Bourbaki

6. Bộ lọc

1. Định nghĩa một bộ lọc

Định nghĩa 1

Một bộ lọc trên một tập hợp XX là một tập hợp F\mathfrak{F} gồm các tập con của XX có các tính chất sau:

(F1)(\mathrm{F}_1) Mọi tập con của XX chứa một tập hợp của F\mathfrak{F} đều thuộc F\mathfrak{F}. (FII)(\mathrm{F}_\mathrm{II}) Mọi giao hữu hạn của các tập hợp của F\mathfrak{F} đều thuộc F\mathfrak{F}. (FIII)(\mathrm{F}_\mathrm{III}) Tập rỗng không thuộc F\mathfrak{F}.

Suy ra từ (FII)(\mathrm{F}_\mathrm{II}) và (FIII)(\mathrm{F}_\mathrm{III}) rằng mọi giao hữu hạn của các tập hợp của F\mathfrak{F} đều không rỗng.

Một bộ lọc F\mathfrak{F} trên XX xác định một cấu trúc trên XX, các tiên đề của nó là (F1)(\mathrm{F}_1), (FII)(\mathrm{F}_\mathrm{II}) và (FIII)(\mathrm{F}_\mathrm{III}); cấu trúc này được gọi là một cấu trúc của tập hợp được lọc, và tập hợp XX được trang bị cấu trúc này được gọi là một tập hợp được lọc bởi F\mathfrak{F}.

Tiên đề (FII)(\mathrm{F}_\mathrm{II}) tương đương với phép hội của hai tiên đề sau: (FII a)(\mathrm{F}_{\mathrm{II}\,\mathrm{a}}) Giao của hai tập hợp của F\mathfrak{F} thuộc F\mathfrak{F}. (FII b)(\mathrm{F}_{\mathrm{II}\,\mathrm{b}}) XX thuộc F\mathfrak{F}.

Các tiên đề (FII b)(\mathrm{F}_{\mathrm{II}\,\mathrm{b}}) và (FIII)(\mathrm{F}_\mathrm{III}) cho thấy rằng không có bộ lọc nào trên tập rỗng.

Để một tập hợp các tập con thỏa mãn (F1)(\mathrm{F}_1) cũng thỏa mãn (FII b)(\mathrm{F}_{\mathrm{II}\,\mathrm{b}}) thì điều kiện cần và đủ là nó không rỗng. Một tập hợp các tập con thỏa mãn (F1)(\mathrm{F}_1) cũng thỏa mãn (FIII)(\mathrm{F}_\mathrm{III}) khi và chỉ khi nó khác P(X)\mathfrak{P}(X).

Các ví dụ về bộ lọc. 1) Nếu X≠∅X \neq \varnothing, tập hợp các tập con gồm riêng XX là một bộ lọc trên XX. Tổng quát hơn, tập hợp tất cả các tập con của XX chứa một tập con khác rỗng cho trước AA của XX là một bộ lọc trên XX.

2) Trong một không gian tôpô XX, tập hợp tất cả các lân cận của một tập con tùy ý khác rỗng AA của XX (và đặc biệt là tập hợp tất cả các lân cận của một điểm của XX) là một bộ lọc, được gọi là bộ lọc lân cận của AA.

3) Nếu XX là một tập hợp vô hạn, các phần bù của các tập con hữu hạn của XX là các phần tử của một bộ lọc. Bộ lọc các phần bù của các tập con hữu hạn của tập hợp N\mathbf{N} các số nguyên ⩾0\geqslant 0 được gọi là bộ lọc Fréchet.

2. So sánh các bộ lọc

Định nghĩa 2

Cho hai lọc F,F′\mathfrak{F}, \mathfrak{F}' trên cùng một tập hợp XX, ta nói F′\mathfrak{F}' mịn hơn F\mathfrak{F}, hoặc F\mathfrak{F} thô hơn F′\mathfrak{F}', nếu F⊂F\mathfrak{F} \subset \mathfrak{F}. Nếu còn có F≠F′\mathfrak{F} \neq \mathfrak{F}', thì ta nói F′\mathfrak{F}' mịn hơn thực sự F\mathfrak{F}, hoặc F\mathfrak{F} thô hơn thực sự F′\mathfrak{F}'.

