Bourbaki

§ 5. Đại số Lie giải được

Nhắc lại rằng từ nay KK ký hiệu một trường có đặc số 0 và mọi đại số Lie đều được giả thiết là hữu hạn chiều trên KK.†

1. Định nghĩa đại số Lie giải được

Định nghĩa 1

Một đại số Lie gg được gọi là giải được nếu đại số dẫn xuất bậc kk của nó DkgD^k g bằng không với kk đủ lớn.

Một đại số Lie lũy linh là giải được.

Mệnh đề 1

Các đại số con và các đại số thương của một đại số Lie giải được đều giải được. Mọi mở rộng của một đại số giải được bởi một đại số giải được đều giải được. Mọi tích hữu hạn của các đại số giải được đều giải được.

Cho gg là một đại số Lie, g′g' một đại số con, hh một iđêan của gg, t=g/ht = g/h và ϕ\phi là ánh xạ chính tắc của gg lên tt. Nếu gg giải được thì Dkg={0}D^k g = \{0\} với một số nguyên kk, do đó Dkg′⊂Dkg={0}D^k g' \subset D^k g = \{0\}, Dkt=ϕ(Dkg)={0}D^k t = \phi(D^k g) = \{0\} và vì thế g′g' và tt giải được. Nếu hh và tt giải được thì tồn tại các số nguyên s,ts, t sao cho

Dsh=Dtt={0}; D^s h = D^t t = \{0\};

khi đó Dtg⊂hD^t g \subset h, do đó Ds+tg=Ds(Dtg)⊂Dsh={0}D^{s+t} g = D^s(D^t g) \subset D^s h = \{0\} và gg giải được. Khẳng định cuối cùng suy ra từ khẳng định thứ hai bằng quy nạp theo số các thừa số.

Mệnh đề 2

Cho gg là một đại số Lie. Các điều kiện sau là tương đương:

(a) gg giải được; (b) tồn tại một dãy giảm g=g0⊃g1⊃⋯⊃gn={0}g = g_0 \supset g_1 \supset \cdots \supset g_n = \{0\} các iđêan của gg sao cho các đại số gi/gi+1g_i/g_{i+1} là giao hoán (i=0,1,…,n−1i = 0, 1, \ldots, n-1); (c) tồn tại một dãy giảm g=g0′⊃g1′⊃⋯⊃gp′={0}g = g'_0 \supset g'_1 \supset \cdots \supset g'_p = \{0\} các đại số con của gg sao cho gi+1′g'_{i+1} là một iđêan của gi′g'_i và gi′/gi+1′g'_i/g'_{i+1} là giao hoán (i=0,1,…,p−1i = 0, 1, \ldots, p-1); (d) tồn tại một dãy giảm g=g0′′⊃g1′′⊃⋯⊃gq′′={0}g = g''_0 \supset g''_1 \supset \cdots \supset g''_q = \{0\} các đại số con của gg sao cho gi+1′′g''_{i+1} là một iđêan của gi′′g''_i có đối chiều 1 (i=0,1,…,q−1i = 0, 1, \ldots, q-1).

(a) ⇒\Rightarrow (b): chỉ cần xét dãy các iđêan dẫn xuất của gg. (b) ⇒\Rightarrow (c): điều này hiển nhiên. (c) ⇒\Rightarrow (d): giả sử điều kiện (c) được thỏa mãn; mọi không gian con vectơ của gi′g'_i chứa gi+1′g'_{i+1} đều là một iđêan của gi′g'_i, do đó ngay lập tức suy ra (d). (d) ⇒\Rightarrow (a): điều này suy ra ngay lập tức từ việc một mở rộng của một đại số giải được bởi một đại số giải được là giải được.

† Người đọc sẽ chú ý rằng giả thiết về đặc số của KK không được dùng trong số 1 và 2 của đoạn này.

