Bourbaki

Bài tập 26, § 2

Đại số, III, 625

It is set in small type as supplementary.

(a) Cho A và B là hai tập con được sắp tốt của R\mathbf{R} (chúng nhất thiết đếm được; xem Tôpô đại cương, IV, § 2, Bài tập 1). Chứng minh rằng A+BA + B là được sắp tốt và rằng, với mọi c∈A+Bc \in A + B, chỉ tồn tại một số hữu hạn cặp có thứ tự (a,b)(a, b) sao cho a∈A,b∈Ba \in A, b \in B và a+b=ca + b = c (để chứng minh rằng một tập con khác rỗng của A+BA + B có phần tử nhỏ nhất, hãy xét cận dưới lớn nhất của nó trong R\mathbf{R}).

(b) Cho K là một trường giao hoán. Trong không gian vectơ KRK^\mathbf{R}, xét không gian con E gồm các phần tử (αx)(\alpha_x) sao cho tập hợp (phụ thuộc vào (αx)(\alpha_x)) gồm các x∈Rx \in \mathbf{R} sao cho αx≠0\alpha_x \neq 0 là được sắp tốt. Với hai phần tử bất kỳ (αx)(\alpha_x), (βx)(\beta_x) của E, ta viết (αx)(βx)=(γx)(\alpha_x)(\beta_x) = (\gamma_x), trong đó γx=∑y+z=xαyβz\gamma_x = \sum_{y+z=x} \alpha_y \beta_z (một tổng có nghĩa nhờ (a)). Chứng minh rằng luật hợp thành này xác định, cùng với phép cộng, một cấu trúc trường trên E; các phần tử của E cũng được ký hiệu bởi ∑t∈RαtXt\sum_{t \in \mathbf{R}} \alpha_t X^t và được gọi là chuỗi lũy thừa hình thức với các số mũ thực được sắp tốt, với các hệ số trong K.

Lời giải

Chưa có lời giải nào được viết.

Bản dịch máy từ tiếng Anh, bởi gpt-5-6. Chưa được người kiểm tra.