đối đại số T(M) (tương ứng S(M), Λ(M)\Lambda(M)) dạng tuyến tính γ\gamma sao cho γ(1)=1\gamma(1) = 1 và γ(z)=0\gamma(z) = 0 với zz trong Tn(M)T^n(M) (tương ứng Sn(M)S^n(M), Λn(M)\Lambda^n(M)) với n≥1n \geq 1 là đồng đơn vị. Sau cùng, cho B là một đại số trên A đồng thời là một A-môđun xạ ảnh sinh hữu hạn và có một phần tử đơn vị ee; khi đó trên đối đại số B* (no. 1, Ví dụ 3) dạng tuyến tính γ:x∗↦⟨e,x∗⟩\gamma: x^* \mapsto \langle e, x^* \rangle là đồng đơn vị, vì dạng này chính là ánh xạ chuyển vị của ánh xạ A-tuyến tính ηe:ξ↦ξe\eta_e: \xi \mapsto \xi e từ A vào B và do phép chuyển vị, tính giao hoán của các biểu đồ (16) suy ra từ tính giao hoán của các biểu đồ biểu thị (dùng ηe\eta_e) sự kiện ee là phần tử đơn vị của B (§ 1, no. 3); hơn nữa cùng một lập luận cũng cho thấy rằng ngược lại, nếu đối đại số B* thừa nhận một đồng đơn vị γ\gamma, thì ánh xạ chuyển vị của γ\gamma xác định một phần tử đơn vị e=tγ(1)e = t_\gamma(1) của B.

Mệnh đề 4

Cho E là một đối đại số thừa nhận một đồng đơn vị γ\gamma và giả sử rằng tồn tại trong E một phần tử e sao cho γ(e)=1\gamma(e) = 1; khi đó E là tổng trực tiếp của các môđun con trên A Ae và Eγ=Ker(γ)E_{\gamma} = \mathrm{Ker}(\gamma) và

(18){c(e)≡e⊗e(modEγ⊗Eγ)c(x)≡x⊗e+e⊗x(modEγ⊗Eγ)với mọi x∈Eγ. \text{(18)} \quad \begin{cases} c(e) \equiv e \otimes e \pmod{E_{\gamma} \otimes E_{\gamma}} \\ c(x) \equiv x \otimes e + e \otimes x \pmod{E_{\gamma} \otimes E_{\gamma}} & \text{với mọi } x \in E_{\gamma}. \end{cases}

Mệnh đề thứ nhất là ngay lập tức, vì γ(x−γ(x)e)=0\gamma(x - \gamma(x)e) = 0 và quan hệ γ(αe)=0\gamma(\alpha e) = 0 kéo theo α=0\alpha = 0. Đặt c(e)=∑isi⊗tic(e) = \sum_i s_i \otimes t_i, sao cho

e=∑iγ(si)ti=∑iγ(ti)si e = \sum_i \gamma(s_i)t_i = \sum_i \gamma(t_i)s_i
theo (16) và 1=γ(e)=∑iγ(si)γ(ti)1 = \gamma(e) = \sum_i \gamma(s_i)\gamma(t_i). Do đó
∑i(si−γ(si)e)⊗(ti−γ(ti)e)=∑isi⊗ti−∑ie⊗γ(si)ti−∑iγ(ti)si⊗e+∑iγ(si)e⊗γ(ti)e \sum_i (s_i - \gamma(s_i)e) \otimes (t_i - \gamma(t_i)e) = \sum_i s_i \otimes t_i - \sum_i e \otimes \gamma(s_i)t_i \\ - \sum_i \gamma(t_i)s_i \otimes e \\ + \sum_i \gamma(s_i)e \otimes \gamma(t_i)e
mà, theo quan hệ trên, chính là c(e)−e⊗ec(e) - e \otimes e; vậy điều này chứng minh quan hệ thứ nhất của (18). Mặt khác phân tích của E⊗EE \otimes E thành tổng trực tiếp
A(e⊗e)⊕((Ae)⊗Eγ)⊕(Eγ⊗(Ae))⊕(Eγ⊗Eγ) A(e \otimes e) \oplus ((Ae) \otimes E_\gamma) \oplus (E_\gamma \otimes (Ae)) \oplus (E_\gamma \otimes E_\gamma)
cho phép ta viết, với x∈Eγx \in E_\gamma, c(x)=λ(e⊗e)+(e⊗y)+z⊗e)+uc(x) = \lambda(e \otimes e) + (e \otimes y) + z \otimes e) + u trong đó u=∑jvj⊗wj,y,zu = \sum_j v_j \otimes w_j, y, z và các vjv_j và wjw_j thuộc EγE_\gamma. Định nghĩa của đồng đơn vị γ\gamma khi đó cho x=λe+y=λe+zx = \lambda e + y = \lambda e + z và, vì γ(x)=0\gamma(x) = 0, tất yếu λ=0,x=y=z\lambda = 0, x = y = z, do đó có quan hệ thứ hai của (18).

Nhận xét

Cho C là một đối đại số trên A có đồng đơn vị và kết hợp, B là một đại số trên A có đơn vị và kết hợp, và M là một B-môđun trái. Ánh xạ A-song tuyến tính (b,m)↦bm(b, m) \mapsto bm từ B×MB \times M vào M xác định một ánh xạ A-song tuyến tính

Hom⁡A(C,B)×Hom⁡A(C,M)→Hom⁡A(C,M) \operatorname{Hom}_A(C, B) \times \operatorname{Hom}_A(C, M) \to \operatorname{Hom}_A(C, M)
theo thủ tục tổng quát đã được mô tả ở đầu số này. Ngay lập tức kiểm tra được rằng ánh xạ này xác định trên Hom⁡A(C,M)\operatorname{Hom}_A(C, M) một cấu trúc môđun trái trên vành Hom⁡A(C,B)\operatorname{Hom}_A(C, B).

3. Các tính chất của các đối đại số phân bậc kiểu n

Mệnh đề 5

(i) *Cho E là một đối đại số phân bậc thừa nhận một đồng đơn vị γ\gamma; khi đó γ\gamma là một dạng tuyến tính thuần nhất bậc 0.

(ii) Giả sử thêm rằng tồn tại một phần tử e∈Ee \in E sao cho E0=AeE_0 = Ae và γ(e)=1\gamma(e) = 1. Khi đó hạt nhân EγE_\gamma của γ\gamma bằng E+=∑n≥1EnE_+ = \sum_{n \geq 1} E_n, c(e)=e⊗ec(e) = e \otimes e và

c(x)≡x⊗e+e⊗x (mod. E+⊗E+) c(x) \equiv x \otimes e + e \otimes x \ (\text{mod. } E_+ \otimes E_+)
với mọi x∈E+x \in E_+.

(i) Chỉ cần kiểm tra rằng γ(x)=0\gamma(x) = 0 với x∈Enx \in E_n, với mọi n≥1n \geq 1. Vì cc là một đồng cấu phân bậc bậc 0,

c(x)=∑0≤j≤n(∑iyij⊗zi,n−j) c(x) = \sum_{0 \leq j \leq n} \left( \sum_i y_{ij} \otimes z_{i, n-j} \right)

trong đó, với mọi jj sao cho 0≤j≤n0 \leq j \leq n, yijy_{ij} và zijz_{ij} thuộc EjE_j; áp dụng (16) (no. 2) ta được

x=∑0≤j≤n(∑iγ(yij)zi,n−j)=∑0≤j≤n(∑iγ(zi,n−j)yij), x = \sum_{0 \leq j \leq n} \left( \sum_i \gamma(y_{ij}) z_{i, n-j} \right) = \sum_{0 \leq j \leq n} \left( \sum_i \gamma(z_{i, n-j}) y_{ij} \right),

do đó, khi đồng nhất các thành phần bậc 0 và bậc nn ở hai vế

x=∑iγ(yi0)zin=∑iγ(zi0)yin x = \sum_i \gamma(y_{i0}) z_{in} = \sum_i \gamma(z_{i0}) y_{in}
0=∑iγ(yin)zi0=∑iγ(zin)yi0 0 = \sum_i \gamma(y_{in}) z_{i0} = \sum_i \gamma(z_{in}) y_{i0}

và vì thế γ(x)=∑iγ(yin)γ(zi0)=γ(0)=0\gamma(x) = \sum_i \gamma(y_{in}) \gamma(z_{i0}) = \gamma(0) = 0.

(ii) Vì Ker(γ)\mathrm{Ker}(\gamma) và E+E_+ đều là các môđun con bổ sung của Ae=E0Ae = E_0 trong E và E+⊂Ker(γ)E_+ \subset \mathrm{Ker}(\gamma) theo (i), nên E+=Ker(γ)E_+ = \mathrm{Ker}(\gamma) (II, § 1, no. 8, Nhận xét 1); các khẳng định khác suy ra từ Mệnh đề 4 của no. 2.

Mệnh đề 6

Cho E là một đối đại số phân bậc trên A. Điều kiện cần và đủ để, với mọi A-đại số giao hoán B, với phân bậc tầm thường, A-đại số phân bậc kiểu ZHomgrA(E,B)\mathbf{Z} \mathrm{Homgr}_A(E, B) (no. 2) là phản giao hoán (§ 4, no. 9, Định nghĩa 7), là nếu σg\sigma_g ký hiệu tự đẳng cấu của A-môđun E⊗AEE \otimes_A E sao cho

σg(xp⊗xq)=(−1)pqxq⊗xp \sigma_g(x_p \otimes x_q) = (-1)^{pq} x_q \otimes x_p

với xp∈Ep,xq∈Eqx_p \in E_p, x_q \in E_q, trong đó p và q là các phần tử tùy ý của N\mathbf{N}, thì biểu đồ

E↘c↙cE⊗AE→σgE⊗AE \begin{array}{ccc} E & & \\ & \searrow^c & \swarrow^c \\ E \otimes_A E & \xrightarrow{\sigma_g} & E \otimes_A E \end{array}

là giao hoán.

Chứng minh tương tự như chứng minh của Mệnh đề 2 ở no. 2.

Khi đối đại số phân bậc E thỏa mãn điều kiện của Mệnh đề 6, người ta nói rằng nó là phản đối giao hoán.

Ví dụ

Suy ra ngay lập tức từ công thức (8) của no. 1 rằng với mọi A-môđun M, đối đại số phân bậc ⋀(M)\bigwedge(M) là phản đối giao hoán.

4. Song đại số và phản song đại số

Định nghĩa 3

Một song đại số phân bậc (tương ứng, phản song đại số phân bậc) trên một vành A là một tập hợp E được trang bị một cấu trúc A-đại số phân bậc kiểu N\mathbf{N} và một cấu trúc A-đối đại số phân bậc kiểu N\mathbf{N}, với cùng cấu trúc A-môđun phân bậc nền và sao cho:

(1) A-đại số E là kết hợp và có đơn vị.

(2) A-đối đại số E là đối kết hợp và có đồng đơn vị. (3) Đồng tích c:E→E⊗AEc : E \to E \otimes_A E là một đồng cấu của đại số phân bậc E vào đại số phân bậc E⊗AEE \otimes_A E (tương ứng, đại số phân bậc Eg⊗AEE^g \otimes_A E (xem § 4, no. 7)). (4) Đồng đơn vị γ\gamma của E là một đồng cấu của đại số phân bậc E vào đại số A (với phân bậc tầm thường) sao cho, nếu e ký hiệu phần tử đơn vị của A-đại số E, thì γ(e)=1\gamma(e) = 1.

Nếu E là một song đại số phân bậc mà phân bậc là tầm thường, thì E được gọi đơn giản là một song đại số. Một song đại số phân bậc được gọi là giao hoán (tương ứng, đối giao hoán) nếu đại số nền là giao hoán (tương ứng, nếu đối đại số nền là đối giao hoán); một phản song đại số phân bậc được gọi là phản giao hoán (tương ứng, phản đối giao hoán) nếu đại số phân bậc nền là phản giao hoán (tương ứng, nếu đối đại số phân bậc nền là phản đối giao hoán).

Suy ra từ Định nghĩa 3 và no. 2, Mệnh đề 5 rằng, với một song đại số phân bậc hay một phản song đại số phân bậc E,

c(e)=e⊗ec(x)≡x⊗e+e⊗x(mod. E+⊗E+)với x∈E+=⨁n≥1En. c(e) = e \otimes e \\ c(x) \equiv x \otimes e + e \otimes x (\text{mod. } E_+ \otimes E_+) \quad \text{với } x \in E_+ = \bigoplus_{n \geq 1} E_n.

Nếu E và F là hai song đại số phân bậc (tương ứng, hai phản song đại số phân bậc), một ánh xạ ϕ:E→F\phi : E \to F được gọi là một cấu xạ song đại số phân bậc (tương ứng, cấu xạ phản song đại số phân bậc) nếu: (1) ϕ\phi là một cấu xạ đại số phân bậc (và do đó ánh xạ phần tử đơn vị của E lên phần tử đơn vị của F); (2) ϕ\phi là một cấu xạ đối đại số phân bậc sao cho, nếu γ\gamma và γ′\gamma' là các đồng đơn vị tương ứng của E và F, thì γ=γ′∘ϕ\gamma = \gamma' \circ \phi.

Ví dụ

(1) Cho S là một monoit với phần tử đơn vị u, sao cho đại số E=A(S)E = A^{(S)} của monoit S trên A có phần tử đơn vị eue_u (§ 2, no. 6); mặt khác người ta đã thấy rằng E có một cách chính tắc một cấu trúc A-đối đại số đối kết hợp đối giao hoán với một đồng đơn vị γ\gamma sao cho γ(es)=1\gamma(e_s) = 1 với mọi s∈Ss \in S (no. 1, Ví dụ 4 và no. 2, Các ví dụ 4, 5 và 6). Công thức c(es)=es⊗esc(e_s) = e_s \otimes e_s cho đồng tích cũng cho thấy ngay lập tức rằng c là một đồng cấu đại số. Như vậy một cấu trúc song đại số đối giao hoán đã được định nghĩa trên E và E, với cấu trúc này, được gọi là song đại số của monoit S trên A.

Nếu T là một monoit khác với phần tử đơn vị v, f:S→Tf : S \to T là một đồng cấu sao cho f(u)=vf(u) = v và f(A):A(S)→A(T)f_{(A)} : A^{(S)} \to A^{(T)} là đồng cấu A-đại số dẫn xuất từ ff (§ 2, no. 6), thì kiểm tra ngay được rằng f(A)f_{(A)} là một đồng cấu song đại số.

(2) Cho M là một A-môđun. Các cấu trúc A-đại số phân bậc (§ 6, no. 1) và A-đối đại số phân bậc (no. 1, Ví dụ 6) được định nghĩa trên S(M) xác định trên tập hợp này một cấu trúc song đại số phân bậc giao hoán đối giao hoán; vì ta đã thấy (no. 1, Ví dụ 6) rằng đồng tích trên S(M) là một đồng cấu đại số và theo định nghĩa của đồng đơn vị γ\gamma (no. 2, Ví dụ 6) suy ra rằng γ(1)=1\gamma(1) = 1 và γ\gamma là một đồng cấu đại số của E vào A.

(3) Cho M là một A-môđun. Ta thấy như trong Ví dụ 2 rằng các cấu trúc A-đại số phân bậc (§ 7, no. 1) và A-đối đại số phân bậc (no. 1, Ví dụ 7) trên ⋀(M)\bigwedge(M) xác định trên tập hợp này một cấu trúc song đại số phân bậc xiên phản giao hoán phản đối giao hoán.

Nhận xét

Nếu M là một A-môđun sao cho M⊗AM≠{0}M \otimes_A M \neq \{0\}, thì các cấu trúc A-đại số phân bậc (§ 5, no. 1) và A-đối đại số phân bậc (no. 1, Ví dụ 5) trên T(M)T(M) không xác định một cấu trúc song đại số, vì nói chung

c(x1x2y1y2)≠c(x1x2)c(y1y2) c(x_1 x_2 y_1 y_2) \neq c(x_1 x_2) c(y_1 y_2)

đối với bốn phần tử x1,x2,y1,y2x_1, x_2, y_1, y_2 của M, như công thức (3) của no. 1 chỉ ra.

5. Đối ngẫu phân bậc T(M)∗grT(M)^{*gr}, S(M)∗grS(M)^{*gr} và ⋀(M)∗gr\bigwedge(M)^{*gr}

Từ nay trở đi ta quay lại các quy ước tổng quát của chương về các đại số, do đó các đại số ấy sẽ được giả thiết (trừ khi có nói ngược lại) là kết hợp và có đơn vị.