Các ví dụ về đại số Lie giải được

I. Cho gg là một không gian vectơ 2 chiều trên KK và (e1,e2)(e_1, e_2) là một cơ sở của gg. Tồn tại một và chỉ một phép nhân song tuyến tính phản xứng (x,y)↦[x,y](x, y) \mapsto [x, y] trên gg sao cho [e1,e2]=e2[e_1, e_2] = e_2. Dễ dàng kiểm tra rằng như vậy gg được trang bị một cấu trúc đại số Lie giải được. Bây giờ, cho hh là một đại số Lie không giao hoán chiều 2 trên KK. Ta chỉ ra rằng hh đẳng cấu với gg. Cho (f1,f2)(f_1, f_2) là một cơ sở của hh. Phần tử [f1,f2][f_1, f_2] khác không (nếu không thì hh sẽ giao hoán) và do đó nó sinh ra một không gian con 1 chiều tt của hh. Khi đó [h,h]=t[h, h] = t. Cho (e1′,e2′)(e'_1, e'_2) là một cơ sở của hh sao cho e2′∈te'_2 \in t. Khi đó [e1′,e2′]=λe2′[e'_1, e'_2] = \lambda e'_2 với λ≠0\lambda \neq 0. Thay e1′e'_1 bằng λ−1e1\lambda^{-1} e_1, ta có thể giả sử rằng λ=1\lambda = 1, do đó có mệnh đề của ta.

II. Các công thức (5) của § 1 chứng minh rằng Dt(n,K)=n(n,K)\mathscr{D}t(n, K) = n(n, K). Vì n(n,K)n(n, K) lũy linh và do đó giải được, nên t(n,K)t(n, K) giải được. Vậy st(n,K)st(n, K) giải được. Đặc biệt, st(2,K)st(2, K) đẳng cấu với đại số của Ví dụ I.

2. Căn của một đại số Lie

Cho a,ba, b là hai iđêan giải được của một đại số Lie gg. Đại số (a+b)/b(a + b)/b đẳng cấu với a/(a∩b)a/(a \cap b) và do đó giải được, còn a+ba + b, là một mở rộng của (a+b)/b(a + b)/b bởi bb, cũng giải được (Mệnh đề 1). Suy ra rằng một iđêan giải được cực đại của gg chứa mọi iđêan giải được của gg và do đó gg có một iđêan giải được lớn nhất. Điều này cho phép ta đưa ra định nghĩa sau đây:

Định nghĩa 2

Can của một đại số Lie là iđêan giải được lớn nhất của nó.

Mệnh đề 3

Can rr của một đại số Lie gg là iđêan nhỏ nhất của gg sao cho g/rg/r có căn là {0}\{0\}.

Cho aa là một iđêan của gg và ϕ\phi là ánh xạ chính tắc từ gg lên g/ag/a. Nếu căn của g/ag/a bằng không, thì ϕ(r)\phi(r), là một iđêan giải được của g/ag/a, bằng không; do đó r⊂ar \subset a.

Mặt khác, ảnh ngược ϕ−1(r′)\phi^{-1}(r') của căn r′r' của g/rg/r là một iđêan của gg giải được theo Mệnh đề 1 và do đó bằng rr; vì thế r′={0}r' = \{0\}.

Mệnh đề 4

Cho g1,…,gng_1, \ldots, g_n là các đại số Lie. Căn rr của tích của các gig_i là tích của các căn rir_i của các gig_i.

Tích r′r' của các rir_i là một iđêan giải được (Mệnh đề 1) và do đó r′⊂rr' \subset r. Ảnh chính tắc của rr trong gig_i là một iđêan giải được của gig_i và vì thế được chứa trong rir_i; do đó r⊂r′r \subset r'.

3. Căn lũy linh của một đại số Lie

Định nghĩa 3

Cho gg là một đại số Lie. Căn lũy linh của gg là giao của các hạt nhân của các biểu diễn đơn hữu hạn chiều của gg.

Nhận xét

(1) Cho ss là căn lũy linh của gg. Vì mọi dãy giảm các không gian vectơ con của gg đều dừng, tồn tại một số hữu hạn các biểu diễn đơn hữu hạn chiều của gg mà các hạt nhân của chúng có giao bằng ss.

Tổng trực tiếp của các biểu diễn này là nửa đơn và có hạt nhân là s. Suy ra tập hợp các hạt nhân của các biểu diễn nửa đơn hữu hạn chiều của g có một phần tử nhỏ nhất, cụ thể là s.

