Cho S là tập hợp các dấu P, P−, X, X−, x1, ..., xn, trong đó các chữ xi có trọng số 0, P và P− có trọng số 1, còn X, X− có trọng số 2. Với mỗi từ A trong L(S), ta định nghĩa phương sai của A như sau: mỗi chữ xi, và các dấu P, X, có phương sai 0; các dấu P−, X− có phương sai 1; phương sai của A là tổng \* (trong trường F2) \* các phương sai của những dấu xuất hiện trong A (nói cách khác, nó bằng 0 nếu A chứa một số chẵn các dấu có phương sai 1, và bằng 1 trong trường hợp ngược lại).
Một kiểu echelon có dấu là một từ cân bằng A trong L(S) (chương I, phụ lục, no. 3) thỏa mãn một trong hai điều kiện sau: (1) A là một trong các chữ xi; (2) nếu A có dạng fA1A2…Ap (chương I, phụ lục, no. 3, Hệ quả 2 của Mệnh đề 2), trong đó f là một trong các dấu P, P−, X, X−, p bằng 1 hoặc 2 và các Ai (1⩽i⩽p) là các từ cân bằng, thì mỗi Ai là một kiểu echelon có dấu; hơn nữa, nếu f=X, thì A1 và A2 có phương sai 0, còn nếu f=X−, thì A1 và A2 có phương sai 1.
Một kiểu echelon có dấu được gọi là hiệp biến nếu nó có phương sai 0, phản biến nếu nó có phương sai 1. Nếu trong một kiểu echelon có dấu A ta thay P− và X− lần lượt bởi P và X, ta được một kiểu echelon A∗ (§ 1, Bài tập 1). Mỗi hiện thực của kiểu echelon A∗ trên n phần tử E1, ..., En được gọi là một hiện thực của kiểu echelon có dấu A trên E1, ..., En, và được ký hiệu A(E1,…,En).
Cho E1, ..., En, E1′, ..., En′ là các tập hợp, và cho fi là một ánh xạ từ Ei vào Ei′ (1⩽i⩽n). Chứng minh rằng với mỗi kiểu echelon có dấu S trên x1, ..., xn, ta có thể gắn một ánh xạ {f1,…,fn}S có các tính chất sau:
(i) Nếu S là hiệp biến (tương ứng, phản biến), thì {f1,…,fn}S là một ánh xạ từ S(E1,…,En) vào S(E1′,…,En′) (tương ứng, từ S(E1′,…,En′) vào S(E1,…,En)).
nto S(E1,…,En)).
(ii) Nếu S là một chữ xi, thì {f1,…,fn}S là fi.
(iii) Nếu S là PT (resp. P−T), và nếu g={f1,…,fn}T là một ánh xạ của F vào F′, thì {f1,…,fn}S là mở rộng của g lên các tập hợp của các tập con (resp. mở rộng của g−1 lên các tập hợp của các tập con).
(iv) Nếu S là XTU hoặc X−TU, nếu {f1,…,fn}T là một ánh xạ g:F→F′ và nếu {f1,…,fn}U là một ánh xạ h:G→G′, thì {f1,…,fn}S là mở rộng g×h:F×G→F′×G′.
Ánh xạ {f1,…,fn}S được gọi là mở rộng chính tắc có dấu của f1,…,fn tương ứng với kiểu echelon có dấu S. Nếu S là một kiểu echelon (tức là nếu P− và X− không xuất hiện trong S), thì mở rộng chính tắc có dấu {f1,…,fn}S bằng ⟨f1,…,fn⟩S.
Chứng minh rằng, nếu fi là một ánh xạ của Ei vào Ei′, và nếu fi′ là một ánh xạ của Ei′ vào Ei′′ (1⩽i⩽n), thì đối với một kiểu echelon có dấu hiệp biến S, ta có
{f1′∘f1,…,fn′∘fn}S={f1′,…,fn′}S∘{f1,…,fn}S,
và đối với một kiểu echelon có dấu phản biến, ta có
{f1′∘f1, …,fn′∘fn}S={f1, …,fn}S∘{f1′, …,fn′}S.
Suy ra rằng, nếu fi là một song ánh của Ei lên Ei′ và nếu fi′ là song ánh ngược của nó (1⩽i⩽n), thì {f1,…,fn}S là một song ánh và {f1′,…,fn′}S là nghịch đảo của nó. Hơn nữa, nếu S∗ là kiểu echelon (không dấu) tương ứng với kiểu echelon có dấu S, thì {f1,…,fn}S bằng ⟨f1,…,fn⟩S∗ hoặc bằng ⟨f1′,…,fn′⟩S∗ tùy theo S là hiệp biến hay phản biến.