Cho M là một A-môđun; các cấu trúc A-đối đại số phân bậc được định nghĩa trên T(M)T(M) (no. 1, Ví dụ 5), S(M)S(M) (no. 1, Ví dụ 6) và ⋀(M)\bigwedge(M) (no. 1, Ví dụ 7) cho phép ta định nghĩa một cách chính tắc trên các đối ngẫu phân bậc T(M)∗grT(M)^{*gr}, S(M)∗grS(M)^{*gr} và ⋀(M)∗gr\bigwedge(M)^{*gr} các cấu trúc đại số phân bậc kiểu N, theo no. 2, Mệnh đề 1 và 3 và quy ước đã đặt về sự phân bậc của đối ngẫu phân bậc của một môđun phân bậc (no. 1). Hơn nữa, đại số phân bậc S(M)∗grS(M)^{*gr} là giao hoán (no. 2, Mệnh đề 2 and Ví dụ 5) và đại số phân bậc ⋀(M)∗gr\bigwedge(M)^{*gr} là phản giao hoán (no. 3, Mệnh đề 6 and Ví dụ). Trong ⋀(M)∗gr\bigwedge(M)^{*gr} mọi phần tử bậc 1 đều có bình phương bằng không; một phần tử như vậy được đồng nhất với một dạng tuyến tính ff trên M và bình phương của nó là dạng song tuyến tính phản xứng f∧ff \wedge f trên M2M^2 sao cho

(f∧f)(x,y)=f(x)f(y)−f(y)f(x) (f \wedge f)(x, y) = f(x) f(y) - f(y) f(x)

(no. 2, Ví dụ 3).

Cho N là một A-môđun khác và uu là một ánh xạ A-tuyến tính từ M vào N. Ta biết rằng uu xác định một cách chính tắc các đồng cấu đại số phân bậc

{T(u):T(M)→T(N)S(u):S(M)→S(N)⋀(u):⋀(M)→⋀(N) \begin{cases} T(u): T(M) \to T(N) \\ S(u): S(M) \to S(N) \\ \bigwedge(u): \bigwedge(M) \to \bigwedge(N) \end{cases}

(§ 5, no. 2, § 6, no. 2 and § 7, no. 2). Kiểm tra ngay lập tức trong công thức (3) của no. 1 rằng T(u)T(u) cũng là một cấu xạ đối đại số. Mặt khác, nếu ΔM\Delta_M (resp. ΔN\Delta_N) ký hiệu ánh xạ đường chéo M→M×MM \to M \times M (resp. N→N×NN \to N \times N), thì có quan hệ (u×u)∘ΔM=ΔN∘u(u \times u) \circ \Delta_M = \Delta_N \circ u; suy ra rằng S(u×u)∘S(ΔM)=S(ΔN)∘S(u)S(u \times u) \circ S(\Delta_M) = S(\Delta_N) \circ S(u)

(resp. Λ(u×u)∘Λ(ΔM)=Λ(ΔN)∘Λ(u)\Lambda(u \times u) \circ \Lambda(\Delta_M) = \Lambda(\Delta_N) \circ \Lambda(u)).

Dùng định nghĩa của đồng tích trong S(M)S(M) và Λ(M)\Lambda(M) (no. 1, Examples 6 and 7) và tính chất hàm tử của các đẳng cấu chính tắc

S(M×M)→S(M)⊗AS(M) S(M \times M) \to S(M) \otimes_A S(M)

và Λ(M×M)→Λ(M)g⊗AΛ(M)\Lambda(M \times M) \to \Lambda(M)^{\text{g}} \otimes_A \Lambda(M), ta thấy rằng S(u)S(u) và Λ(u)\Lambda(u) cũng là các cấu xạ đối đại số† (và do đó trong trường hợp này là các cấu xạ song đại số). Ngay lập tức suy ra rằng các chuyển vị phân bậc (II, § 11, no. 6) của các đồng cấu (23)

tT(u):T(N)∗gr→T(M)∗grtS(u):S(N)∗gr→S(M)∗grtΛ(u):Λ(N)∗gr→Λ(M)∗gr \begin{align*} tT(u): T(N)^{*gr} &\to T(M)^{*gr} \\ tS(u): S(N)^{*gr} &\to S(M)^{*gr} \\ t\Lambda(u): \Lambda(N)^{*gr} &\to \Lambda(M)^{*gr} \end{align*}

là các đồng cấu đại số phân bậc.

Bây giờ ta nhận thấy rằng đối ngẫu M∗M^* của MM được đồng nhất với môđun con gồm các phần tử bậc 1 trong T(M)∗grT(M)^{*gr} (resp. S(M)∗grS(M)^{*gr}, Λ(M)∗gr\Lambda(M)^{*gr}). Do đó từ tính chất phổ quát của đại số tenxơ (§ 5, no. 1) và tính chất phổ quát của đại số đối xứng (§ 6, no. 1) suy ra rằng tồn tại duy nhất một đồng cấu đại số phân bậc

θT:T(M∗)→T(M)∗gr \theta_T: T(M^*) \to T(M)^{*gr}

phần mở rộng của đơn ánh chính tắc M∗→T(M)∗grM^* \to T(M)^{*gr}, và duy nhất một đồng cấu đại số phân bậc

θS:S(M∗)→S(M)∗gr \theta_S: S(M^*) \to S(M)^{*gr}

phần mở rộng của đơn ánh chính tắc M∗→S(M)∗grM^* \to S(M)^{*gr}. Mặt khác, đơn ánh chính tắc của M∗M^* vào đại số đối của Λ(M)∗gr\Lambda(M)^{*gr} có tính chất là bình phương của mọi phần tử của M∗M^* đều bằng không; do đó (§ 7, no. 1, Mệnh đề 1) tồn tại duy nhất một đồng cấu đại số phân bậc

θΛ:Λ(M∗)→(Λ(M)∗gr)0 \theta_\Lambda: \Lambda(M^*) \to (\Lambda(M)^{*gr})^0

phần mở rộng của đơn ánh chính tắc M∗→Λ(M)∗grM^* \to \Lambda(M)^{*gr}.‡ Các đồng cấu này

† Điều này cũng suy ra từ các công thức (5) và (9) của no. 1. ‡ Đơn ánh này được mở rộng thành một đồng cấu vào đại số đối của Λ(M)∗gr\Lambda(M)^{*gr} thay vì một đồng cấu vào Λ(M)∗gr\Lambda(M)^{*gr} vì lý do thuận tiện trong các phép tính.

là hàm tử: chẳng hạn, với mọi đồng cấu A-môđun u:M→Nu : M \to N, biểu đồ

T(N∗)→T(tu)T(M∗)θT↓θT↓T(N)∗gr→tT(n)T(M)∗gr \begin{array}{ccc} T(N^*) & \xrightarrow{T(tu)} & T(M^*) \\ \theta_T \downarrow & & \theta_T \downarrow \\ T(N)^{*gr} & \xrightarrow{t_{T(n)}} & T(M)^{*gr} \end{array}

là giao hoán, như suy ra ngay lập tức từ tính chất phổ quát của đại số tenxơ (§ 5, no. 1); có các biểu đồ giao hoán tương tự đối với θS\theta_S và θ∧\theta_\wedge.

Ta sẽ xác định các đồng cấu θT,θS\theta_T, \theta_S và θ∧\theta_\wedge một cách tường minh. Vì mục đích đó, ta xét tổng quát hơn một A-đối đại số đối kết hợp EE với đồng tích cc và định nghĩa bằng quy nạp theo nn, với n≥2n \geq 2, ánh xạ tuyến tính cnc_n từ EE vào E⊗nE^{\otimes n} bởi c2=cc_2 = c và

cn=(cn−1⊗1E)∘c. c_n = (c_{n-1} \otimes 1_E) \circ c.
Mặt khác ta ký hiệu bởi mn:A⊗n→Am_n : A^{\otimes n} \to A ánh xạ tuyến tính chính tắc sao cho mn(ξ1⊗ξ2⊗⋯⊗ξn)=ξ1ξ2⋯ξnm_n(\xi_1 \otimes \xi_2 \otimes \cdots \otimes \xi_n) = \xi_1 \xi_2 \cdots \xi_n và chú ý rằng, với n≥2n \geq 2,
mn=m∘(mn−1⊗1A) m_n = m \circ (m_{n-1} \otimes 1_A)
trong đó viết m=m2m = m_2. Với ký hiệu này:

Bổ đề 1

(i) Trong đại số kết hợp E∗=HomA(E,A)E^* = \mathrm{Hom}_A(E, A), tích của nn phần tử u1,u2,…,unu_1, u_2, \ldots, u_n bậc 1 được cho bởi

u1u2…un=mn∘(u1⊗u2⊗⋯⊗un)∘cn. u_1 u_2 \ldots u_n = m_n \circ (u_1 \otimes u_2 \otimes \cdots \otimes u_n) \circ c_n.
(ii) Giả sử thêm rằng đối đại số EE là phân bậc. Khi đó, trong đại số kết hợp phân bậc E∗gr=HomgrA(E,A)E^{*gr} = \mathrm{Homgr}_A(E, A), tích của nn phần tử u1,u2,…,unu_1, u_2, \ldots, u_n bậc 1 được cho bởi
u1u2…un=mn∘(u1⊗u2⊗⋯⊗un)∘δn u_1 u_2 \ldots u_n = m_n \circ (u_1 \otimes u_2 \otimes \cdots \otimes u_n) \circ \delta_n
*trong đó δn:E→E⊗n\delta_n : E \to E^{\otimes n} là ánh xạ tuyến tính biến mỗi x∈Ex \in E thành thành phần của cn(x)c_n(x) có đa bậc (1,1,…,1)(1, 1, \ldots, 1).

Công thức (26) chính là định nghĩa của tích trong E∗E^* đối với n=2n = 2; để chứng minh nó bằng quy nạp theo nn, hãy nhận thấy rằng

u1u2…un u_1 u_2 \ldots u_n
=m∘((u1u2…un−1)⊗un)∘c = m \circ ((u_1 u_2 \ldots u_{n-1}) \otimes u_n) \circ c
=m∘((mn−1∘(u1⊗u2⊗⋯⊗un−1)∘cn−1)⊗un)∘c = m \circ ((m_{n-1} \circ (u_1 \otimes u_2 \otimes \cdots \otimes u_{n-1}) \circ c_{n-1}) \otimes u_n) \circ c
=m∘(mn−1⊗1A)∘(u1⊗u2⊗⋯⊗un−1⊗un)∘(cn−1⊗1E)∘c = m \circ (m_{n-1} \otimes 1_A) \circ (u_1 \otimes u_2 \otimes \cdots \otimes u_{n-1} \otimes u_n) \circ (c_{n-1} \otimes 1_E) \circ c
=mn∘(u1⊗u2⊗⋯⊗un)∘cn = m_n \circ (u_1 \otimes u_2 \otimes \cdots \otimes u_n) \circ c_n
do (24), (25), II, § 3, no. 3, công thức (5) và hệ thức
un=1A∘un∘1E∗. u_n = 1_A \circ u_n \circ 1_{E^*}.

Khi E là phân bậc và các phần tử ui∈E∗gru_i \in E^{*gr} thuần nhất bậc 1, thì theo định nghĩa đối với các phần tử thuần nhất xi∈Ex_i \in E,

(u1⊗u2⊗⋯⊗un)(x1⊗x2⊗⋯⊗xn)=0 (u_1 \otimes u_2 \otimes \cdots \otimes u_n)(x_1 \otimes x_2 \otimes \cdots \otimes x_n) = 0

trừ khi mọi xix_i đều có bậc 1, do đó có công thức (27).

Từ các công thức (3), (5) và (7) của no. 1 và công thức (24) suy ra rằng khi lấy E là một trong ba đối đại số phân bậc T(M)\mathbf{T}(M), S(M)\mathbf{S}(M) và Λ(M)\mathbf{\Lambda}(M), ta lần lượt thu được bằng quy nạp theo nn (dùng sự kiện rằng đồng tích là một đồng cấu phân bậc bậc 0), đối với x1,x2,…,xnx_1, x_2, \ldots, x_n trong M:

khi E=T(M)E = \mathbf{T}(M),

δn(x1x2⋯xn)=x1⊗x2⊗⋯⊗xn \delta_n(x_1 x_2 \cdots x_n) = x_1 \otimes x_2 \otimes \cdots \otimes x_n

khi E=S(M)E = \mathbf{S}(M),

δn(x1x2⋯xn)=∑σ∈Snxσ(1)⊗xσ(2)⊗⋯⊗xσ(n) \delta_n(x_1 x_2 \cdots x_n) = \sum_{\sigma \in \mathfrak{S}_n} x_{\sigma(1)} \otimes x_{\sigma(2)} \otimes \cdots \otimes x_{\sigma(n)}

khi E=Λ(M)E = \mathbf{\Lambda}(M),

δn(x1x2⋯xn)=∑σ∈Snεσ⋅xσ(1)⊗xσ(2)⊗⋯⊗xσ(n). \delta_n(x_1 x_2 \cdots x_n) = \sum_{\sigma \in \mathfrak{S}_n} \varepsilon_\sigma \cdot x_{\sigma(1)} \otimes x_{\sigma(2)} \otimes \cdots \otimes x_{\sigma(n)}.

Chỉ cần chú ý, chẳng hạn khi E=Λ(M)E = \mathbf{\Lambda}(M), rằng trong biểu thức

cn(x1x2⋯xn)=(cn−1⊗1E)(∑(−1)v(xi1…xip)⊗(xj1…xjn−p)) c_n(x_1 x_2 \cdots x_n) = (c_{n-1} \otimes 1_E) \left( \sum (-1)^v (x_{i_1} \ldots x_{i_p}) \otimes (x_{j_1} \ldots x_{j_{n-p}}) \right)
xuất hiện từ công thức (8) của no. 1, các số hạng duy nhất có thể cho một số hạng có đa bậc (1,1,…,1)(1, 1, \ldots, 1) là những số hạng mà n−p=1n - p = 1 và do đó
δn(x1x2⋯xn) \delta_n(x_1 x_2 \cdots x_n)
là số hạng có đa bậc (1,1,…,1)(1, 1, \ldots, 1) trong tổng
∑i=1n(−1)n−icn−1(x1…xi−1xi+1…xn)⊗xi \sum_{i=1}^n (-1)^{n-i} c_{n-1}(x_1 \ldots x_{i-1} x_{i+1} \ldots x_n) \otimes x_i
và số hạng này tất yếu bằng
∑i=1n(−1)n−iδn−1(x1…xi−1xi+1…xn)⊗xi, \sum_{i=1}^n (-1)^{n-i} \delta_{n-1}(x_1 \ldots x_{i-1} x_{i+1} \ldots x_n) \otimes x_i,
do đó có kết quả theo giả thiết quy nạp.