(2) Theo Mệnh đề 4 (c) của § 4, no. 3, s cũng là giao của các iđêan lũy linh lớn nhất của các biểu diễn hữu hạn chiều của g. Đặc biệt, s được chứa trong iđêan lũy linh lớn nhất của g và vì thế là một iđêan lũy linh của g.

(3) Mọi dạng tuyến tính λ\lambda trên g bằng không trên Dg\mathscr{D}g là một biểu diễn đơn (với không gian K) của g, do đó λ(s)={0}\lambda(s) = \{0\}. Suy ra s⊂Dgs \subset \mathscr{D}g. Mặt khác, s được chứa trong căn r của g theo Nhận xét 2. Ta sẽ chứng minh rằng s=r∩Dgs = r \cap \mathscr{D}g.

Bổ đề 1

Cho V là một không gian vectơ hữu hạn chiều trên K, g là một đại số con của gl(V) sao cho V là một g-môđun đơn và a là một iđêan giao hoán của g. Khi đó a∩Dg={0}a \cap \mathscr{D}g = \{0\}. Cho S là đại số con của L(V)\mathscr{L}(V) sinh bởi 1 và a.

Nếu b là một iđêan của g được chứa trong a sao cho Tr⁡bs=0\operatorname{Tr} bs = 0 với mọi b∈bb \in b và mọi s∈Ss \in S, thì đặc biệt, theo định nghĩa của S, Tr⁡(bn)=0\operatorname{Tr}(b^n) = 0 với mọi số nguyên n>0n > 0 và do đó b là lũy linh (Đại số, Chương VII, § 5, no. 5, Hệ quả 4 của Mệnh đề 13); vì mọi phần tử của b đều lũy linh, b={0}b = \{0\} (§ 4, no. 3, Bổ đề 2). Trước hết ta áp dụng điều này cho iđêan [g,a][g, a] của g. Nếu x∈g,a∈a,s∈Sx \in g, a \in a, s \in S, thì Tr⁡[x,a]s=Tr⁡(xas−axs)=Tr⁡x(as−sa)=0\operatorname{Tr}[x, a]s = \operatorname{Tr}(xas - axs) = \operatorname{Tr} x(as - sa) = 0 vì as=saas = sa; do đó [g,a]={0}[g, a] = \{0\}. Vậy các phần tử của g giao hoán với các phần tử của a và do đó cũng giao hoán với các phần tử của S. Nếu x,yx, y thuộc g và s∈Ss \in S, thì

Tr⁡[x,y]s=Tr⁡(xys−yxs)=Tr⁡x(ys−sy)=0 \operatorname{Tr}[x, y]s = \operatorname{Tr}(xys - yxs) = \operatorname{Tr} x(ys - sy) = 0

vì ys=syys = sy; khi đó lấy b là iđêan Dg∩a\mathscr{D}g \cap a, suy ra Dg∩a={0}\mathscr{D}g \cap a = \{0\}.

Định lý 1

Cho g là một đại số Lie, r là căn của nó và s là căn lũy linh của nó. Khi đó s=Dg∩rs = \mathscr{D}g \cap r.

Ta đã biết rằng s⊂Dg∩rs \subset \mathscr{D}g \cap r. Vì thế, chỉ cần chứng minh rằng nếu ρ\rho là một biểu diễn đơn hữu hạn chiều của g thì ρ(Dg∩r)={0}\rho(\mathscr{D}g \cap r) = \{0\}. Gọi k là số nguyên nhỏ nhất ≥0\geq 0 sao cho ρ(Dk+1r)={0}\rho(\mathscr{D}^{k+1}r) = \{0\}; đặt g′=ρ(g)g' = \rho(g), a′=ρ(Dkr)a' = \rho(D^k r); vì Dkr\mathscr{D}^k r là một iđêan của g nên a′a' là một iđêan của g′g'; iđêan này là giao hoán vì ρ(Dk+1r)={0}\rho(\mathscr{D}^{k+1}r) = \{0\}. Nếu V là không gian của ρ\rho, thì g′⊂gl⁡(V)g' \subset \operatorname{gl}(V) và V là một g′g'-môđun đơn. Khi đó ρ(Dg∩Dkr)⊂Dg′∩a′={0}\rho(\mathscr{D}g \cap \mathscr{D}^k r) \subset \mathscr{D}g' \cap a' = \{0\}. Nếu k>0k > 0, thì Dkr⊂Dg\mathscr{D}^k r \subset \mathscr{D}g và ρ(Dkr)={0}\rho(\mathscr{D}^k r) = \{0\}, trái với định nghĩa của k. Vậy k=0k = 0, nghĩa là

ρ(Dg∩r)={0}. \rho(\mathscr{D}g \cap r) = \{0\}.

