(a) Cho g là một đại số Lie. Gọi D là đại số Lie của các đạo hàm của g. Các iđêan đặc số g[k] của g được định nghĩa quy nạp như sau: g[0]=g và g[k+1] là không gian con của g sinh bởi các Dx (D∈D,x∈g[k]). Các điều kiện sau là tương đương: (1) mọi đạo hàm của g đều lũy linh; (2) g[k]={0} với k đủ lớn; (3) toàn cấu của g là lũy linh. Nếu chúng được thỏa mãn, g được gọi là lũy linh đặc trưng. Một đại số như vậy là lũy linh.
(b) Kiểm chứng rằng một đại số Lie 8 chiều được xác định bởi bảng phép nhân sau:
[x1,x2]=x3,[x1,x3]=x4,[x1,x4]=x5,[x1,x5]=x6[x1,x6]=x8,[x1,x7]=x8,[x2,x3]=x5,[x2,x4]=x6[x2,x5]=x7,[x2,x6]=2x8,[x3,x4]=−x7+x8,[x3,x5]=−x8
và [xi,xj]=0 với i+j>8. Chứng minh rằng
C2g=i=3∑8Kxi,C3g=i=4∑8Kxi,C4g=i=5∑8Kxi,C5g=i=6∑8Kxi,
C6g=Kx8,C7g={0},[C2g,C2g]=Kx7+Kx8,
và rằng toán tử chuyển của C2g vào C4g là ∑i=28Kxi. Suy ra rằng mọi đạo hàm D của g được xác định bởi các công thức Dxi=∑j=18uijxj. Sau đó chứng minh rằng uii=0 với mọi i nếu đặc số của K khác 2, từ đó g là lũy linh đặc trưng.
(c) Nếu đặc số của K là =2, chứng minh rằng đại số Lie g ở (b) không phải là đại số Lie dẫn xuất của bất kỳ đại số Lie nào. (Nếu g=Dh, trước hết chứng minh rằng h là lũy linh. Nhận xét rằng dimg/Dg=2, điều này cùng với Bài tập 7 (c) dẫn đến một mâu thuẫn.)