Dùng Bổ đề 1, tích trong T(M)∗gr\mathbf{T}(M)^{*gr} của nn dạng tuyến tính x1∗,x2∗,…,xn∗x_1^*, x_2^*, \ldots, x_n^* của M∗M^* được cho bởi

⟨x1∗x2∗…xn∗,x1x2…xn⟩=∏i=1n⟨xi∗,xi⟩ \langle x_1^* x_2^* \ldots x_n^*, x_1 x_2 \ldots x_n \rangle = \prod_{i=1}^n \langle x_i^*, x_i \rangle
với xi∈Mx_i \in M (1≤i≤n1 \leq i \leq n); tích của nn dạng này trong S(M)∗gr\mathbf{S}(M)^{*gr} được cho bởi

⟨x1∗x2∗…xn∗,x1x2…xn⟩=∑σ∈Sn(∏i=1n⟨xσ(i)∗,xi⟩); \langle x_1^* x_2^* \ldots x_n^*, x_1 x_2 \ldots x_n \rangle = \sum_{\sigma \in \mathfrak{S}_n} \left( \prod_{i=1}^n \langle x_{\sigma(i)}^*, x_i \rangle \right);

sau cùng, tích của các dạng này trong ⋀(M)∗gr\bigwedge(M)^{*gr} được cho bởi

⟨x1∗x1∗…xn∗,x1x2…xn⟩=det⁡(⟨xi∗,xj⟩). \langle x_1^* x_1^* \ldots x_n^*, x_1 x_2 \ldots x_n \rangle = \det(\langle x_i^*, x_j \rangle).
Trong mỗi trường hợp trong ba trường hợp ấy, ta có tương ứng
θT(x1∗⊗x2∗⊗…⊗xn∗)=x1∗x2∗…xn∗ \theta_T(x_1^* \otimes x_2^* \otimes \ldots \otimes x_n^*) = x_1^* x_2^* \ldots x_n^*
θS(x1∗x2∗…xn∗)=x1∗x2∗…xn∗ \theta_S(x_1^* x_2^* \ldots x_n^*) = x_1^* x_2^* \ldots x_n^*
θΛ(x1∗∧x2∗∧⋯∧xn∗)=xn∗xn−1∗…x1∗=(−1)n(n−1)/2x1∗x2∗…xn∗ \theta_\Lambda(x_1^* \wedge x_2^* \wedge \cdots \wedge x_n^*) = x_n^* x_{n-1}^* \ldots x_1^* = (-1)^{n(n-1)/2} x_1^* x_2^* \ldots x_n^*
và do đó ta suy ra từ (28), (29) và (30) các hệ thức
(28 bis)⟨θT(x1∗⊗x2∗⊗⋯⊗xn∗),x1⊗x2⊗⋯⊗xn⟩=∏i=1n⟨xi∗,xi⟩(28\ \mathrm{bis})\quad \langle \theta_T(x_1^* \otimes x_2^* \otimes \cdots \otimes x_n^*), x_1 \otimes x_2 \otimes \cdots \otimes x_n \rangle = \prod_{i=1}^n \langle x_i^*, x_i \rangle
(nói cách khác θT\theta_T hạn chế trên T2(M∗)T^2(M^*) chỉ là đồng cấu chính tắc của II, § 4, no. 4)
(29 bis)⟨θS(x1∗x2∗…xn∗),x1x2…xn⟩=∑σ∈Sn(∏i=1n⟨xσ(i)∗,xi⟩)(29\ \mathrm{bis})\quad \langle \theta_S(x_1^* x_2^* \ldots x_n^*), x_1 x_2 \ldots x_n \rangle = \sum_{\sigma \in S_n} \left( \prod_{i=1}^n \langle x_{\sigma(i)}^*, x_i \rangle \right)
(30 bis)⟨θΛ(x1∗∧x2∗∧⋯∧xn∗),x1∧x2∧⋯∧xn⟩(30\ \mathrm{bis})\quad \langle \theta_\Lambda(x_1^* \wedge x_2^* \wedge \cdots \wedge x_n^*), x_1 \wedge x_2 \wedge \cdots \wedge x_n \rangle
=(−1)n(n−1)/2det⁡(⟨xi∗,xj⟩). = (-1)^{n(n-1)/2} \det(\langle x_i^*, x_j \rangle).

Mệnh đề 7

Cho M là một A-môđun xạ ảnh sinh hữu hạn. Khi đó các đồng cấu chính tắc θT:T(M∗)→T(M)∗gr\theta_T : T(M^*) \to T(M)^{*gr} và θΛ:⋀(M∗)→(⋀(M)∗gr)0\theta_\Lambda : \bigwedge(M^*) \to (\bigwedge(M)^{*gr})^0 là song ánh. Hơn nữa, đối ngẫu phân bậc ⋀(M)∗gr\bigwedge(M)^{*gr} khi đó bằng đối ngẫu ⋀(M)∗\bigwedge(M)^* của A-môđun ⋀(M)\bigwedge(M).

Trước hết giả sử rằng M có một cơ sở hữu hạn (ei)1≤i≤m(e_i)_{1 \leq i \leq m} và gọi (ei∗)1≤i≤m(e_i^*)_{1 \leq i \leq m} là cơ sở đối ngẫu của M∗M^* (II, § 10, no. 4). Công thức (28 bis) cho thấy rằng, với mọi dãy hữu hạn s=(jk)1≤k≤ns = (j_k)_{1 \leq k \leq n} gồm n phần tử của khoảng [1,m][1, m] của N\mathbf{N},

θT(ej1∗⊗⋯⊗ejn∗) \theta_T(e_{j_1}^* \otimes \cdots \otimes e_{j_n}^*)
là phần tử chỉ số s trong cơ sở của (Tn(M))∗(T^n(M))^*, đối ngẫu với cơ sở của Tn(M)T^n(M) gồm các es=ej1⊗⋯⊗ejne_s = e_{j_1} \otimes \cdots \otimes e_{j_n} (§ 5, no. 5, Định lý 1). Do đó θT\theta_T là song ánh.

Tương tự, công thức (30 bis) cho thấy rằng, với mọi tập con hữu hạn H của [1,m][1, m] có n phần tử, (−1)n(n−1)/2θΛ(eH∗)(-1)^{n(n-1)/2} \theta_\Lambda(e_H^*) (ký hiệu của § 7, no. 8, Định lý 1) là phần tử chỉ số H trong cơ sở của (⋀n(M))∗(\bigwedge^n(M))^*, đối ngẫu với cơ sở của ⋀n(M)\bigwedge^n(M) gồm các eHe_H. Do đó θΛ\theta_\Lambda là song ánh.

Bây giờ chỉ giả sử rằng M là sinh hữu hạn và xạ ảnh; khi đó M là một nhân tử trực tiếp của một A-môđun tự do sinh hữu hạn L, nên tồn tại hai

ánh xạ A-tuyến tính M→jL→pMM \xrightarrow{j} L \xrightarrow{p} M mà hợp thành của chúng là đồng nhất thức lMl_M. Ta suy ra một biểu đồ giao hoán

T(M∗)→T(tj)T(L∗)θT↓θT↓T(M)∗gr→tT(j)T(L)∗gr \begin{array}{ccc} T(M^*) & \xrightarrow{T(tj)} & T(L^*) \\ \theta_T \downarrow & & \theta_T \downarrow \\ T(M)^{*gr} & \xrightarrow{tT(j)} & T(L)^{*gr} \end{array}
T(L∗)→T(tp)T(M∗)θT↓θT↓T(L)∗gr→tT(p)T(M)∗gr \begin{array}{ccc} T(L^*) & \xrightarrow{T(tp)} & T(M^*) \\ \theta_T \downarrow & & \theta_T \downarrow \\ T(L)^{*gr} & \xrightarrow{tT(p)} & T(M)^{*gr} \end{array}

và một biểu đồ giao hoán tương tự khi thay TT bằng Λ\Lambda. Khi đó mệnh đề suy ra từ bổ đề sau:

Bổ đề 2

Cho

X→uY→vXf↓g↓f↓X′→u′Y′→v′X′ \begin{array}{ccccc} X & \xrightarrow{u} & Y & \xrightarrow{v} & X \\ f \downarrow & & g \downarrow & & f \downarrow \\ X' & \xrightarrow{u'} & Y' & \xrightarrow{v'} & X' \end{array}

hãy là một biểu đồ giao hoán của các tập hợp và các ánh xạ sao cho v∘uv \circ u và v′∘u′v' \circ u' lần lượt là các ánh xạ đồng nhất của XX và X′X' . Khi đó, nếu gg là đơn ánh (resp. toàn ánh, resp. song ánh) thì ff cũng vậy.

uu là đơn ánh vì v∘uv \circ u là đơn ánh; do đó, nếu gg là đơn ánh thì u′∘f=g∘uu' \circ f = g \circ u là đơn ánh và vì vậy ff là đơn ánh. Tương tự, v′v' là toàn ánh vì v′∘u′v' \circ u' là toàn ánh; do đó, nếu gg là toàn ánh thì f∘v=v′∘gf \circ v = v' \circ g là toàn ánh và vì vậy ff là toàn ánh.

Khẳng định cuối cùng của Mệnh đề 7 suy ra từ sự kiện rằng Λ(M)\Lambda(M) khi đó là một A-môđun hữu hạn sinh (§ 7, no. 3, Mệnh đề 6 và II, § 11, no. 6, Nhận xét).

Bây giờ ta khảo sát điều có thể nói về đồng cấu θS\theta_S khi MM là xạ ảnh và sinh hữu hạn. Trước hết giả sử rằng MM thừa nhận một cơ sở hữu hạn (ei)1≤i≤m(e_i)_{1 \leq i \leq m}. Theo ký hiệu ở đầu chương, A-môđun Sn(M)S^n(M) có họ các phần tử eαe^\alpha với ∣α∣=n|\alpha| = n làm cơ sở. Gọi uαu_\alpha (với ∣α∣=n|\alpha| = n) là phần tử có chỉ số α\alpha trong cơ sở của (Sn(M))∗(S^n(M))^* đối ngẫu với (eα)(e^\alpha). Vậy các phần tử uαu_\alpha, với α∈Nm\alpha \in \mathbf{N}^m, lập thành một cơ sở của đại số S(M)∗grS(M)^{*gr} và ta sẽ xác định bảng phép nhân của cơ sở này một cách tường minh. Ta viết

uαuβ=∑γ∈Nmaαβγuγwith aαβγ∈A. u_\alpha u_\beta = \sum_{\gamma \in \mathbf{N}^m} a_{\alpha \beta \gamma} u_\gamma \quad \text{with } a_{\alpha \beta \gamma} \in A.

Khi đó, theo định nghĩa,

aαβγ=⟨uαuβ,eγ⟩=m((uα⊗uβ)(c(eγ))), a_{\alpha \beta \gamma} = \langle u_\alpha u_\beta, e^\gamma \rangle = m((u_\alpha \otimes u_\beta)(c(e^\gamma))),

trong đó m:A⊗A→Am : A \otimes A \to A xác định phép nhân trên AA và cc là đồng tích của S(M)S(M). Nói cách khác, aαβγa_{\alpha \beta \gamma} chính là hệ số của eα⊗eβe^\alpha \otimes e^\beta khi c(eγ)c(e^\gamma) được viết theo cơ sở của S(M)⊗S(M)S(M) \otimes S(M) gồm các eξ⊗eηe^\xi \otimes e^\eta, trong đó ξ\xi và η\eta chạy qua Nm\mathbf{N}^m. Nhưng vì cc là một đồng cấu đại số,

c(eγ)=∏i=1m(c(ei))ri=∏i=1m(ei⊗1+1⊗ei)ri c(e^\gamma) = \prod_{i=1}^m (c(e_i))^{r_i} = \prod_{i=1}^m (e_i \otimes 1 + 1 \otimes e_i)^{r_i}

theo công thức (4) của no. 1; do đó

(31)

c(eγ)=∑ξ+η=γ(ξ,η)eξ⊗eη c(e^\gamma) = \sum_{\xi + \eta = \gamma} (\xi, \eta) e^\xi \otimes e^\eta
trong đó ta viết

(32)

((ξ,η))=∏i=1n(ξi+ηi)!ξi!ηi!(cf. § 10, no. 4, formula (18)). ((\xi, \eta)) = \prod_{i=1}^n \frac{(\xi_i + \eta_i)!}{\xi_i! \eta_i!} \quad \text{(cf. § 10, no. 4, formula (18))}.
Vì thế ta thu được bảng phép nhân

(33)

uαuβ=((α,β))uα+β. u_\alpha u_\beta = ((\alpha, \beta)) u_{\alpha + \beta}.
Mặt khác, nếu (ei∗)1≤i≤m(e_i^*)_{1 \leq i \leq m} là cơ sở của M∗M^*, đối ngẫu với (ei)(e_i), thì từ công thức (29 bis) suy ra rằng, với mọi α∈Nm\alpha \in \mathbf{N}^m,

(34)

θS(e∗α)=α!uα \theta_S(e^{*\alpha}) = \alpha! u_\alpha
theo ký hiệu của § 6, no. 6. Do đó đồng cấu θS\theta_S là song ánh khi và chỉ khi các α!uα\alpha! u_\alpha lập thành một cơ sở của S(M)∗grS(M)^{*gr}, hay cũng tương đương với việc các phần tử α!1\alpha! 1 là khả nghịch.

Mệnh đề 8

Giả sử rằng vành AA là một đại số trên trường Q\mathbf{Q} các số hữu tỉ; khi đó, với mọi AA-môđun xạ ảnh sinh hữu hạn MM, đồng cấu

θS:S(M∗)→S(M)∗gr \theta_S : S(M^*) \to S(M)^{*gr}
là song ánh.

Điều này quy về việc chứng minh khi MM sinh hữu hạn và tự do; ta chuyển từ đó sang trường hợp tổng quát bằng cách dùng Bổ đề 2 như trong chứng minh của Mệnh đề 7.

Nhận xét

Cho MM là một AA-môđun và ρ:A→B\rho : A \to B một đồng cấu vành giao hoán. Khi đó có một biểu đồ giao hoán các đồng cấu đại số trên BB phân bậc

T((M∗)(B))⟶(T(M)∗gr)(B)↓T(uM)↓uT(M)T((M(B))∗)→θTT(M(B))∗gr \begin{array}{ccc} T((M^*)_{(B)}) & \longrightarrow & (T(M)^{*gr})_{(B)} \\ \downarrow_{T(u_M)} & & \downarrow^{u_{T(M)}} \\ T((M_{(B)})^*) & \xrightarrow{\theta_T} & T(M_{(B)})^{*gr} \end{array}

trong đó hàng thứ nhất là một đồng cấu là hợp thành của đồng cấu θT⊗1B:T(M∗)⊗AB→T(M)∗gr\theta_T \otimes 1_B : T(M^*) \otimes_A B \to T(M)^{*gr} và đẳng cấu chính tắc

T((M∗)(B))→T(M∗)⊗AB T((M^*)_{(B)}) \to T(M^*) \otimes_A B

§ 5, no. 3, Mệnh đề 5). Người ta kiểm tra ngay lập tức, dùng công thức (28) và định nghĩa của đồng cấu vEv_E (II, § 5, no. 4), rằng biểu đồ này là giao hoán. Khi M là một A-môđun xạ ảnh sinh hữu hạn, M(B)M_{(B)} là một B-môđun xạ ảnh sinh hữu hạn (II, § 5, no. 1, Hệ quả của Mệnh đề 4) và mọi đồng cấu của biểu đồ trên đều song ánh (Mệnh đề 7 và II, § 5, no. 4, Mệnh đề 8). Có các biểu đồ giao hoán tương tự với T được thay bằng S hoặc Λ\Lambda; biểu đồ đối với Λ\Lambda cũng gồm các đồng cấu song ánh khi M xạ ảnh và sinh hữu hạn (Mệnh đề 7); hơn nữa nếu A là một đại số trên Q\mathbf{Q}, thì biểu đồ đối với S cũng gồm các đồng cấu song ánh (Mệnh đề 8).

6. Tích nội: trường hợp các đại số

Cho E=⨁p≥0EpE = \bigoplus_{p \geq 0} E_p là một A-đại số phân bậc kiểu N\mathbf{N} và P một A-môđun phân bậc kiểu Z\mathbf{Z}; với mọi phần tử thuần nhất x∈Epx \in E_p, phép nhân trái bởi x là một ánh xạ A-tuyến tính e(x)e(x) của E vào chính nó, ánh xạ này phân bậc bậc p. Với mọi phần tử u∈HomgrA(E,P)u \in \mathrm{Homgr}_A(E, P), tích nội phải của u bởi x, ký hiệu là u⊥xu \perp x, là phần tử u∘e(x)u \circ e(x) của HomgrA(E,P)\mathrm{Homgr}_A(E, P). Ta cũng viết (i(x))(u)=u⊥x(i(x))(u) = u \perp x và thấy rằng i(x)i(x) là một tự đồng cấu phân bậc bậc p của A-môđun phân bậc HomgrA(E,P)\mathrm{Homgr}_A(E, P). Nếu bây giờ x=∑p≥0xpx = \sum_{p \geq 0} x_p là một phần tử tùy ý của E (với xp∈Epx_p \in E_p với mọi p≥0p \geq 0, xp=0x_p = 0 trừ ra đối với một số hữu hạn giá trị của pp), ta viết i(x)=∑p=0∞i(xp)i(x) = \sum_{p=0}^\infty i(x_p), do đó đây là một tự đồng cấu của A-môđun HomgrA(E,P)\mathrm{Homgr}_A(E, P).

Để nhớ xem phần tử nào, trong biểu thức u⊥xu \perp x, "tác động" lên phần tử kia, hãy nhận thấy rằng phần tử x, cái "tác động" lên u, được đặt ở đầu tự do của nét ngang trong ⊥\perp.

Tính kết hợp của đại số E dẫn tới quan hệ e(xy)=e(x)∘e(y)e(xy) = e(x) \circ e(y) đối với x,yx, y thuần nhất; do đó, theo định nghĩa của i(x)i(x),

i(xy)=i(y)∘i(x) i(xy) = i(y) \circ i(x)

trước hết đối với x,yx, y thuần nhất rồi sau đó, do tính tuyến tính, đối với x,yx, y tùy ý trong E; điều này cũng có thể viết thành

(u⊥x)⊥y=u⊥(xy) (u \perp x) \perp y = u \perp (xy)

đối với x,yx, y trong E và u∈HomgrA(E,P)u \in \mathrm{Homgr}_A(E, P); mặt khác, vì rõ ràng i(1)i(1) là ánh xạ đồng nhất (vì điều này suy ra từ e(1)=1Ee(1) = 1_E) và x↦i(x)x \mapsto i(x) là A-tuyến tính, nên thấy rằng phép toán ngoài hợp thành (x,u)↦u⊥x(x, u) \mapsto u \perp x (x∈E,u∈HomgrA(E,P)x \in E, u \in \mathrm{Homgr}_A(E, P)), cùng với phép cộng, xác định một cấu trúc E-môđun phải trên HomgrA(E,P)\mathrm{Homgr}_A(E, P).