Hệ quả 1

Cho g là một đại số Lie giải được. Căn lũy linh của g là Dg\mathscr{D}g. Nếu ρ\rho là một biểu diễn đơn hữu hạn chiều của g thì ρ(g)\rho(g) là giao hoán và đại số kết hợp L sinh bởi 1 và ρ(g)\rho(g) là một trường bậc hữu hạn trên K.

Ở đây r=gr = g, do đó s=Dgs = \mathscr{D}g. Vì thế φ(Dg)={0}\varphi(\mathscr{D}g) = \{0\}, điều đó chứng tỏ rằng g′=ρ(g)g' = \rho(g) là giao hoán. Mọi phần tử ≠0\neq 0 của LL đều khả nghịch theo Bổ đề Schur; vậy LL là một trường.

Hệ quả 2 (Định lý Lie). Cho gg là một đại số Lie giải được; giả sử rằng KK đóng đại số. Cho MM là một gg-môđun có số chiều hữu hạn trên KK và cho (Mi)0≤i≤r(M_i)_{0 \leq i \leq r} là một chuỗi Jordan-Hölder của MM. Khi đó Mi−1/MiM_{i-1}/M_i có chiều bằng 1 trên KK với 1≤i≤r1 \leq i \leq r và, với mọi x∈gx \in g, xMi−1/Mi=λi(x)⋅1x_{M_{i-1}/M_i} = \lambda_i(x) \cdot 1, trong đó λi\lambda_i là một dạng tuyến tính trên gg triệt tiêu trên Dg\mathscr{D}g. Đặc biệt, mọi gg-môđun đơn có chiều hữu hạn trên KK thực ra đều có chiều bằng 1.

Gọi ρi\rho_i là biểu diễn của gg trên Mi−1/MiM_{i-1}/M_i. Đại số kết hợp LiL_i sinh bởi 1 và ρi(g)\rho_i(g) là một trường, một mở rộng hữu hạn của KK và do đó bằng KK; và Mi−1/MiM_{i-1}/M_i là một LiL_i-môđun đơn, do đó dim⁡Mi−1/Mi=1\dim M_{i-1}/M_i = 1. Phần còn lại của hệ quả là hiển nhiên.

Nhận xét

(1) Nếu (Mi)0≤i≤r(M_i)_{0 \leq i \leq r} được thay bằng một chuỗi Jordan-Hölder khác của MM, thì dãy (λ1,…,λr)(\lambda_1, \ldots, \lambda_r) được thay bằng một dãy có dạng (λπ(1),…,λπ(r))(\lambda_{\pi(1)}, \ldots, \lambda_{\pi(r)}), trong đó π\pi là một phép hoán vị của {1,…,r}\{1, \ldots, r\}, như suy ra từ Định lý Jordan-Hölder.

(2) Cho (e1,…,er)(e_1, \ldots, e_r) là một cơ sở của MM sao cho ei∈Mi−1,ei∉Mie_i \in M_{i-1}, e_i \notin M_i (1≤i≤r1 \leq i \leq r). Nếu x∈gx \in g thì tự đồng cấu của MM tương ứng với xx được biểu diễn đối với cơ sở này bởi một ma trận tam giác mà các hệ số đường chéo là

λ1(x),…,λr(x). \lambda_1(x), \ldots, \lambda_r(x).

Hệ quả 3

Giả sử rằng KK đóng đại số. Nếu gg là một đại số Lie giải được rr-chiều, thì mọi iđêan của gg là một số hạng của một dãy giảm các iđêan có các chiều r,r−1,…,0r, r-1, \ldots, 0.