Hai lọc được gọi là so sánh được nếu một lọc mịn hơn lọc kia. Tập hợp tất cả các lọc trên XX được sắp thứ tự bởi quan hệ " F\mathfrak{F} thô hơn F′\mathfrak{F}'"; quan hệ này được cảm sinh bởi quan hệ bao hàm trong P(P(X))\mathfrak{P}(\mathfrak{P}(X)).

Cho (Fi)i∈I(\mathfrak{F}_i)_{i \in I} là một họ không rỗng bất kỳ các lọc trên một tập hợp XX (do đó phải là không rỗng); khi đó tập hợp

F=⋂i∈IFi \mathfrak{F} = \bigcap_{i \in I} \mathfrak{F}_i

thỏa mãn các tiên đề (FI),(FII)(F_I), (F_{II}) và (FIII)(F_{III}) và do đó là một lọc; F\mathfrak{F} được gọi là giao của họ các lọc (Fi)i∈I(\mathfrak{F}_i)_{i \in I} và hiển nhiên là cận dưới lớn nhất của tập hợp các Fi\mathfrak{F}_i trong tập hợp có thứ tự của tất cả các lọc trên XX.

Lọc được tạo bởi tập hợp duy nhất XX là phần tử nhỏ nhất của tập hợp có thứ tự của tất cả các lọc. Ta sẽ thấy ở no. 4 rằng, nếu XX có nhiều hơn một phần tử, tập hợp tất cả các lọc trên XX không có phần tử lớn nhất.

Cho một tập hợp G\mathfrak{G} các tập con của một tập hợp XX, ta hãy xét xem có những lọc nào trên XX chứa G\mathfrak{G} hay không. Nếu tồn tại một lọc như vậy thì theo (FII)(F_{II}) nó cũng chứa tập hợp G′\mathfrak{G}' gồm các giao hữu hạn của các tập hợp của G\mathfrak{G} (bao gồm XX, là giao của tập con rỗng của G\mathfrak{G}); do đó điều kiện cần để một lọc như vậy tồn tại là tập con rỗng của XX không thuộc G′\mathfrak{G}'. Điều kiện này cũng đủ, vì theo (FI)(F_I) mọi lọc chứa G′\mathfrak{G}' cũng chứa tập hợp G′′\mathfrak{G}'' gồm các tập con của XX chứa một tập hợp của G′\mathfrak{G}'. Hiện nay G′′\mathfrak{G}'' rõ ràng thỏa mãn (FI)(F_I); nó thỏa mãn (FII)(F_{II}) do định nghĩa của G′\mathfrak{G}'; và cuối cùng nó thỏa mãn (FIII)(F_{III}) vì tập con rỗng của XX không thuộc G′\mathfrak{G}'. Vậy G′′\mathfrak{G}'' là lọc thô nhất chứa G\mathfrak{G}, và ta đã chứng minh:

Mệnh đề 1

Một điều kiện cần và đủ để tồn tại một lọc trên XX chứa một tập hợp G\mathfrak{G} các tập con của XX là không có tập con hữu hạn nào của G\mathfrak{G} có giao rỗng.

Bộ lọc G′′\mathfrak{G}'' được định nghĩa ở trên được nói là được sinh bởi G\mathfrak{G}, và G\mathfrak{G} được nói là một cơ sở con của G′′\mathfrak{G}''.

Ví dụ

Cho S\mathscr{S} là một tập hợp bất kỳ các tập con của một tập hợp XX, và cho T\mathfrak{T} là tôpô trên XX được sinh bởi S\mathscr{S} (§\S 2, no. 3, Ví dụ II). Vì tập hợp các giao hữu hạn của các tập hợp của S\mathscr{S} là một cơ sở của T\mathfrak{T}, nên suy ra từ chứng minh của Mệnh đề 1 ở trên và từ Mệnh đề 3 của §\S 1, no. 3 rằng với mỗi x \in X \text{ bộ lọc lân cận của } x \text{ đối với } \mathfrak{T} \text{ được sinh bởi tập hợp } \mathfrak{G}(x) \text{ gồm các tập hợp của } \mathscr{S} \text{ chứa } x.