Đặc biệt ta xét trường hợp P=AP = A, khi đó HomgrA(E,P)\mathrm{Homgr}_A(E, P) là đối ngẫu phân bậc E∗grE^{*gr} của EE; khi đó i(x)i(x) là chuyển vị phân bậc của ánh xạ AA-tuyến tính e(x)e(x) (II, § 11, no. 6), nói cách khác, với mọi x,yx, y trong EE, u∈E∗gru \in E^{*gr},

⟨u⊔x,y⟩=⟨u,xy⟩. \langle u \sqcup x, y \rangle = \langle u, xy \rangle.

Theo quy ước ở đầu đoạn này, chú ý rằng, nếu x∈Epx \in E_p, thì i(x)i(x) là một tự đồng cấu của E∗grE^{*gr} bậc −p-p.

Với mọi phần tử thuần nhất x∈Epx \in E_p, phép nhân phải bởi xx cũng được ký hiệu bởi e′(x)e'(x) và phần tử u∘e′(x)u \circ e'(x) của HomgrA(E,P)\mathrm{Homgr}_A(E, P), được gọi là tích nội trái của u bởi x, được ký hiệu bởi x⊔ux \sqcup u; ta viết i′(x)=x⊔ui'(x) = x \sqcup u và do đó i′(x)i'(x) là một tự đồng cấu phân bậc của HomgrA(E,P)\mathrm{Homgr}_A(E, P) có bậc pp; như trên, định nghĩa này có thể được mở rộng sang trường hợp xx là một phần tử tùy ý của EE. Vì trong trường hợp này e′(xy)=e′(y)e′(x)e'(xy) = e'(y)e'(x),

i′(xy)=i′(x)∘i′(y) i'(xy) = i'(x) \circ i'(y)

điều này cũng có thể được viết

x⊔(y⊔u)=(xy)⊔u x \sqcup (y \sqcup u) = (xy) \sqcup u

và cho thấy rằng phép toán ngoài hợp thành (x,u)↦x⊔u(x, u) \mapsto x \sqcup u xác định, cùng với phép cộng, một cấu trúc E-môđun trái trên HomgrA(E,P)\mathrm{Homgr}_A(E, P). Mặt khác, tính kết hợp của EE kéo theo e(x)∘e′(y)=e′(y)∘e(x)e(x) \circ e'(y) = e'(y) \circ e(x) với x,yx, y thuần nhất trong EE, do đó có quan hệ

(y⊔u)⊔x=y⊔(u⊔x) (y \sqcup u) \sqcup x = y \sqcup (u \sqcup x)

nên hai phép toán ngoài hợp thành trên HomgrA(E,P)\mathrm{Homgr}_A(E, P) xác định trên tập hợp này một cấu trúc (E, E)-*song môđun* (II, § 1, no. 14).

Khi ta lấy P=AP = A, i′(x)i'(x) là chuyển vị phân bậc của e′(x)e'(x); nói cách khác, với mọi x,yx, y trong EE, u∈E∗gru \in E^{*gr},

⟨y,x⊔u⟩=⟨yx,u⟩. \langle y, x \sqcup u \rangle = \langle yx, u \rangle.

Khi đại số phân bậc EE là giao hoán, hiển nhiên u⊔x=x⊔uu \sqcup x = x \sqcup u. Khi EE là phản giao hoán và P=AP = A, thì với x∈Epx \in E_p, y∈Ery \in E_r và u∈Eq∗u \in E_q^*, yx=(−1)prxyyx = (-1)^{pr} xy, do đó, theo (37) và (41), ⟨u⊔x,y⟩=(−1)pr⟨y,x⊔u⟩\langle u \sqcup x, y \rangle = (-1)^{pr} \langle y, x \sqcup u \rangle. Nhưng vì hai vế của quan hệ này đều bằng không trừ khi r=q−pr = q - p,

x⊔u=(−1)p(q−p)u⊔x. x \sqcup u = (-1)^{p(q-p)} u \sqcup x.

Cho FF là một đại số AA phân bậc khác và ϕ:E→F\phi : E \to F một đồng cấu AA của các đại số phân bậc; khi đó ϕ~=Hom(ϕ,1P):HomgrA(F,P)→HomgrA(E,P)\tilde{\phi} = \mathrm{Hom}(\phi, 1_P) : \mathrm{Homgr}_A(F, P) \to \mathrm{Homgr}_A(E, P) là một đồng cấu AA phân bậc bậc 0; theo định nghĩa, với x,yx, y trong EE và u∈HomgrA(F,P)u \in \mathrm{Homgr}_A(F, P)

(ϕ~(u⊔ϕ(x)))(y)=(u⊔ϕ(x))(ϕ(y))=u(ϕ(x)ϕ(y))=u(ϕ(xy))=(ϕ~(u))(xy)=(ϕ~(u)⊔x)(y) \begin{align*} (\tilde{\phi}(u \sqcup \phi(x)))(y) &= (u \sqcup \phi(x))(\phi(y)) \\ &= u(\phi(x)\phi(y)) = u(\phi(xy)) = (\tilde{\phi}(u))(xy) = (\tilde{\phi}(u) \sqcup x)(y) \end{align*}

hay cũng là

ϕ~(u⊔ϕ(x))=ϕ~(u)⊔x \tilde{\phi}(u \sqcup \phi(x)) = \tilde{\phi}(u) \sqcup x

và tương tự

ϕ~(ϕ(x)⊔u)=x⊔ϕ~(u). \tilde{\phi}(\phi(x) \sqcup u) = x \sqcup \tilde{\phi}(u).

Nói cách khác, khi Homgr_A(F, P) được xét như một song môđun (E, E) nhờ đồng cấu vành ϕ:E→F\phi : E \to F, ta thấy rằng ϕ~\tilde{\phi} là một đồng cấu song môđun (E, E) (hay cũng là một E-đồng cấu từ song môđun (F, F) Homgr_A(F, P) vào song môđun (E, E) Homgr_A(E, P)).

Ví dụ

Đặc biệt, điều trên có thể được áp dụng khi E là một trong các đại số phân bậc T(M), S(M) hoặc ⋀(M)\bigwedge(M) đối với một A-môđun M và P là một A-môđun (với phân bậc tầm thường). Để tìm tường minh các cấu trúc song môđun thu được như vậy, chú ý rằng các phần tử bậc −n-n của Homgr_A(T(M), P) (tương ứng Homgr_A(S(M), P), tương ứng Homgr_A(⋀(M)\bigwedge(M), P)) được đồng nhất với các ánh xạ n-tuyến tính (tương ứng các ánh xạ n-tuyến tính đối xứng, tương ứng các ánh xạ n-tuyến tính phản xứng) từ MnM^n vào P. Chỉ cần biểu diễn các tích

f⊔(x1⊗x2⊗⋯⊗xp) f \sqcup (x_1 \otimes x_2 \otimes \cdots \otimes x_p)

(tương ứng f⊔(x1x2…xp)f \sqcup (x_1 x_2 \ldots x_p)), tương ứng f⊔(x1∧x2∧⋯∧xp)f \sqcup (x_1 \wedge x_2 \wedge \cdots \wedge x_p)) với mọi dãy hữu hạn (xi)1≤i≤p(x_i)_{1 \leq i \leq p} các phần tử của M và các biểu thức tương tự đối với tích nội trái. Từ các định nghĩa suy ra ngay lập tức rằng

f⊔(x1⊗x2⊗⋯⊗xp)=(x1⊗x2⊗⋯⊗xp)⊔f=0 f \sqcup (x_1 \otimes x_2 \otimes \cdots \otimes x_p) = (x_1 \otimes x_2 \otimes \cdots \otimes x_p) \sqcup f = 0

nếu* p>np > n và rằng, với p≤np \leq n, f⊔(x1⊗x2⊗⋯⊗xp)f \sqcup (x_1 \otimes x_2 \otimes \cdots \otimes x_p) (tương ứng

(x1⊗x2⊗⋯⊗xp)⊔f) (x_1 \otimes x_2 \otimes \cdots \otimes x_p) \sqcup f)

là ánh xạ (n - p)-tuyến tính được định nghĩa bởi

{(f⊔(x1⊗x2⊗⋯⊗xp))(y1,…,yn−p)=f(x1,…,xp,y1,…,yn−p)((x1⊗x2⊗⋯⊗xp)⊔f)(y1,…,yn−p)=f(y1,…,yn−p,x1,…,xp). \begin{cases} (f \sqcup (x_1 \otimes x_2 \otimes \cdots \otimes x_p))(y_1, \ldots, y_{n-p}) \\ \hspace{10cm} = f(x_1, \ldots, x_p, y_1, \ldots, y_{n-p}) \\ ((x_1 \otimes x_2 \otimes \cdots \otimes x_p) \sqcup f)(y_1, \ldots, y_{n-p}) \\ \hspace{10cm} = f(y_1, \ldots, y_{n-p}, x_1, \ldots, x_p). \end{cases}

Với p>np > n, cũng có trong Homgr_A(S(M), P) (tương ứng Homgr_A(⋀(M)\bigwedge(M), P)) các công thức (44) trong đó x1⊗x2⊗⋯⊗xpx_1 \otimes x_2 \otimes \cdots \otimes x_p được thay bằng x1x2…xpx_1 x_2 \ldots x_p (tương ứng x1∧x2∧⋯∧xpx_1 \wedge x_2 \wedge \cdots \wedge x_p). Với p≤np \leq n, các phép thay thế tương tự trong (45) xác định các ánh xạ (n - p)-tuyến tính đối xứng f⊔(x1x2…xp)f \sqcup (x_1 x_2 \ldots x_p) và (x1x2…xp)⊔f(x_1 x_2 \ldots x_p) \sqcup f (tương ứng các ánh xạ (n - p)-tuyến tính *phản xứng

f⊔(x1∧x2∧⋯∧xp)vaˋ(x1∧x2∧⋯∧xp)⊔f). f \sqcup (x_1 \wedge x_2 \wedge \cdots \wedge x_p) \quad \text{và} \quad (x_1 \wedge x_2 \wedge \cdots \wedge x_p) \sqcup f).

Khi n=pn = p, các tích trên bằng hàm hằng trên MM bằng f(x1,…,xp)f(x_1, \ldots, x_p).

Nếu u:M→Nu : M \to N là một đồng cấu A-môđun, T(u):T(M)→T(N)T(u) : T(M) \to T(N) là một đồng cấu đại số AA phân bậc, thì từ những gì đã thấy ở trên suy ra rằng (T(u))∼(T(u))^\sim là một đồng cấu T(M)T(M) từ song môđun (T(N),T(N))(T(N), T(N)) HomgrA(T(N),P)\mathrm{Homgr}_A(T(N), P) vào song môđun (T(M),T(M))(T(M), T(M)) HomgrA(T(M),P)\mathrm{Homgr}_A(T(M), P), đối với đồng cấu vành T(u)T(u). Có các kết quả tương tự đối với (S(u))∼(S(u))^\sim và (∧(u))∼(\wedge(u))^\sim.

7. Tích nội: trường hợp của đối đại số

Cho E=⨁p≥0EpE = \bigoplus_{p \geq 0} E_p là một đối đại số phân bậc có đối kết hợp và có đối đơn vị. Khi đó ta biết (no. 2, Mệnh đề 1 và 3) rằng đối ngẫu phân bậc E∗grE^{*\mathrm{gr}} có (với quy ước về các phân bậc đã nêu ở đầu đoạn) một cấu trúc đại số phân bậc kiểu N\mathbf{N} trên AA, tích của hai phần tử u,vu, v của đại số này được xác định bởi uv=m∘(u⊗v)∘cuv = m \circ (u \otimes v) \circ c, trong đó c:E→E⊗AEc : E \to E \otimes_A E là đồng tích và m:A⊗AA→Am : A \otimes_A A \to A xác định phép nhân. Nói cách khác, nếu, với x∈Ex \in E, c(x)=∑iyi⊗zic(x) = \sum_i y_i \otimes z_i, ta có thể viết (đồng nhất hóa một cách chính tắc A⊗AEA \otimes_A E với EE)

⟨x,uv⟩=(uv)(x)=∑iu(yi)v(zi)=v(∑iu(yi)zi)=v(((u⊗1E)∘c)(x))=⟨((u⊗1E)∘c)(x),v⟩. \langle x, uv \rangle = (uv)(x) = \sum_i u(y_i)v(z_i) = v\left( \sum_i u(y_i)z_i \right) = v(((u \otimes 1_E) \circ c)(x)) = \langle ((u \otimes 1_E) \circ c)(x), v \rangle.

Điều này có thể được hiểu bằng cách nói rằng, với mọi uu thuần nhất bậc pp trong E∗grE^{*\mathrm{gr}}, phép nhân trái e(u):v↦uve(u) : v \mapsto uv trong E∗grE^{*\mathrm{gr}} là chuyển vị phân bậc của tự đồng cấu phân bậc bậc −p-p

(46)(46)
i(u)=(u⊗1E)∘c i(u) = (u \otimes 1_E) \circ c

của EE; do đó, theo ký hiệu trên,

(i(u))(x)=∑iu(yi)zi. (i(u))(x) = \sum_i u(y_i)z_i.

Công thức (46) cũng xác định một phần tử i(u)∈EndgrA(E)i(u) \in \mathrm{Endgr}_A(E) với mọi phần tử u∈E∗gru \in E^{*\mathrm{gr}}; với mọi x∈Ex \in E và mọi u∈E∗gru \in E^{*\mathrm{gr}}, ta viết

(47)(47)
x⊥u=(i(u))(x) x \perp u = (i(u))(x)

để cho, với uu và vv trong E∗grE^{*\mathrm{gr}},

⟨x,uv⟩=⟨x⊥u,v⟩. \langle x, uv \rangle = \langle x \perp u, v \rangle.

Phần tử x⊥ux \perp u của EE được gọi là tích nội phải của xx bởi uu.

Ở đây nữa phần tử uu "tác động" lên xx được đặt ở đầu tự do của đường nằm ngang trong x‾\underline{\phantom{x}}.

Với mọi hai phần tử u,vu, v của E∗grE^{*\mathrm{gr}},

x(uv)‾=(xu‾)v‾, x \underline{\phantom{(uv)}} = (x \underline{\phantom{u}}) \underline{\phantom{v}},

nói cách khác

i(uv)=i(v)∘i(u). i(uv) = i(v) \circ i(u).

Như trên, cho c(x)=∑iyi⊗zic(x) = \sum_i y_i \otimes z_i, để cho x(uv)‾=∑i(uv)(yi)zix \underline{\phantom{(uv)}} = \sum_i (uv)(y_i)z_i. Nếu

c(yi)=∑jyij′⊗yij′′, c(y_i) = \sum_j y_{ij}' \otimes y_{ij}'',

thì

x(uv)‾=∑i,ju(yij′)v(yij′′)zi. x \underline{\phantom{(uv)}} = \sum_{i,j} u(y_{ij}')v(y_{ij}'')z_i.

Mặt khác, nếu c(zi)=∑kzik′⊗zik′′c(z_i) = \sum_k z_{ik}' \otimes z_{ik}'', thì

(xu‾)v‾=∑i,ku(yi)v(zik′)zik′′. (x \underline{\phantom{u}}) \underline{\phantom{v}} = \sum_{i,k} u(y_i)v(z_{ik}')z_{ik}''.

Bây giờ, tính đối kết hợp của EE cho thấy rằng (no. 2, Mệnh đề 1)

∑i,jyij′⊗yij′′⊗zi=∑i,kyi⊗zik′⊗zik′′ \sum_{i,j} y_{ij}' \otimes y_{ij}'' \otimes z_i = \sum_{i,k} y_i \otimes z_{ik}' \otimes z_{ik}''

và đẳng thức của các biểu thức (49) và (50) suy ra từ sự kiện rằng chúng lần lượt là ảnh của vế trái và vế phải của (51) dưới ánh xạ tuyến tính ff từ E⊗E⊗EE \otimes E \otimes E tới EE sao cho f(x⊗y⊗z)=u(x)v(y)zf(x \otimes y \otimes z) = u(x)v(y)z.