Mọi iđêan đều là một phần của một chuỗi Jordan-Hölder của gg, được xét như không gian của biểu diễn phụ hợp (Đại số, Chương I, § 6, no. 14, Hệ quả của Định lý 8); khi đó chỉ cần áp dụng Hệ quả 2.

Hệ quả 4

Giả sử rằng K=RK = \mathbf{R}. Cho gg là một đại số Lie giải được. Mọi biểu diễn đơn của gg đều có chiều ≤2\leq 2. Mọi iđêan của gg là một số hạng của một dãy giảm (gi)0≤i≤m(g_i)_{0 \leq i \leq m} các iđêan sao cho g0=g,gm={0},dim⁡gi−1/gi≤2g_0 = g, g_m = \{0\}, \dim g_{i-1}/g_i \leq 2 (1≤i≤m1 \leq i \leq m).

Điều này được chứng minh theo cách tương tự như đối với các Hệ quả 2 và 3, dùng sự kiện rằng mọi mở rộng đại số của R\mathbf{R} đều có bậc ≤2\leq 2.

Hệ quả 5

Để một đại số Lie gg là giải được, điều kiện cần và đủ là Dg\mathscr{D}g lũy linh.

Điều kiện đó là cần theo Hệ quả 1. Nó là đủ vì g/Dgg/\mathscr{D}g là giao hoán.

Hệ quả 6

Cho φ\varphi là một biểu diễn hữu hạn chiều của một đại số Lie gg. Cho* r là căn của g. Mọi phần tử x∈rx \in r sao cho ρ(x)\rho(x) lũy linh đều thuộc iđêan lũy linh lớn nhất nn của ρ\rho.

Cho V là không gian của ρ\rho; cho (Vi)0≤i≤r(V_i)_{0 \leq i \leq r} là một chuỗi Jordan-Hölder đối với cấu trúc r-môđun trên V và cho ρi\rho_i là biểu diễn của r có không gian Vi/Vi−1V_i / V_{i-1} (1≤i≤r1 \leq i \leq r). Nếu ρ(x)\rho(x) lũy linh, thì ρi(x)\rho_i(x) cũng vậy; vì với mọi ii, đại số sinh bởi ρi(x)\rho_i(x) là một trường, nên ρi(x)=0\rho_i(x) = 0. Ngược lại, nếu ρi(x)=0\rho_i(x) = 0 với mọi ii, thì ρ(x)=0\rho(x) = 0. Điều này cho thấy rằng tập aa các x∈rx \in r sao cho ρ(x)\rho(x) lũy linh là một iđêan của r. Mặt khác, [g,a]⊂Dg∩r⊂n∩r⊂a[g, a] \subset \mathscr{D}g \cap r \subset n \cap r \subset a và do đó aa là một iđêan của g. Điều này chứng minh rằng a⊂na \subset n.

Hệ quả 7

Cho g là một đại số Lie và r là căn của nó. Bốn tập hợp sau đây trùng nhau: (a) iđêan lũy linh lớn nhất của g; (b) iđêan lũy linh lớn nhất của r; (c) tập hợp các x∈rx \in r sao cho adgx\mathrm{ad}_g x là lũy linh; (d) tập hợp các x∈rx \in r sao cho adrx\mathrm{ad}_r x là lũy linh.

Ký hiệu các tập hợp này bởi a,b,c,da, b, c, d. Các bao hàm a⊂b⊂d⊂ca \subset b \subset d \subset c là hiển nhiên. c⊂ac \subset a theo Hệ quả 6 áp dụng cho biểu diễn liên hợp của g.

4. Một tiêu chuẩn cho tính giải được

Bổ đề 2

Cho xx là một tự đồng cấu của một không gian vectơ hữu hạn chiều V và s (tương ứng n) là thành phần nửa đơn (tương ứng lũy linh) của nó (xem Đại số, Chương VIII, § 9, no. 4, Định nghĩa 4). Cho ad x,ad s,ad n\mathrm{ad}\, x, \mathrm{ad}\, s, \mathrm{ad}\, n là các ảnh tương ứng của x,s,nx, s, n trong biểu diễn liên hợp của gl(V)\mathfrak{gl}(V). Khi đó ad s\mathrm{ad}\, s (tương ứng ad n\mathrm{ad}\, n) là thành phần nửa đơn (tương ứng lũy linh) của ad x\mathrm{ad}\, x và bằng một đa thức theo ad x\mathrm{ad}\, x với các hệ số trong K và không có số hạng hằng.

Ta biết rằng ad x=ad s+ad n,[ad s,ad n]=0\mathrm{ad}\, x = \mathrm{ad}\, s + \mathrm{ad}\, n, [\mathrm{ad}\, s, \mathrm{ad}\, n] = 0 và ad n\mathrm{ad}\, n là lũy linh (§4§ 4, Bổ đề 1). Ta sẽ chỉ ra rằng ad s\mathrm{ad}\, s là nửa đơn. Chỉ cần làm điều này khi K đóng đại số (xem Đại số, Chương VIII, § 9, no. 2, Mệnh đề 3). Khi đó, lấy (ei)1≤i≤n(e_i)_{1 \leq i \leq n} là một cơ sở của V sao cho s(ei)=λieis(e_i) = \lambda_i e_i (λi∈K\lambda_i \in K). Cho (Eij)(E_{ij}) là cơ sở chính tắc của Mn(K)=gl(V)M_n(K) = \mathfrak{gl}(V). Theo các công thức (5) của §1§ 1,

(ad s)⋅Eij=(λi−λj)Eij (\mathrm{ad}\, s)\cdot E_{ij} = (\lambda_i - \lambda_j)E_{ij}

và do đó ad s\mathrm{ad}\, s là nửa đơn. Khẳng định cuối cùng của bổ đề suy ra từ Đại số, Chương VIII, § 9, no. 4, Mệnh đề 8.

Bổ đề 3

Cho M là một không gian vectơ hữu hạn chiều, A và B là hai không gian vectơ con của gl(M)\mathfrak{gl}(M) sao cho B⊂AB \subset A và T là tập hợp các t∈gl(M)t \in \mathfrak{gl}(M) sao cho [t,A]⊂B[t, A] \subset B. Nếu z∈Tz \in T sao cho Tr(zu)=0\mathrm{Tr}(zu) = 0 với mọi u∈Tu \in T, thì zz là lũy linh.

Chỉ cần chứng minh điều này khi K đóng đại số, và từ đây về sau ta sẽ giả thiết như vậy. Cho s và n là các thành phần nửa đơn và lũy linh của z và cho (ei)(e_i) là một cơ sở của M sao cho s(ei)=λieis(e_i) = \lambda_i e_i (λi∈K\lambda_i \in K). Cho V⊂KV \subset K là không gian vectơ trên Q\mathbf{Q} sinh bởi các λi\lambda_i. Ta cần chứng minh rằng V={0}V = \{0\}. Cho f là một dạng tuyến tính Q\mathbf{Q}-tuyến tính trên V và cho t là tự đồng cấu của M sao cho

tei=f(λi)eite_i = f(\lambda_i)e_i. Nếu (Eij)(E_{ij}) là cơ sở chính tắc của gl(M)\mathfrak{gl}(M) được xác định bởi Eijek=δjkeiE_{ij}e_k = \delta_{jk}e_i, thì

(ad s)Eij=(λi−λj)Eij(ad t)Eij=(f(λi)−f(λj))Eij. \begin{align*} (\mathrm{ad}\ s)E_{ij} &= (\lambda_i - \lambda_j)E_{ij} \\ (\mathrm{ad}\ t)E_{ij} &= (f(\lambda_i) - f(\lambda_j))E_{ij}. \end{align*}