Mặt khác, ta nhắc lại (no. 2, Mệnh đề 3) rằng phần tử đơn vị của đại số E∗grE^{*\mathrm{gr}} là dạng tuyến tính e:x↦γ(x).1e : x \mapsto \gamma(x).1; do đó

xe‾=∑iγ(yi)zi=x x \underline{\phantom{e}} = \sum_i \gamma(y_i)z_i = x

do định nghĩa của đồng đơn vị. Vì ánh xạ u↦i(u)u \mapsto i(u) là tuyến tính, ta thấy rằng phép toán ngoài hợp thành (u,x)↦xu‾(u, x) \mapsto x \underline{\phantom{u}} xác định một cấu trúc môđun phải trên EE đối với E∗grE^{*\mathrm{gr}}.

Tương tự, với mọi u∈E∗gru \in E^{*\mathrm{gr}}, ta định nghĩa tự đồng cấu của EE

i′(u)=(1E⊗u)∘c i'(u) = (1_E \otimes u) \circ c

và, với mọi x∈Ex \in E, ta viết

(i′(u))(x)=ux‾ (i'(u))(x) = u \underline{\phantom{x}}

và phần tử này của EE được gọi là tích nội trái của x bởi u. Như trên, ta thấy rằng phép toán ngoài (u,v)↦u⊔x(u, v) \mapsto u \sqcup x xác định một cấu trúc môđun trái trên EE đối với E∗grE^{*\mathrm{gr}}. Hơn nữa, hai cấu trúc này là tương thích, nói cách khác,

(54)(54)
(u⊔x)⊓v=u⊔(x⊓v)(u \sqcup x) \sqcap v = u \sqcup (x \sqcap v)

với u,vu, v trong E∗grE^{*\mathrm{gr}} (II, § 1, no. 14). Với cùng các ký hiệu như trên, vế trái của (54) là ∑i,ju(zi)v(yij′)yij′′\sum_{i,j} u(z_i)v(y_{ij}')y_{ij}'' và vế phải là ∑i,kv(yi)u(zik′′)zik′\sum_{i,k} v(y_i)u(z_{ik}'')z_{ik}'; đẳng thức của chúng suy ra từ việc chúng là các ảnh tương ứng của vế trái và vế phải của (51) dưới ánh xạ tuyến tính gg từ E⊗E⊗EE \otimes E \otimes E vào EE sao cho g(x⊗y⊗z)=v(x)u(z)yg(x \otimes y \otimes z) = v(x)u(z)y.

Do đó ta thấy rằng hai phép toán ngoài hợp thành trên EE xác định trên tập hợp này một cấu trúc (E∗gr,E∗gr)(E^{*\mathrm{gr}}, E^{*\mathrm{gr}})*-song môđun*.

Khi đối đại số EE là đối giao hoán, thì u⊔x=x⊓uu \sqcup x = x \sqcap u với mọi x∈Ex \in E và u∈E∗gru \in E^{*\mathrm{gr}}; khi nó là phản đối giao hoán (§ 4, no. 9) và u∈Ep∗u \in E_p^* và x∈Eqx \in E_q, ta có thể viết c(x)=∑0≤j≤q(∑iyij⊗zi,q−j)c(x) = \sum_{0 \leq j \leq q} \left( \sum_i y_{ij} \otimes z_{i, q-j} \right) với yijy_{ij} và zijz_{ij} trong EjE_j với mọi jj và khi đó theo giả thiết

∑izij⊗yi,q−j=(−1)j(q−j)∑iyij⊗zi,q−j.\sum_i z_{ij} \otimes y_{i, q-j} = (-1)^{j(q-j)} \sum_i y_{ij} \otimes z_{i, q-j}.

Theo định nghĩa, x⊓u=∑0≤j≤q(∑iu(yij)zi,q−j)x \sqcap u = \sum_{0 \leq j \leq q} \left( \sum_i u(y_{ij})z_{i, q-j} \right) và

u⊔x=∑0≤j≤q(∑iu(zi,q−j)yij).u \sqcup x = \sum_{0 \leq j \leq q} \left( \sum_i u(z_{i, q-j})y_{ij} \right).

Vì u(yij)=0u(y_{ij}) = 0 (tương ứng u(zi,q−j)=0u(z_{i, q-j}) = 0 trừ khi j=pj = p (tương ứng q−j=pq - j = p), nên từ điều trên ta thấy rằng u⊔x=(−1)p(q−p)x⊓uu \sqcup x = (-1)^{p(q-p)} x \sqcap u.

Sau cùng, cho ϕ:E→F\phi : E \to F là một cấu xạ đối đại số phân bậc; khi đó ta đã thấy (no. 2) rằng chuyển vị phân bậc tϕ:F∗gr→E∗grt\phi : F^{*\mathrm{gr}} \to E^{*\mathrm{gr}} là một đồng cấu đại số phân bậc; do đó, với x∈Ex \in E, u,vu, v trong F∗grF^{*\mathrm{gr}},

⟨ϕ(x⊓tϕ(u)),v⟩=⟨x⊓tϕ(u),tϕ(v)⟩=⟨x,tϕ(u)tϕ(v)⟩=⟨x,tϕ(uv)⟩ \langle \phi(x \sqcap t\phi(u)), v \rangle = \langle x \sqcap t\phi(u), t\phi(v) \rangle = \langle x, t\phi(u)t\phi(v) \rangle = \langle x, t\phi(uv) \rangle
=⟨ϕ(x),uv⟩=⟨ϕ(x)⊓u,v⟩ = \langle \phi(x), uv \rangle = \langle \phi(x) \sqcap u, v \rangle

do đó

(55)(55)
ϕ(x)⊓u=ϕ(x⊓tϕ(u));\phi(x) \sqcap u = \phi(x \sqcap t\phi(u));

và tương tự,

(56)(56)
u⊔ϕ(x)=ϕ(tϕ(u)⊔x).u \sqcup \phi(x) = \phi(t\phi(u) \sqcup x).

Nói cách khác, ϕ\phi là một F∗grF^{*\mathrm{gr}}*-đồng cấu* của EE (E∗gr,E∗gr)(E^{*\mathrm{gr}}, E^{*\mathrm{gr}})-*song môđun* vào FF (F∗gr,F∗gr)(F^{*\mathrm{gr}}, F^{*\mathrm{gr}})-*song môđun*, đối với đồng cấu vành

tϕ:F∗gr→E∗gr. t\phi : F^{*\mathrm{gr}} \to E^{*\mathrm{gr}}.

Ví dụ

Đặc biệt, điều trên có thể được áp dụng khi E là một trong các đối đại số phân bậc T(M), S(M) hoặc Λ(M)\Lambda(M) của một A-môđun M (no. 1, Ví dụ 5, 6 và 7). Để xác định tường minh các cấu trúc song môđun thu được như vậy, ta lại đồng nhất một phần tử thuần nhất f bậc n trong T(M)∗grT(M)^{*gr} (resp. S(M)∗grS(M)^{*gr}, resp. Λ(M)∗gr\Lambda(M)^{*gr}) với một dạng n-tuyến tính (resp. dạng n-tuyến tính đối xứng, resp. dạng n-tuyến tính phản xứng, cũng gọi là một n-dạng) trên MnM^n. Chỉ cần biểu diễn các tích

(x1⊗x2⊗⋯⊗xp)◃f (resp. (x1x2…xp)◃f, (x_1 \otimes x_2 \otimes \cdots \otimes x_p) \triangleleft f \text{ (resp. } (x_1 x_2 \ldots x_p) \triangleleft f,

resp. (x1∧x2∧⋯∧xp)◃f(x_1 \wedge x_2 \wedge \cdots \wedge x_p) \triangleleft f với mọi dãy hữu hạn (xi)1≤i≤p(x_i)_{1 \leq i \leq p} các phần tử của M và các biểu thức tương tự đối với tích nội trái. Bây giờ, các định nghĩa (46) và (52) và các công thức (3), (6) và (9) của no. 1 lần lượt cho:

{(x1⊗x2⊗⋯⊗xp)◃f=f▹(x1⊗x2⊗⋯⊗xp)=0(x1x2…xp)◃f=f▹(x1x2…xp)=0với p<n.(x1∧x2∧⋯∧xp)◃f=f▹(x1∧x2∧⋯∧xp)=0 \begin{cases} (x_1 \otimes x_2 \otimes \cdots \otimes x_p) \triangleleft f = f \triangleright (x_1 \otimes x_2 \otimes \cdots \otimes x_p) = 0 \\ (x_1 x_2 \ldots x_p) \triangleleft f = f \triangleright (x_1 x_2 \ldots x_p) = 0 \quad \text{với } p < n. \\ (x_1 \wedge x_2 \wedge \cdots \wedge x_p) \triangleleft f = f \triangleright (x_1 \wedge x_2 \wedge \cdots \wedge x_p) = 0 \end{cases}

Với p≥np \geq n, ta có lần lượt

(58) (x1⊗x2⊗⋯⊗xp)◃f=f(x1,…,xn)xn+1⊗⋯⊗xp(x_1 \otimes x_2 \otimes \cdots \otimes x_p) \triangleleft f = f(x_1, \ldots, x_n)x_{n+1} \otimes \cdots \otimes x_p

(59) (x1x2…xp)◃f=∑σf(xσ(1),…,xσ(n))xσ(n+1)⋯xσ(p)(x_1 x_2 \ldots x_p) \triangleleft f = \sum_{\sigma} f(x_{\sigma(1)}, \ldots, x_{\sigma(n)})x_{\sigma(n+1)} \cdots x_{\sigma(p)}

(60) (x1∧x2∧⋯∧xp)◃f=∑σεσf(xσ(1),…,xσ(n))xσ(n+1)∧⋯∧xσ(p)(x_1 \wedge x_2 \wedge \cdots \wedge x_p) \triangleleft f = \sum_{\sigma} \varepsilon_{\sigma} f(x_{\sigma(1)}, \ldots, x_{\sigma(n)})x_{\sigma(n+1)} \wedge \cdots \wedge x_{\sigma(p)}

(trong đó, trong (59) và (60), các phép lấy tổng được thực hiện trên các hoán vị σ∈Sp\sigma \in \mathfrak{S}_p tăng trên mỗi khoảng [1,n][1, n] và [n+1,p][n+1, p] của N\mathbf{N}; và tương tự

(61) f▹(x1⊗x2⊗⋯⊗xp)=f(xp−n+1,…,xp)x1⊗x2⊗⋯⊗xp−nf \triangleright (x_1 \otimes x_2 \otimes \cdots \otimes x_p) = f(x_{p-n+1}, \ldots, x_p)x_1 \otimes x_2 \otimes \cdots \otimes x_{p-n}

(62) f▹(x1x2…xp)=∑σf(xσ(p−n+1),…,xσ(p))xσ(1)⋯xσ(p−n)f \triangleright (x_1 x_2 \ldots x_p) = \sum_{\sigma} f(x_{\sigma(p-n+1)}, \ldots, x_{\sigma(p)})x_{\sigma(1)} \cdots x_{\sigma(p-n)}

(63) f▹(x1∧x2∧⋯∧xp)=∑σεσf(xσ(p−n+1),…,xσ(p))xσ(1)∧⋯∧xσ(p−n)f \triangleright (x_1 \wedge x_2 \wedge \cdots \wedge x_p) = \sum_{\sigma} \varepsilon_{\sigma} f(x_{\sigma(p-n+1)}, \ldots, x_{\sigma(p)})x_{\sigma(1)} \wedge \cdots \wedge x_{\sigma(p-n)}

(trong đó, trong (62) và (63), các phép lấy tổng được thực hiện trên các hoán vị σ∈Sp\sigma \in \mathfrak{S}_p tăng trên mỗi khoảng [1,p−n][1, p-n] và [p−n+1,p][p-n+1, p] của N\mathbf{N}).

8. Tích nội: trường hợp của song đại số

Cho E là một song đại số phân bậc (resp. song đại số phân bậc xiên) (no. 4, Định nghĩa 3); khi đó các kết quả của các số 6 và 7 có thể được áp dụng để định nghĩa các tích nội phải (resp. trái) x◃u∈Ex \triangleleft u \in E và u◃x∈E∗gru \triangleleft x \in E^{*gr} (resp. u▹x∈Eu \triangleright x \in E và x▹u∈E∗grx \triangleright u \in E^{*gr}) với mọi x∈Ex \in E và mọi u∈E∗gru \in E^{*\mathrm{gr}}. Như vậy thu được trên EE một cấu trúc (E,E)(E, E)-song môđun và một cấu trúc (E∗gr,E∗gr)(E^{*\mathrm{gr}}, E^{*\mathrm{gr}})-song môđun. Hơn nữa:

Mệnh đề 9

Cho EE là một song đại số phân bậc (resp. song đại số phân bậc xiên). Với mọi phần tử xx bậc 1 trong EE, các tích nội trái và phải theo xx là các đạo hàm (resp. phản đạo hàm) (§10§ 10, no. 2) của đại số E∗grE^{*\mathrm{gr}}.

Theo ký hiệu của no. 6, đối với mọi phần tử thuần nhất xx có bậc 1 trong một bigebra phân bậc (tương ứng, một bigebra phân bậc xiên) EE,

c(x)=x⊗1+1⊗x, c(x) = x \otimes 1 + 1 \otimes x,
theo Mệnh đề 5 của no. 3 và do cc là một đồng cấu bậc 0. Trước hết giả sử EE là một bigebra phân bậc. Với mọi y∈Ey \in E, theo định nghĩa
⟨(uv)&x,y⟩=⟨uv,xy⟩=m((u⊗v)(c(xy))) \langle (uv) \mathbin{\&} x, y \rangle = \langle uv, xy \rangle = m((u \otimes v)(c(xy)))
và vì cc là một đồng cấu đại số, nên c(xy)=c(x)c(y)c(xy) = c(x)c(y). Đặt c(y)=∑isi⊗tic(y) = \sum_i s_i \otimes t_i với sis_i và tit_i thuộc EE; do đó
c(xy)=∑i(xsi)⊗ti+∑isi⊗(xti). c(xy) = \sum_i (xs_i) \otimes t_i + \sum_i s_i \otimes (xt_i).
Do đó ⟨(uv)&x,y⟩=∑iu(xsi)v(ti)+∑iu(si)v(xti)\langle (uv) \mathbin{\&} x, y \rangle = \sum_i u(xs_i)v(t_i) + \sum_i u(s_i)v(xt_i). Nhưng ta có thể viết
∑iu(xsi)v(ti)=m(((u&x)⊗v)(c(y)))=⟨(u&x)v,y⟩ \sum_i u(xs_i)v(t_i) = m(((u \mathbin{\&} x) \otimes v)(c(y))) = \langle (u \mathbin{\&} x)v, y \rangle
và tương tự
∑iu(si)v(xti)=m((u⊗(v&x))(c(y)))=⟨u(v&x),y⟩, \sum_i u(s_i)v(xt_i) = m((u \otimes (v \mathbin{\&} x))(c(y))) = \langle u(v \mathbin{\&} x), y \rangle,
do đó, trở lại ký hiệu i(x)i(x) cho phép nhân nội,
(64)(64)
(i(x))(uv)=((i(x))(u))v+u((i(x))(v))(i(x))(uv) = ((i(x))(u))v + u((i(x))(v))
điều này chứng minh rằng i(x)i(x) là một đạo hàm trong E∗grE^{*\mathrm{gr}}.

Bây giờ giả sử EE là một bigebra phân bậc xiên, u∈Ep∗u \in E_p^*, v∈Eq∗v \in E_q^* và y∈Ery \in E_r; khi đó ta có thể viết

c(y)=∑0≤j≤r(∑isij⊗ti,r−j) c(y) = \sum_{0 \leq j \leq r} \left( \sum_i s_{ij} \otimes t_{i,r-j} \right)
trong đó các sijs_{ij} và tijt_{ij} thuộc EjE_j; theo định nghĩa của tích trong Eg⊗AEE^g \otimes_A E, khi đó
c(xy)=c(x)c(y)=∑0≤j≤r(∑i(xsij)⊗ti,r−j+(−1)j∑isij⊗(xti,r−j)) c(xy) = c(x)c(y) = \sum_{0 \leq j \leq r} \left( \sum_i (xs_{ij}) \otimes t_{i,r-j} + (-1)^j \sum_i s_{ij} \otimes (xt_{i,r-j}) \right)
do đó lần này
⟨(uv)&x,y⟩=∑0≤j≤r(∑iu(xsij)v(ti,r−j)+(−1)j∑iu(sij)v(xti,r−j)). \langle (uv) \mathbin{\&} x, y \rangle = \sum_{0 \leq j \leq r} \left( \sum_i u(xs_{ij})v(t_{i,r-j}) + (-1)^j \sum_i u(s_{ij})v(xt_{i,r-j}) \right).