Tồn tại một đa thức P không có số hạng hằng và có các hệ số trong K sao cho P(λi−λj)=f(λi)−f(λj)P(\lambda_i - \lambda_j) = f(\lambda_i) - f(\lambda_j) với mọi i và j (thật vậy, nếu λi−λj=λh−λk\lambda_i - \lambda_j = \lambda_h - \lambda_k, thì f(λi)−f(λj)=f(λh)−f(λk)f(\lambda_i) - f(\lambda_j) = f(\lambda_h) - f(\lambda_k) và, nếu λi−λj=0\lambda_i - \lambda_j = 0, thì f(λi)−f(λj)=0f(\lambda_i) - f(\lambda_j) = 0). Khi đó ad t=P(ad s)\mathrm{ad}\ t = P(\mathrm{ad}\ s). Mặt khác, ad s\mathrm{ad}\ s là một đa thức không có số hạng hằng theo ad z\mathrm{ad}\ z. Bây giờ (ad z)(A)⊂B(\mathrm{ad}\ z)(A) \subset B, do đó cũng có (ad t)(A)⊂B(\mathrm{ad}\ t)(A) \subset B. Theo giả thiết 0=Tr(zt)=∑λif(λi)0 = \mathrm{Tr}(zt) = \sum \lambda_i f(\lambda_i), do đó 0=f(Tr(zt))=∑f(λi)20 = f(\mathrm{Tr}(zt)) = \sum f(\lambda_i)^2. Vì các f(λi)f(\lambda_i) là những số hữu tỉ, suy ra f=0f = 0, điều này hoàn tất chứng minh.

Định lý 2 (tiêu chuẩn của Cartan)

Cho g là một đại số Lie, M là một không gian vectơ hữu hạn chiều, ρ là một biểu diễn của g trên M và β là dạng song tuyến tính trên g liên kết với ρ. Khi đó ρ(g) là giải được khi và chỉ khi D\mathscr{D}g trực giao với g đối với β.

Hiển nhiên có thể quy về trường hợp g là một đại số con Lie của gl(M)\mathfrak{gl}(M) và ρ là ánh xạ đồng nhất. Nếu g giải được, D\mathscr{D}g được chứa trong iđêan lũy linh lớn nhất của biểu diễn đồng nhất của g (Định lý 1) và vì thế trực giao với g đối với β (§ 4, Mệnh đề 4 (d)). Giả sử rằng D\mathscr{D}g trực giao với g đối với β. Ta chứng minh rằng g giải được. Gọi T là tập hợp các t∈gl(M)t \in \mathfrak{gl}(M) sao cho [t,g]⊂Dg[t, g] \subset \mathscr{D}g. Nếu t∈Tt \in T và x, y thuộc g, thì [t,x]∈Dg[t, x] \in \mathscr{D}g và do đó

Tr(t[x,y])=β([t,x],y)=0 \mathrm{Tr}(t[x, y]) = \beta([t, x], y) = 0
do đó theo tính tuyến tính Tr(tu)=0\mathrm{Tr}(tu) = 0 với mọi u∈Dgu \in \mathscr{D}g. Ngoài ra, rõ ràng Dg⊂T\mathscr{D}g \subset T. Vậy nên (Bổ đề 3) mọi phần tử của D\mathscr{D}g đều lũy linh. Suy ra D\mathscr{D}g là lũy linh (§ 4, Hệ quả 3 của Định lý 1) và vì thế g là giải được (no. 3, Hệ quả 5 của Định lý 1).

5. Các tính chất bổ sung của căn

Mệnh đề 5

Cho g là một đại số Lie và r là căn của nó.* (a) Nếu ρ là một biểu diễn hữu hạn chiều của g và β là dạng song tuyến tính liên kết, thì r và D\mathscr{D}g trực giao đối với β. (b) r là trực giao của D\mathscr{D}g đối với dạng Killing. Cho x, y thuộc g, z∈rz \in r. Khi đó [y,z]∈Dg∩r[y, z] \in \mathscr{D}g \cap r và do đó

β([x,y],z)=β(x,[y,z])=0 \beta([x, y], z) = \beta(x, [y, z]) = 0
(Định lý 1). Suy ra (a). Gọi r' là trực giao của D\mathscr{D}g đối với dạng Killing. Nó là một iđêan của g (§ 3, no. 6, Mệnh đề 7 (a)) chứa r theo điều trên. Mặt khác, ảnh s của r' dưới biểu diễn kề của g là giải được (Định lý 2) và vì thế r' là giải được vì là một mở rộng trung tâm của s. Suy ra r' ⊂ r.