Khi đó cũng có ∑0≤j≤r(∑iu(xsij)v(ti,r−j))=⟨(u⊔x)v,y⟩\sum_{0 \leq j \leq r} \left( \sum_i u(x s_{ij}) v(t_{i,r-j}) \right) = \langle (u \sqcup x)v, y \rangle. Mặt khác, u(sij)=0u(s_{ij}) = 0 trừ khi j=−pj = -p và do đó ta cũng có thể viết

∑0≤j≤r(−1)j(∑iu(sij)v(xti,r−j))=(−1)p⟨u(v⊔x),y⟩. \sum_{0 \leq j \leq r} (-1)^j \left( \sum_i u(s_{ij}) v(x t_{i,r-j}) \right) = (-1)^p \langle u(v \sqcup x), y \rangle.
Vì vậy ta kết luận rằng
(i(x))(uv)=((i(x))(u))v+(−1)pu((i(x))(v)), (i(x))(uv) = ((i(x))(u))v + (-1)^p u((i(x))(v)),
nói cách khác i(x)i(x) là một phản đạo hàm trong E∗grE^{*gr}. Các khẳng định liên hệ với phép nhân nội trái bởi một phần tử xx bậc 1 trong EE được chứng minh tương tự.

Nhận xét

(1) Cho EE là một song đại số phân bậc trên AA và N,N′,N′′N, N', N'' là ba AA-môđun phân bậc. Cho mm là một ánh xạ AA-song tuyến tính từ N×N′N \times N' vào N′′N''; với u∈HomgrA(E,N)u \in \mathrm{Homgr}_A(E, N) và v∈HomgrA(E,N′)v \in \mathrm{Homgr}_A(E, N'), ký hiệu u.vu.v là đồng cấu phân bậc m∘(u⊗v)∘cm \circ (u \otimes v) \circ c từ EE vào N′′N''. Mặt khác, ký hiệu i(x)i(x) là tích nội (phải hoặc trái) bởi x∈Ex \in E trong các AA-môđun HomgrA(E,N)\mathrm{Homgr}_A(E, N), HomgrA(E,N′)\mathrm{Homgr}_A(E, N') và HomgrA(E,N′′)\mathrm{Homgr}_A(E, N''). Khi đó, nếu xx có bậc 1,

(i(x))(u.v)=((i(x))(u)).v+u.((i(x))(v)) (i(x))(u.v) = ((i(x))(u)).v + u.((i(x))(v))
với mọi u∈HomgrA(E,N)u \in \mathrm{Homgr}_A(E, N) và v∈HomgrA(E,N′)v \in \mathrm{Homgr}_A(E, N').

Trong cùng các điều kiện ấy, nếu EE là một song đại số phân bậc xiên và uu thuần nhất bậc pp, thì

(i(x))(u.v)=((i(x))(u)).v+(−1)pu.((i(x))(v)). (i(x))(u.v) = ((i(x))(u)).v + (-1)^p u.((i(x))(v)).
Các chứng minh cũng giống như trong Mệnh đề 9.

(2) Lập luận như trong chứng minh trên còn chứng minh, nói chung hơn, rằng với mọi x∈Ex \in E, nếu c(x)=∑jxj′⊗xj′′c(x) = \sum_j x'_j \otimes x''_j, thì với mọi u,vu, v trong E∗grE^{*gr}, "công thức Leibniz"

(i(x))(uv)=∑j(i(xj′))(u).(i(xj′′))(v) (i(x))(uv) = \sum_j (i(x'_j))(u).(i(x''_j))(v)
được thỏa mãn. Đặc biệt, đối với mọi phần tử nguyên thủy của một song đại số phân bậc EE, nghĩa là sao cho c(x)=x⊗1+1⊗xc(x) = x \otimes 1 + 1 \otimes x, thì i(x)i(x) là một đạo hàm của E∗grE^{*gr}.

Mệnh đề 10

Cho EE là một song đại số phân bậc (tương ứng, song đại số phân bậc xiên). Với mọi phần tử ff bậc 1 của E∗grE^{*gr}, các tích nội trái và phải là những đạo hàm (tương ứng, phản đạo hàm) của đại số EE.

Cho x∈Ep,y∈Eqx \in E_p, y \in E_q (p≥1,q≥1p \geq 1, q \geq 1). Theo Mệnh đề 5 của no. 3, ta có thể viết

c(x)=x⊗1+∑1≤j≤p−1(∑ixij′⊗xij,p−j′′)+1⊗x c(x) = x \otimes 1 + \sum_{1 \leq j \leq p-1} \left( \sum_i x'_{ij} \otimes x''_{ij,p-j} \right) + 1 \otimes x
c(y)=y⊗1+∑1≤k≤q−1(∑iyi,k′⊗yi,q−k′′)+1⊗y c(y) = y \otimes 1 + \sum_{1 \leq k \leq q-1} \left( \sum_i y'_{i,k} \otimes y''_{i,q-k} \right) + 1 \otimes y

trong đó xij′x'_{ij} và xij′′x''_{ij} thuộc EjE_j, yik′y'_{ik} và yik′′y''_{ik} thuộc EkE_k. Nếu EE là một đại số kép phân bậc, thì thành phần của c(xy)=c(x)c(y)c(xy) = c(x)c(y) thuộc E1⊗EE_1 \otimes E bằng

∑ixi,1′⊗xi,p−1′′y+∑iyi,1′⊗xyi,q−1′′ \sum_i x'_{i,1} \otimes x''_{i,p-1}y + \sum_i y'_{i,1} \otimes xy''_{i,q-1}
và do đó theo định nghĩa
(xy)←f=∑if(xi,1′)xi,p−1′′y+∑if(yi,1′)xyi,q−1′′ (xy) \leftarrow f = \sum_i f(x'_{i,1})x''_{i,p-1}y + \sum_i f(y'_{i,1})xy''_{i,q-1}
=(x←f)y+x(y←f) = (x \leftarrow f)y + x(y \leftarrow f)
và tích nội phải bởi ff là một đạo hàm. Nếu ngược lại EE là một đại số kép phân bậc xiên, thì thành phần của c(xy)c(xy) thuộc E1⊗EE_1 \otimes E bằng
∑ixi,1′⊗xi,p−1′′y+(−1)p∑iyi,1′⊗xyi,q−1′′ \sum_i x'_{i,1} \otimes x''_{i,p-1}y + (-1)^p \sum_i y'_{i,1} \otimes xy''_{i,q-1}
và lần này ta được
(xy)←f=(x←f)y+(−1)px(y←f) (xy) \leftarrow f = (x \leftarrow f)y + (-1)^p x(y \leftarrow f)
điều đó cho thấy khi ấy i(f)i(f) là một phản đạo hàm. Lập luận là tương tự đối với tích nội trái bởi ff.

Ví dụ

Các Mệnh đề 9 và 10 áp dụng đặc biệt cho đại số kép phân bậc S(M)S(M) và đại số kép phân bậc xiên Λ(M)\Lambda(M). Các tích nội bởi các phần tử bậc 1 trong S(M)S(M) (resp. S(M)∗grS(M)^{*gr}) là những đạo hàm giao hoán với nhau, vì S(M)S(M) (resp. S(M)∗grS(M)^{*gr}) là giao hoán.

Tương tự, các tích nội bởi các phần tử bậc 1 trong Λ(M)\Lambda(M) (resp. Λ(M)∗gr\Lambda(M)^{*gr}) là những phản đạo hàm, chúng có bình phương không, vì bình phương của một phần tử bậc 1 trong đại số Λ(M)\Lambda(M) (resp. Λ(M)∗gr\Lambda(M)^{*gr}) bằng không.

9. TÍCH NỘI GIỮA T(M)T(M) VÀ T(M∗)T(M^*), S(M)S(M) VÀ S(M∗)S(M^*), Λ(M)\Lambda(M) VÀ Λ(M∗)\Lambda(M^*)

Tích nội phải xác định trên T(M)T(M) (resp. S(M)S(M), resp. Λ(M)\Lambda(M)) một cấu trúc môđun phải trên đại số T(M)∗grT(M)^{*gr} (resp. S(M)∗grS(M)^{*gr}, resp. Λ(M)∗gr\Lambda(M)^{*gr}) (no. 7, Ví dụ). Dùng các đồng cấu chính tắc θT\theta_T (resp. θS\theta_S, resp. θΛ\theta_\Lambda) ở no. 5, ta suy ra một cấu trúc môđun phải trên T(M)T(M) đối với T(M∗)T(M^*) một cấu trúc môđun phải trên S(M)S(M) đối với S(M∗)S(M^*) một cấu trúc môđun trái trên Λ(M)\Lambda(M) đối với Λ(M∗)\Lambda(M^*).

Phép toán ngoài của bất kỳ cấu trúc nào trong các cấu trúc ấy cũng được ký hiệu bởi

(z∗,t)↦i(z∗)⋅t (z^*, t) \mapsto i(z^*) \cdot t

(theo lối nói lạm dụng); ta cũng viết t≺z∗t \prec z^* thay cho i(z∗).ti(z^*) . t trong trường hợp của T(M)T(M) hoặc S(M)S(M); trái lại, ta viết z∗≺tz^* \prec t trong trường hợp của Λ(M)\Lambda(M) và nói rằng đó là một tích nội trái của tt bởi z∗z^*, vì khi đó ta có một luật Λ(M∗)\Lambda(M^*)-môđun trái. Với z∗z^* thuần nhất bậc nn và tt thuần nhất bậc pp, ta có i(z∗).t=0i(z^*) . t = 0 nếu p<np < n và, với xi∈Mx_i \in M (1≤i≤p1 \leq i \leq p), xj∗∈M∗x_j^* \in M^* (1≤j≤n1 \leq j \leq n) và p≥np \geq n, theo các công thức (58), (59) và (60) của no. 7,

(66)i(x1∗⊗x2∗⊗⋯⊗xn∗).(x1⊗x2⊗⋯⊗xp) (66)\quad i(x_1^* \otimes x_2^* \otimes \cdots \otimes x_n^*) . (x_1 \otimes x_2 \otimes \cdots \otimes x_p)
=(∏j=1n⟨xj∗,xj⟩)xn+1⊗⋯⊗xp = \left( \prod_{j=1}^n \langle x_j^*, x_j \rangle \right) x_{n+1} \otimes \cdots \otimes x_p
(67)i(x1∗x2∗…xn∗).(x1x2…xp)=∑σ(∏j=1n⟨xj∗,xσ(j)⟩)xσ(n+1)⋯xσ(p) (67)\quad i(x_1^* x_2^* \ldots x_n^*) . (x_1 x_2 \ldots x_p) = \sum_\sigma \left( \prod_{j=1}^n \langle x_j^*, x_{\sigma(j)} \rangle \right) x_{\sigma(n+1)} \cdots x_{\sigma(p)}
(68)i(x1∗∧x2∗∧⋯∧xn∗).(x1∧x2∧⋯∧xp) (68)\quad i(x_1^* \wedge x_2^* \wedge \cdots \wedge x_n^*) . (x_1 \wedge x_2 \wedge \cdots \wedge x_p)
=(−1)n(n−1)/2∑σεσ(∏j=1n⟨xj∗,xσ(j)⟩)xσ(n+1)∧⋯∧xσ(p) = (-1)^{n(n-1)/2} \sum_\sigma \varepsilon_\sigma \left( \prod_{j=1}^n \langle x_j^*, x_{\sigma(j)} \rangle \right) x_{\sigma(n+1)} \wedge \cdots \wedge x_{\sigma(p)}

trong đó, trong các công thức (67) và (68), σ\sigma chạy qua tập hợp các hoán vị σ∈Sp\sigma \in \mathfrak{S}_p mà tăng trên các khoảng {1,n}\{1, n\} và {n+1,p}\{n + 1, p\}.

Ta cũng có thể viết, theo ký hiệu tích nội,

⟨t≺u∗,v∗⟩=⟨t,θT(u∗v∗)⟩với t∈T(M),u∗,v∗ trong T(M∗) \langle t \prec u^*, v^* \rangle = \langle t, \theta_T(u^* v^*) \rangle \quad \text{với } t \in T(M), u^*, v^* \text{ trong } T(M^*)
⟨t≺u∗,v∗⟩=⟨t,θS(u∗v∗)⟩với t∈S(M),u∗,v∗ trong S(M∗) \langle t \prec u^*, v^* \rangle = \langle t, \theta_S(u^* v^*) \rangle \quad \text{với } t \in S(M), u^*, v^* \text{ trong } S(M^*)
⟨v∗,u∗≺t⟩=⟨θΛ(u∗∧v∗),t⟩ với t∈Λ(M),u∗,v∗ trong Λ(M∗). \langle v^*, u^* \prec t \rangle = \langle \theta_\Lambda(u^* \wedge v^*), t \rangle \text{ với } t \in \Lambda(M), u^*, v^* \text{ trong } \Lambda(M^*).

Ta để cho người đọc nhiệm vụ tìm tường minh các công thức tương tự đối với các tích nội trái, lần này dùng các công thức (61), (62) và (63).

Điều trên có thể được áp dụng với MM được thay bằng đối ngẫu của nó M∗M^*; khi đó M∗M^* phải được thay bằng song đối ngẫu M∗∗M^{**} và chẳng hạn T(M∗)T(M^*) do đó có một cấu trúc môđun phải trên đại số T(M∗∗)T(M^{**}). Nhưng ánh xạ chính tắc cM:M→M∗∗c_M : M \to M^{**} xác định một đồng cấu đại số T(cM):T(M)→T(M∗∗)T(c_M) : T(M) \to T(M^{**}), nhờ đó T(M∗)T(M^*) có một cấu trúc T(M)T(M)-*môđun* phải. Tương tự S(M∗)S(M^*) (resp. Λ(M∗)\Lambda(M^*)) có một cấu trúc S(M)S(M)-*môđun* phải (resp. Λ(M)\Lambda(M)-*môđun* trái). Các công thức tường minh cho các luật ngoài của các môđun này được dẫn xuất ngay lập tức từ trên bằng cách hoán đổi vai trò của MM và M∗M^*. Chú ý rằng, với mọi x∈Mx \in M, i(x)i(x) luôn luôn là một đạo hàm (resp. phản đạo hàm có bình phương không) của đại số phân bậc S(M∗)S(M^*) (resp. Λ(M∗)\Lambda(M^*)).

Mệnh đề 11

Đồng cấu chính tắc* θT:T(M∗)→T(M)∗gr\theta_T : T(M^*) \to T(M)^{*gr} (resp. θS:S(M)→S(M)∗gr\theta_S : S(M) \to S(M)^{*gr}, resp. θΛ:Λ(M∗)→Λ(M)∗gr\theta_\Lambda : \Lambda(M^*) \to \Lambda(M)^{*gr}) là một đồng cấu T(M)T(M)-*môđun* phải (resp. S(M)S(M)-*môđun* phải, resp. Λ(M)\Lambda(M)-*môđun* trái).

Trước hết ta chứng minh rằng, với z∗∈T(M∗)z^* \in T(M^*) và t∈T(M)t \in T(M),

θT(z∗∧t)=θT(z∗)∧t. \theta_T(z^* \wedge t) = \theta_T(z^*) \wedge t.

Vì MM là một hệ sinh của đại số T(M)T(M), ta chỉ cần chứng minh (69) khi t=x∈Mt = x \in M; hơn nữa ta có thể chỉ xét trường hợp z∗=x1∗⊗x2∗⊗⋯⊗xp∗z^* = x_1^* \otimes x_2^* \otimes \cdots \otimes x_p^*, trong đó các xj∗∈M∗x_j^* \in M^*, và khi đó, theo (66) với vai trò của MM và M∗M^* đổi cho nhau, z∗∧x=⟨x,x1∗⟩x2∗⊗⋯⊗xp∗z^* \wedge x = \langle x, x_1^* \rangle x_2^* \otimes \cdots \otimes x_p^*. Do đó, với mọi y2,…,ypy_2, \ldots, y_p trong MM,

⟨θT(z∗∧x),y2⊗y3⊗⋯⊗yp⟩=⟨x,x1∗⟩∏j=2p⟨yj,xj∗⟩=⟨θT(z∗),x⊗y2⊗⋯⊗yp⟩=⟨θT(z∗)∧x,y2⊗⋯⊗yp⟩ \begin{align*} \langle \theta_T(z^* \wedge x), y_2 \otimes y_3 \otimes \cdots \otimes y_p \rangle &= \langle x, x_1^* \rangle \prod_{j=2}^p \langle y_j, x_j^* \rangle \\ &= \langle \theta_T(z^*), x \otimes y_2 \otimes \cdots \otimes y_p \rangle \\ &= \langle \theta_T(z^*) \wedge x, y_2 \otimes \cdots \otimes y_p \rangle \end{align*}

do đó có (69).

Tiếp theo, ta chứng minh rằng với z∗∈S(M∗)z^* \in S(M^*) và t∈S(M)t \in S(M),

θS(z∗∧t)=θS(z∗)∧t. \theta_S(z^* \wedge t) = \theta_S(z^*) \wedge t.

Như trên, ta có thể chỉ xét trường hợp t=x∈Mt = x \in M. Nhưng hơn nữa, ở đây i(x)i(x) là một đạo hàm của S(M∗)S(M^*) và là một đạo hàm của S(M)∗grS(M)^{*gr}. Do đó (§ 10, no. 7, Hệ quả của Mệnh đề 9) chỉ cần kiểm tra (70) với z∗=x∗∈M∗z^* = x^* \in M^*, vì M∗M^* là một hệ sinh của S(M∗)S(M^*); nhưng điều này là tầm thường, vì khi đó hai vế đều bằng ⟨x∗,x⟩\langle x^*, x \rangle. Một lập luận tương tự chứng minh quan hệ

θ∧(t∧z∗)=t∧θ∧(z∗) \theta_\wedge(t \wedge z^*) = t \wedge \theta_\wedge(z^*)

với z∗∈Λ(M∗)z^* \in \Lambda(M^*) và t∈Λ(M)t \in \Lambda(M): khi đó hãy lưu ý rằng, với x∈Mx \in M, i(x)i(x) là một phản đạo hàm trong Λ(M∗)\Lambda(M^*) cũng như trong Λ(M)∗gr\Lambda(M)^{*gr} và dùng § 10, no. 7, Hệ quả của Mệnh đề 9. Có một kết quả tương tự đối với các tích nội trái.

10. Dạng tường minh của các tích nội trong trường hợp một môđun tự do sinh hữu hạn

Cho MM là một AA-môđun tự do sinh hữu hạn, (ei)1≤i≤n(e_i)_{1 \leq i \leq n} một cơ sở của MM và (ei∗)1≤i≤n(e_i^*)_{1 \leq i \leq n} cơ sở đối ngẫu của M∗M^*. Với mọi dãy hữu hạn s=(i1,…,ip)s = (i_1, \ldots, i_p) gồm các phần tử của {1,n}\{1, n\}, đặt es=ei1⊗ei2⊗⋯⊗eipe_s = e_{i_1} \otimes e_{i_2} \otimes \cdots \otimes e_{i_p} (tương ứng, es∗=ei1∗⊗⋯⊗eip∗e_s^* = e_{i_1}^* \otimes \cdots \otimes e_{i_p}^*). Ta biết (§ 5, no. 5, Định lý 1) rằng các ese_s lập thành một cơ sở của AA-môđun T(M)T(M) và các es∗e_s^* lập thành một cơ sở của AA-môđun T(M∗)T(M^*). Nếu s,ts, t là hai dãy hữu hạn gồm các phần tử của {1,n}\{1, n\}, ký hiệu s.ts.t là dãy thu được như sau: nếu s=(i1,…,ip)s = (i_1, \ldots, i_p) và t=(j1,…,jq)t = (j_1, \ldots, j_q), thì s.ts.t là dãy (i1,…,ip,j1,…,jq)(i_1, \ldots, i_p, j_1, \ldots, j_q) có p+qp + q số hạng. Khi đó es.t=es⊗ete_{s.t} = e_s \otimes e_t. Suy ra từ (66) rằng

{es∧et∗=0neˆˊu s khoˆng coˊ dạng t.uet.u∧et∗=eu. \begin{cases} e_s \wedge e_t^* = 0 & \text{nếu } s \text{ không có dạng } t.u \\ e_{t.u} \wedge e_t^* = e_u. \end{cases}

Tương tự, đại số đối xứng S(M)S(M) có cơ sở là tập hợp các đơn thức eαe^\alpha với α∈Nn\alpha \in \mathbf{N}^n (§ 6, no. 6, Định lý 1) và S(M∗)S(M^*) có cơ sở là tập hợp các đơn thức e∗αe^{*\alpha} với α∈Nn\alpha \in \mathbf{N}^n; nhắc lại rằng (no. 5) uαu_\alpha, với ∣α∣=k|\alpha| = k, ký hiệu phần tử của cơ sở của (Sk(M))∗(S^k(M))^*, đối ngẫu với cơ sở (eα)∣α∣=k(e^\alpha)_{|\alpha|=k} của Sk(M)S^k(M); do đó các uαu_\alpha, với α∈Nn\alpha \in \mathbf{N}^n, tạo thành một cơ sở của S(M)∗grS(M)^{*gr}. Định nghĩa của tích nội phải bởi eβe^\beta trong S(M)∗grS(M)^{*gr} như là chuyển vị của phép nhân bởi eβe^\beta trong S(M)S(M) khi đó cho thấy rằng

{uα⊥eβ=0neˆˊu α≱βuα⊥eβ=uα−βneˆˊu α≥β. \begin{cases} u_\alpha \perp e^\beta = 0 & \text{nếu } \alpha \not\geq \beta \\ u_\alpha \perp e^\beta = u_{\alpha-\beta} & \text{nếu } \alpha \geq \beta. \end{cases}

(73)

Tương tự, vì ở đây S(M)S(M) được đồng nhất một cách chính tắc với đối ngẫu phân bậc của S(M)∗grS(M)^{*gr}, i(uβ)i(u_\beta) là chuyển vị phân bậc của phép nhân bởi uβu^\beta trong S(M)∗grS(M)^{*gr} và do đó từ bảng phép nhân (33) (no. 5) của cơ sở (uα)(u_\alpha) ta suy ra rằng

{eα⊥uβ=0neˆˊu α≱βeα⊥uβ=(β,α−β)eα−βneˆˊu α≥β. \begin{cases} e^\alpha \perp u_\beta = 0 & \text{nếu } \alpha \not\geq \beta \\ e^\alpha \perp u_\beta = (\beta, \alpha - \beta)e^{\alpha-\beta} & \text{nếu } \alpha \geq \beta. \end{cases}

(74)

Đối với tích nội phải của một phần tử của S(M)S(M) bởi một phần tử của S(M∗)S(M^*), định nghĩa của tích này (no. 9) và công thức (34) của no. 5 cho phép ta suy ra từ (74) các công thức

{eα⊥e∗β=0neˆˊu α≱βeα⊥e∗β=α!(α−β)!eα−βneˆˊu α≥β. \begin{cases} e^\alpha \perp e^{*\beta} = 0 & \text{nếu } \alpha \not\geq \beta \\ e^\alpha \perp e^{*\beta} = \frac{\alpha!}{(\alpha-\beta)!} e^{\alpha-\beta} & \text{nếu } \alpha \geq \beta. \end{cases}

(75)

Có các công thức tương tự đối với tích nội của một phần tử của S(M∗)S(M^*) bởi một phần tử của S(M)S(M) khi đổi chỗ vai trò của MM và M∗M^* (vì ở đây M∗∗M^{**} được đồng nhất với MM).

Nhận xét

Việc cho cơ sở (ei)1≤i≤n(e_i)_{1 \leq i \leq n} cho phép ta đồng nhất đại số S(M)S(M) với đại số đa thức A[X1,…,Xn]A[X_1, \ldots, X_n] (§ 6, no. 6); công thức (75) cho thấy rằng tích nội bởi e∗αe^{*\alpha} chỉ là toán tử vi phân Dα=D1α1D2α2…DnαnD^\alpha = D_1^{\alpha_1}D_2^{\alpha_2}\ldots D_n^{\alpha_n}, trong đó Di=∂/∂XiD_i = \partial/\partial X_i với 1≤i≤n1 \leq i \leq n (§ 10, no. 11, Ví dụ).

Sau cùng, xét đại số ngoài Λ(M)\Lambda(M), đại số này có cơ sở là tập hợp các phần tử eJe_J, trong đó JJ chạy qua tập hợp các tập con của khoảng {1,n}\{1, n\} của N\mathbf{N} (§ 7, no. 8, Định lý 1); tương tự Λ(M∗)\Lambda(M^*) có cơ sở là các phần tử eJ∗e_J^*. Từ công thức (68) của no. 9 suy ra rằng

{eK∗∧eJ=0neˆˊu K∉JeK∗∧eJ=(−1)p(p−1)/2ρK,J−KeJ−Kneˆˊu K⊂J vaˋ p=Card⁡(K), \begin{cases} e_K^* \wedge e_J = 0 & \text{nếu } K \notin J \\ e_K^* \wedge e_J = (-1)^{p(p-1)/2} \rho_{K, J-K} e_{J-K} & \text{nếu } K \subset J \text{ và } p = \operatorname{Card}(K), \end{cases}

(76)

trong đó ρK,J−K\rho_{K, J-K} là số được định nghĩa bởi công thức (19) của § 7, no. 8. Có các công thức tương tự khi đổi chỗ vai trò của MM và M∗M^*.

11. Các đẳng cấu giữa ∧p(M)\wedge^p(M) và ∧n−p(M∗)\wedge^{n-p}(M^*) cho một môđun tự do m có nn chiều

Mệnh đề 12

Cho M là một A-môđun tự do có chiều n; cho e∈∧n(M)e \in \wedge^n(M) là một phần tử tạo thành một cơ sở của ∧n(M)\wedge^n(M) và cho e∗e^* là phần tử của ∧n(M∗)\wedge^n(M^*) sao cho {(−1)n(n−1)/2θ∧(e∗)}\{(-1)^{n(n-1)/2} \theta_{\wedge}(e^*)\} là cơ sở đối ngẫu của {e}\{e\} trong (∧n(M))∗(\wedge^n(M))^*. Gọi ϕ:∧(M∗)→∧(M)\phi : \wedge(M^*) \to \wedge(M) là ánh xạ z↦z∧e∗z \mapsto z \wedge e^* và ϕ′:∧(M∗)→∧(M)\phi' : \wedge(M^*) \to \wedge(M) là ánh xạ z∗↦z∗∧ez^* \mapsto z^* \wedge e. Gọi ϕp\phi_p (resp. ϕp′\phi'_p) là hạn chế của ϕ\phi (resp. ϕ′\phi') trên ∧p(M)\wedge^p(M) (resp. ∧p(M∗)\wedge^p(M^*)). Khi đó:

(i) *Ánh xạ ϕ\phi là một đẳng cấu A-môđun trái trên ∧(M)\wedge(M) và ánh xạ ϕ′\phi' là một đẳng cấu A-môđun trái trên ∧(M∗)\wedge(M^*); hơn nữa các ánh xạ ϕ\phi và ϕ′\phi' là nghịch đảo của nhau.

(ii) *Ánh xạ ϕp\phi_p là một đẳng cấu của A-môđun ∧p(M)\wedge^p(M) lên A-môđun ∧n−p(M∗)\wedge^{n-p}(M^*) và ánh xạ ϕp′\phi'_p là một đẳng cấu của A-môđun ∧p(M∗)\wedge^p(M^*) lên A-môđun ∧n−p(M)\wedge^{n-p}(M).

(iii) *Nếu ta viết B(u,v∗)=⟨u,θ∧(v∗)⟩B(u, v^*) = \langle u, \theta_{\wedge}(v^*) \rangle với u∈∧(M)u \in \wedge(M) và v∗∈∧(M∗)v^* \in \wedge(M^*) thì, với u∗∈∧p(M∗)u^* \in \wedge^p(M^*) và v∗∈∧n−p(M∗)v^* \in \wedge^{n-p}(M^*),

B(ϕp′(u∗),v∗)=(−1)p(n−p)B(u∗,ϕn−p′(v∗)). B(\phi'_p(u^*), v^*) = (-1)^{p(n-p)} B(u^*, \phi'_{n-p}(v^*)).

Việc ϕ\phi là ∧(M)\wedge(M)-tuyến tính và ϕ′\phi' là ∧(M∗)\wedge(M^*)-tuyến tính suy ra từ các công thức (u∧v)∧e∗=u∧(v∧e∗)(u \wedge v) \wedge e^* = u \wedge (v \wedge e^*) và (u∗∧v∗)∧e=u∗∧(v∗∧e)(u^* \wedge v^*) \wedge e = u^* \wedge (v^* \wedge e) (no. 6, công thức (37)), dùng sự kiện rằng θ∧\theta_{\wedge} là một đẳng cấu từ ∧(M∗)\wedge(M^*) lên đại số đối của ∧(M)∗\wedge(M)^*. Mặt khác tồn tại một cơ sở (ei)1≤i≤n(e_i)_{1 \leq i \leq n} của M sao cho

e=e1∧e2∧⋯∧envaˋe∗=(−1)n(n−1)/2e1∗∧e2∗∧⋯∧en∗, e = e_1 \wedge e_2 \wedge \cdots \wedge e_n \quad \text{và} \quad e^* = (-1)^{n(n-1)/2} e_1^* \wedge e_2^* \wedge \cdots \wedge e_n^*,

trong đó (ei∗)(e_i^*) là cơ sở đối ngẫu với (ei)(e_i). Ta viết I={1,n}I = \{1, n\}; suy ra từ (76) rằng, với mọi tập con J của I có p phần tử,

{ϕ(eJ)=(−1)n(n−1)/2+p(p−1)/2ρJ,I−JeI∗Jϕ′(eJ∗)=(−1)p(p−1)/2ρJ,I−JeI−J. \begin{cases} \phi(e_J) = (-1)^{n(n-1)/2 + p(p-1)/2} \rho_{J, I-J} e_I^* J \\ \phi'(e_J^*) = (-1)^{p(p-1)/2} \rho_{J, I-J} e_{I-J}. \end{cases}

Điều này chứng minh rằng ϕ\phi và ϕ′\phi' là song ánh; hơn nữa ρJ,I−JρI−J,J=(−1)p(n−p)\rho_{J, I-J} \rho_{I-J, J} = (-1)^{p(n-p)} (§ 7, no. 8, công thức (21)); vì số

n(n−1)2+p(p−1)2+(n−p)(n−p−1)2+p(n−p)=n(n−1) \frac{n(n-1)}{2} + \frac{p(p-1)}{2} + \frac{(n-p)(n-p-1)}{2} + p(n-p) = n(n-1)

là chẵn, suy ra ϕ\phi và ϕ′\phi' là các ánh xạ ngược của nhau. Sau cùng, để chứng minh (77), chỉ cần lấy u∗=eJ∗u^* = e_J^* và v∗=eI−J∗v^* = e_{I-J}^*; việc kiểm tra cũng suy ra từ định nghĩa của θ∧\theta_{\wedge}, các công thức (78) và quan hệ ρJ,I−JρI−J,J=(−1)p(n−p)\rho_{J, I-J} \rho_{I-J, J} = (-1)^{p(n-p)} (§ 7, no. 8, công thức (21)). Chú ý rằng, với u∗∈∧p(M∗)u^* \in \wedge^p(M^*) và v∗∈∧n−p(M∗)v^* \in \wedge^{n-p}(M^*),

B(\phi_p'(u^*), v^*) là, sai khác một dấu, hệ số của u∗∧v∗u^* \wedge v^* theo cơ sở {e∗}\{e^*\} của Λn(M∗)\Lambda^n(M^*).

Mệnh đề 13

Dưới các giả thiết và ký hiệu của Mệnh đề 11, với mọi tự đồng cấu g của A-môđun M.

(79)(79)
(det⁡g)ϕ=Λ(tg)∘ϕ∘Λ(g).(\det g)\phi = \Lambda^{(tg)} \circ \phi \circ \Lambda(g).

Rõ ràng Λ(tg)=θΛ−1∘(tΛ(g))∘θΛ\Lambda^{(tg)} = \theta_{\Lambda}^{-1} \circ (t\Lambda(g)) \circ \theta_{\Lambda}; vì Λ(g)\Lambda(g) là một tự đồng cấu của đại số Λ(M)\Lambda(M) và theo định nghĩa, với mọi

z∈Λ(M),θΛ(Λ(g)(z)⊥e∗)=θΛ(e∗)⊥θΛ(Λ(g)(z)),z \in \Lambda(M), \quad \theta_{\Lambda}(\Lambda(g)(z) \perp e^*) = \theta_{\Lambda}(e^*) \perp \theta_{\Lambda}(\Lambda(g)(z)),
ta suy ra từ công thức (42) của no. 6 rằng
((θΛ−1∘(tΛ(g))∘θΛ)∘ϕ∘Λ(g))(z)=θΛ−1(tΛ(g)(θΛ(e∗))⊥z)=z⊥(Λ(tg)(e∗))=(det⁡g)(z⊥e∗)=(det⁡g)ϕ(z) ((\theta_{\Lambda}^{-1} \circ (t\Lambda(g)) \circ \theta_{\Lambda}) \circ \phi \circ \Lambda(g))(z) = \theta_{\Lambda}^{-1}(t\Lambda(g)(\theta_{\Lambda}(e^*)) \perp z) = z \perp (\Lambda^{(tg)}(e^*)) = (\det g)(z \perp e^*) = (\det g)\phi(z)
có tính đến § 8, no. 4, Mệnh đề 8.