Hệ quả 1

Cho g là một đại số Lie. Khi đó g giải được khi và chỉ khi Dg\mathscr{D}g trực giao với g đối với dạng Killing.

Đây là một hệ quả ngay lập tức của Mệnh đề 5 (b).

Hệ quả 2

Căn r của một đại số Lie g là một iđêan đặc trưng.

Dg\mathscr{D}g là một iđêan đặc trưng và dạng Killing là hoàn toàn bất biến (§ 3, no. 6, Mệnh đề 10). Do đó trực giao của Dg\mathscr{D}g đối với dạng Killing là một iđêan đặc trưng (§ 3, no. 6, Mệnh đề 7 (b)).

Hệ quả 3

Cho g là một đại số Lie, r là căn của nó và a là một iđêan của g. Khi đó căn của a bằng r∩ar \cap a.

r ∩ a là một iđêan giải được của a và do đó được chứa trong căn r' của a. Ngược lại, r' là một iđêan của g (Hệ quả 2 và § 1, no. 4, Mệnh đề 2) và do đó r' ⊂ r.

Hệ quả 2 có thể được làm chính xác hơn như sau:

Mệnh đề 6

Cho g là một đại số Lie, r là căn của nó và n là iđêan lũy linh lớn nhất của nó. Mọi đạo hàm của g đều ánh xạ r vào n.

Cho D là một đạo hàm của g. Gọi g' = g + Kx_0 là một đại số Lie trong đó g là một iđêan đồng chiều 1 sao cho Dx = [x_0, x] với mọi x ∈ g (§ 1, no. 8, Ví dụ 1). Theo Hệ quả 3 của Mệnh đề 5, r được chứa trong căn r' của g'. Khi đó D(r) = [x_0, r] ⊂ [g', g'] ∩ r' = s'. Với mọi x ∈ s', ad_{g'} x là lũy linh (Định lý 1). Do đó, với mọi x ∈ s' ∩ g, ad_g x là lũy linh. Vậy D(r) được chứa trong iđêan lũy linh s' ∩ g của g.

Hệ quả

Iđêan lũy linh lớn nhất của một đại số Lie là một iđêan đặc trưng.

Nhận xét

Để tóm tắt một số kết quả trên đây, chú ý rằng, nếu r, n, s, t lần lượt ký hiệu căn của g, iđêan lũy linh lớn nhất của g, căn lũy linh của g và trực giao của g đối với dạng Killing, thì

r⊃t⊃n⊃s. r \supset t \supset n \supset s.

Bao hàm thức r ⊃ t suy ra từ Mệnh đề 5 (b). Bao hàm thức t ⊃ n suy ra từ § 4, no. 4, Mệnh đề 6 (b). Bao hàm thức n ⊃ s đã được chỉ ra trong Nhận xét 2 của no. 3.

6. Mở rộng trường cơ sở

Cho g là một đại số Lie trên K và K_1 là một mở rộng của K. Rõ ràng g_{(K_1)} là giải được khi và chỉ khi g giải được, vì Dn(g(K1))=(Dng)(K1)\mathscr{D}^n(g_{(K_1)}) = (\mathscr{D}^n g)_{(K_1)}.

Cho r là căn của g. Khi đó r(K1)r_{(K_1)} là căn của g(K1)g_{(K_1)}. Thật vậy, gọi β\beta là dạng Killing của g. Vì r là trực giao của Dg\mathscr{D}g đối với β\beta (Mệnh đề 5 (b)), r(K1)r_{(K_1)} là trực giao của (Dg)(K1)=D(g(K1))(\mathscr{D}g)_{(K_1)} = \mathscr{D}(g_{(K_1)}) đối với dạng suy ra từ β\beta bằng cách mở rộng từ K lên K1K_1, tức là dạng Killing của g(K1)g_{(K_1)} (§ 3, no. 8). Khi đó mệnh đề của chúng ta suy ra từ một lần áp dụng nữa của Mệnh đề 5 (b).

Bài tập

Các quy ước của § 5 vẫn còn hiệu lực trừ khi có nói khác.

Xem các bài tập cho § 5.

Machine translation of the English, by gpt-5.4, against glossary version 34. Not checked by a person.