Hệ quả

Với mọi tự đẳng cấu g của E,*

(80)(80)
Λ(tg−1)=(det⁡g)−1ϕ∘(Λ(g))∘ϕ−1.\Lambda^{(tg^{-1})} = (\det g)^{-1}\phi \circ (\Lambda(g)) \circ \phi^{-1}.

12. Áp dụng cho không gian con liên kết với một p-vectơ

Cho K là một trường và E một không gian vectơ trên K. Nhắc lại rằng với mỗi pp-vectơ z∈Λp(E)z \in \Lambda^p(E) được liên kết một không gian con hữu hạn chiều MzM_z của E, cụ thể là không gian con vectơ nhỏ nhất M của E sao cho z∈Λp(M)z \in \Lambda^p(M) (§ 7, no. 2, Hệ quả của Mệnh đề 4).

Mệnh đề 14

(i) *Trực giao của MzM_z trong E∗E^* là tập hợp các x∗∈E∗x^* \in E^* sao cho x∗⊥z=0x^* \perp z = 0.

(ii) Không gian con MzM_z liên kết với z là ảnh của Λp−1(E∗)\Lambda^{p-1}(E^*) dưới ánh xạ λz:u∗↦u∗⊥z\lambda_z : u^* \mapsto u^* \perp z từ Λp−1(E∗)\Lambda^{p-1}(E^*) vào E.

Ký hiệu N là ảnh của λz\lambda_z. Với x∗∈E∗x^* \in E^* và u∗∈Λp−1(E∗)u^* \in \Lambda^{p-1}(E^*),

⟨θΛ(x∗),u∗⊥z⟩=⟨θΛ(u∗∧x∗),z⟩=(−1)p−1⟨θΛ(x∗∧u∗),z⟩=(−1)p−1⟨θΛ(u∗),x∗⊥z⟩. \langle \theta_{\Lambda}(x^*), u^* \perp z \rangle = \langle \theta_{\Lambda}(u^* \wedge x^*), z \rangle = (-1)^{p-1} \langle \theta_{\Lambda}(x^* \wedge u^*), z \rangle \\ = (-1)^{p-1} \langle \theta_{\Lambda}(u^*), x^* \perp z \rangle.
Vậy, để x∗x^* trực giao với N, điều kiện cần và đủ là x∗⊥zx^* \perp z trực giao với θΛ(Λ(E∗))\theta_{\Lambda}(\Lambda(E^*)). Mà điều kiện sau tương đương với việc nói rằng x∗⊥z=0x^* \perp z = 0; thật vậy, lấy (eλ)λ∈L(e_{\lambda})_{\lambda \in L} là một cơ sở của E; trang bị cho L một thứ tự toàn phần, như đã thấy (§ 7, no. 8, Định lý 1) rằng các eJe_J, khi J chạy qua tập F(L)\mathscr{F}(L) các tập con hữu hạn của L, tạo thành một cơ sở của Λ(E)\Lambda(E); khi đó suy ra từ công thức (30) của no. 5 rằng các phần tử θ∧(eJ∗)\theta_{\wedge}(e_J^*) là, sai khác một dấu, các dạng tọa độ trên ∧(E)\wedge(E) đối với cơ sở (eJ)(e_J); do đó có mệnh đề của ta.

Vì thế trực giao của N gồm các x∗∈E∗x^* \in E^* sao cho x∗⊥z=0x^* \perp z = 0 và kết luận của (i) do đó sẽ suy ra từ (ii).

Trước hết ta chứng minh rằng N⊂MzN \subset M_z. Cho M là một không gian con vectơ của E sao cho z∈∧(M)z \in \wedge(M) và cho j:M→Ej : M \to E là đơn ánh chính tắc; ký hiệu μz\mu_z là ánh xạ v∗↦v∗⊥zv^* \mapsto v^* \perp z từ ∧p−1(M∗)\wedge^{p-1}(M^*) vào M; suy ra từ công thức (60) của no. 7 rằng có một sự phân tích chính tắc

λz:∧p−1(E∗)→∧p−1(tj)∧p−1(M∗)→μzM→jE \lambda_z : \wedge^{p-1}(E^*) \xrightarrow{\wedge^{p-1}(t_j)} \wedge^{p-1}(M^*) \xrightarrow{\mu_z} M \xrightarrow{j} E

điều đó chứng minh rằng N⊂MN \subset M và do đó N⊂MzN \subset M_z theo định nghĩa của MzM_z. Còn phải kiểm tra rằng N=MzN = M_z. Giả sử đảo lại: khi đó sẽ tồn tại một cơ sở (ei)1≤i≤n(e_i)_{1 \leq i \leq n} của MzM_z và một phần tử x∗∈E∗x^* \in E^* sao cho ⟨x∗,e1⟩=1,⟨x∗,ej⟩=0\langle x^*, e_1 \rangle = 1, \langle x^*, e_j \rangle = 0 với 2≤j≤n2 \leq j \leq n và sao cho x∗x^* trực giao với N và do đó x∗⊥z=0x^* \perp z = 0. Ta viết z=∑HaHeHz = \sum_H a_H e_H, trong đó tổng lấy trên các tập con của {1,n}\{1, n\} có pp phần tử. Theo (68) (no. 9),

x∗⊥eH=0neˆˊu 1∉Hx∗⊥e{1}∪H=eHneˆˊu H⊂{2,n} x^* \perp e_H = 0 \quad \text{nếu } 1 \notin H \\ x^* \perp e_{\{1\} \cup H} = e_H \quad \text{nếu } H \subset \{2, n\}

điều này cho thấy quan hệ x∗⊥z=0x^* \perp z = 0 kéo theo aH=0a_H = 0 với 1∈H1 \in H. Nhưng điều đó là không thể, vì khi đó zz sẽ thuộc ∧p(M′)\wedge^p(M'), trong đó M′M' là không gian con của M sinh bởi e2,…,ene_2, \ldots, e_n.

13. Các pp-vectơ thuần. Các đa tạp Grassmann

Cho K là một trường và E là một không gian vectơ trên K. Một pp-vectơ z∈∧p(E)z \in \wedge^p(E) được gọi là thuần (hay đôi khi phân tích được) nếu nó khác không và tồn tại các vectơ x1,…,xpx_1, \ldots, x_p trong E sao cho z=x1∧x2∧⋯∧xpz = x_1 \wedge x_2 \wedge \cdots \wedge x_p. Để có điều đó, điều kiện cần và đủ là không gian con MzM_z liên kết với zz (luôn luôn có chiều ≥p\geq p với z≠0z \neq 0) phải có chiều đúng bằng pp (vì khi đó ∧p(Mz)\wedge^p(M_z) có chiều bằng 1). Đặc biệt, mọi vô hướng khác không, mọi phần tử khác không của E=∧1(E)E = \wedge^1(E), mọi phần tử khác không của ∧n(E)\wedge^n(E), khi E có chiều nn, đều là thuần.

Mệnh đề 15

Cho E là một không gian vectơ chiều n và cho e là một phần tử ≠0\neq 0 của ∧n(E)\wedge^n(E) (do đó lập thành một cơ sở của không gian vectơ này). Gọi ϕ:∧(E)→∧(E∗)\phi : \wedge(E) \to \wedge(E^*) là đẳng cấu không gian vectơ liên kết với e (no. 11, Mệnh đề 12). Nếu z là một phần tử thuần của ∧p(E)\wedge^p(E), thì ϕ(z)\phi(z) là một phần tử thuần của ∧n−p(E∗)\wedge^{n-p}(E^*) và các không gian con liên kết với z và ϕ(z)\phi(z) là trực giao.

Các trường hợp p=0p = 0 và p=np = n là tầm thường. Vậy giả sử rằng 1≤p≤n−11 \leq p \leq n - 1 và cho z=x1∧⋯∧xp≠0z = x_1 \wedge \cdots \wedge x_p \neq 0. Khi đó tồn tại một cơ sở (ei)1≤i≤n(e_i)_{1 \leq i \leq n} của E sao cho ei=xie_i = x_i với 1≤i≤p1 \leq i \leq p và e=e1∧e2∧⋯∧ene = e_1 \wedge e_2 \wedge \cdots \wedge e_n. Khi đó từ công thức (78) của no. 11 suy ra rằng ϕ(z)=±ep+1∗∧⋯∧en∗\phi(z) = \pm e_{p+1}^* \wedge \cdots \wedge e_n^*, do đó mệnh đề được chứng minh.

Hệ quả

Nếu E có chiều n, mọi (n−1)(n-1)-vectơ khác không của E đều là thuần.

Mệnh đề 16

Để một phần tử z≠0z \neq 0 của ⋀p(E)\bigwedge^p(E) là thuần, điều kiện cần và đủ là, với mọi u∗∈⋀p−1(E∗)u^* \in \bigwedge^{p-1}(E^*),

(u∗⊥z)∧z=0. (u^* \perp z) \wedge z = 0.

Trường hợp p=0p = 0 là tầm thường và ta giả sử p≥1p \geq 1. Nếu z=x1∧⋯∧xpz = x_1 \wedge \cdots \wedge x_p, công thức (68) (no. 9) với n=p−1n = p - 1 cho thấy rằng u∗⊥zu^* \perp z là một tổ hợp tuyến tính của các xix_i (1≤i≤p1 \leq i \leq p), do đó có (81). Nếu trái lại, không gian con MzM_z liên kết với zz có chiều >p> p, hãy xét một cơ sở (ej)1≤j≤n(e_j)_{1 \leq j \leq n} của không gian con này với n>pn > p. Từ no. 11, Mệnh đề 13 suy ra rằng mỗi eje_j đều có dạng u∗⊥zu^* \perp z với một u∗∈⋀p−1(E∗)u^* \in \bigwedge^{p-1}(E^*) nào đó và do đó quan hệ (81) kéo theo ej∧z=0e_j \wedge z = 0 với 1≤j≤n1 \leq j \leq n. Suy ra rằng trong biểu thức z=∑HaHeHz = \sum_H a_H e_H (trong đó H chạy qua tập hợp các tập con của {1,n}\{1, n\} có pp phần tử) mọi hệ số aHa_H đều bằng không, do đó z=0z = 0, trái với giả thiết.

Tiêu chuẩn của Mệnh đề 16 tương đương với việc viết các điều kiện (81) khi u∗u^* chạy qua một cơ sở của ⋀p−1(E∗)\bigwedge^{p-1}(E^*). Đặc biệt, giả sử E có số chiều hữu hạn nn và gọi (ei)1≤i≤n(e_i)_{1 \leq i \leq n} là một cơ sở của E. Khi đó các điều kiện (81) tương đương với các điều kiện

(82−(J,H))(82-(J, H))
⟨eJ∗,(eH∗⊥eI)∧z⟩=0 \langle e_J^*, (e_H^* \perp e_I) \wedge z \rangle = 0
với mọi tập con J, H của {1,n}\{1, n\} sao cho Card(J)=p+1\mathrm{Card}(J) = p + 1 và Card(H)=p−1\mathrm{Card}(H) = p - 1. Bây giờ, nếu I và I' là hai tập con của {1,n}\{1, n\} có pp phần tử, các công thức (76) của no. 10 và bảng phép nhân (20) của § 7, no. 8 cho thấy rằng

⟨eJ∗,⟨eH∗⊥eI⟩∧eI′⟩=0 \langle e_J^*, \langle e_H^* \perp e_I \rangle \wedge e_{I'} \rangle = 0
trừ khi tồn tại một i∈{1,n}i \in \{1, n\} sao cho I−H={i}I - H = \{i\} và J−I′={i}J - I' = \{i\}, trong trường hợp đó

(83)(83)
⟨eJ∗,(eH∗⊥eI)∧eI′⟩=(−1)(p−1)(p−2)/2εi,J,H \langle e_J^*, (e_H^* \perp e_I) \wedge e_{I'} \rangle = (-1)^{(p-1)(p-2)/2} \varepsilon_{i, J, H}
trong đó εi,J,H=ρ{i},Hρ{i},I′\varepsilon_{i, J, H} = \rho_{\{i\}, H} \rho_{\{i\}, I'}; khi đó cũng có thể nói rằng với i∈J∩CHi \in J \cap C H, εi,J,H\varepsilon_{i, J, H} bằng +1+1 nếu số phần tử của J mà <i< i và số phần tử của H mà <i< i có cùng tính chẵn lẻ, và bằng −1-1 trong trường hợp ngược lại.

Ngay lập tức suy ra rằng nếu ta viết z=∑IaIeIz = \sum_I a_I e_I, trong đó I chạy qua tập hợp các tập con của {1,n}\{1, n\} có pp phần tử, thì quan hệ (82–(J, H)) tương đương với quan hệ

∑i∈J∪CHεi,J,HaJ−{i}aH∪{i}=0. \sum_{i \in J \cup C_H} \varepsilon_{i, J, H} a_{J-\{i\}} a_{H \cup \{i\}} = 0.

Các quan hệ (84) được gọi là các hệ thức của Grassmann; do đó đây là những điều kiện cần và đủ (khi J mô tả tập hợp các tập con có p+1p + 1 phần tử và H tập hợp các tập con có p−1p - 1 phần tử của {1,n}\{1, n\}) để một phần tử z≠0z \neq 0 của ⋀p(E)\bigwedge^p(E) là thuần.

Chú ý rằng các quan hệ (84) không độc lập. Ví dụ, với n=4n = 4 và p=2p = 2, các hệ thức của Grassmann rút gọn thành hệ thức duy nhất

a12a34−a13a24+a14a23=0. a_{12} a_{34} - a_{13} a_{24} + a_{14} a_{23} = 0.

Cho Dp(E)D_p(E) là tập con của ⋀p(E)\bigwedge^p(E) gồm các pp-vectơ thuần; rõ ràng Dp(E)D_p(E) là bão hòa đối với quan hệ tương đương giữa uu và vv: “tồn tại λ∈K∗\lambda \in K^* sao cho v=λuv = \lambda u” và hai phần tử u,vu, v của Dp(E)D_p(E) là tương đương theo quan hệ này khi và chỉ khi các không gian con MuM_u và MvM_v của E liên kết với chúng là như nhau. Do đó ta thu được một song ánh chính tắc của tập hợp các không gian con vectơ p chiều của E lên ảnh Gp(E)G_p(E) của Dp(E)D_p(E) trong không gian xạ ảnh P(⋀p(E))\mathbf{P}(\bigwedge^p(E)) liên kết với ⋀p(E)\bigwedge^p(E). Tập con Gp(E)G_p(E) của P(⋀p(E))\mathbf{P}(\bigwedge^p(E)) được gọi là đa tạp Grassmann chỉ số pp của không gian vectơ E. Khi E hữu hạn chiều và (ei)1≤i≤n(e_i)_{1 \leq i \leq n} là một cơ sở của E, đa tạp Grassmann chỉ số pp là tập hợp các điểm của P(⋀p(E))\mathbf{P}(\bigwedge^p(E)) mà với chúng một hệ tọa độ thuần nhất (aI)(a_I) (đối với cơ sở (eI)(e_I) của ⋀p(E)\bigwedge^p(E)) thỏa mãn các hệ thức Grassmann (84).

Khi E=KnE = K^n, đôi khi ta viết Gn,p(K)G_{n,p}(K) thay cho Gp(Kn)G_p(K^n), sao cho Gn,1(K)=Pn−1(K)G_{n,1}(K) = P_{n-1}(K). Ánh xạ M↦M0M \mapsto M^0, ánh xạ liên kết với mỗi không gian con pp chiều của KnK^n không gian con trực giao trong E∗E^* (được đồng nhất với KnK^n theo lựa chọn cơ sở đối ngẫu với cơ sở chính tắc của KnK^n), do đó xác định một song ánh chính tắc của Gn,p(K)G_{n,p}(K) lên Gn,n−p(K)G_{n,n-p}(K); Mệnh đề 15 cho thấy rằng song ánh này là hạn chế lên Gn,p(K)G_{n,p}(K) của một đẳng cấu chính tắc của không gian xạ ảnh P(⋀p(Kn))\mathbf{P}(\bigwedge^p(K^n)) lên không gian xạ ảnh P(⋀n−p(Kn))\mathbf{P}(\bigwedge^{n-p}(K^n)).

Bài tập

Xem bài tập của § 11.

Machine translation of the English, by gpt-5.4, against glossary version 34. Not checked by a person.