Hệ quả 1

Cho F\mathfrak{F} là một bộ lọc trên một tập hợp XX, và AA là một tập con của XX. Khi đó tồn tại một bộ lọc F′\mathfrak{F}' mịn hơn F\mathfrak{F} và sao cho A∈F′A \in \mathfrak{F}', khi và chỉ khi AA giao với mọi tập hợp của F\mathfrak{F}.

Hệ quả 2

Một tập hợp Φ\Phi các bộ lọc trên một tập hợp không rỗng XX có một cận trên bé nhất trong tập hợp tất cả các bộ lọc trên XX khi và chỉ khi, với mọi dãy hữu hạn (Fi)1≤i≤n(\mathfrak{F}_i)_{1 \leq i \leq n} các phần tử của Φ\Phi và mọi Ai∈FiA_i \in \mathfrak{F}_i (1≤i≤n1 \leq i \leq n), giao A1∩⋯∩AnA_1 \cap \cdots \cap A_n không rỗng.

Vì điều kiện này biểu thị rằng hợp G\mathfrak{G} của các bộ lọc F∈Φ\mathfrak{F} \in \Phi thỏa mãn điều kiện của Mệnh đề 1.

Hệ quả 3

Tập hợp có thứ tự của tất cả các bộ lọc trên một tập hợp không rỗng XX là quy nạp.

Mọi tập hợp có thứ tự tuyến tính Φ\Phi các bộ lọc trên XX đều thỏa mãn điều kiện của Hệ quả 2 của Mệnh đề 1, vì các tập hợp AiA_i đều thuộc cùng một Fj\mathfrak{F}_j theo giả thiết, và ta có thể áp dụng (FII)(\mathrm{F}_{\mathrm{II}}).

3. Cơ sở của một bộ lọc

Nếu G\mathfrak{G} là một cơ sở con của một bộ lọc F\mathfrak{F} trên XX (no. 2), thì F\mathfrak{F} nói chung không phải là tập hợp các tập con của XX chứa một tập hợp của G\mathfrak{G}; để G\mathfrak{G} có tính chất này thì điều kiện cần và đủ là mọi giao hữu hạn của các tập hợp của G\mathfrak{G} đều chứa một tập hợp của G\mathfrak{G}. Do đó có mệnh đề sau:

Mệnh đề 2

Cho B\mathfrak{B} là một tập hợp các tập con của một tập hợp XX. Khi đó tập hợp các tập con của XX chứa một tập hợp của B\mathfrak{B} là một bộ lọc khi và chỉ khi B\mathfrak{B} có hai tính chất sau: (B_I) Giao của hai tập hợp của B\mathfrak{B} chứa một tập hợp của B\mathfrak{B}. (B_{II}) B\mathfrak{B} không rỗng, và tập con rỗng của XX không thuộc B\mathfrak{B}.

Định nghĩa 3

Một tập hợp B\mathfrak{B} các tập con của một tập hợp XX thỏa mãn các tiên đề (B_I) và (B_{II}) được gọi là một cơ sở của bộ lọc mà nó sinh ra. Hai cơ sở bộ lọc được nói là tương đương nếu chúng sinh ra cùng một bộ lọc.

Nếu G\mathfrak{G} là một dưới cơ sở của một lọc F\mathfrak{F}, thì tập G′\mathfrak{G}' gồm các giao hữu hạn của các tập của G\mathfrak{G} là một cơ sở của F\mathfrak{F} (no. 2).

Mệnh đề 3

Một tập con B\mathfrak{B} của một lọc F\mathfrak{F} trên XX là một cơ sở của F\mathfrak{F} khi và chỉ khi mọi tập của F\mathfrak{F} chứa một tập của B\mathfrak{B}.

Nếu B\mathfrak{B} là một cơ sở của F\mathfrak{F}, thì rõ ràng mọi tập của F\mathfrak{F} chứa một tập của B\mathfrak{B}; ngược lại, nếu mọi tập của F\mathfrak{F} chứa một tập của B\mathfrak{B}, thì tập hợp các tập con của XX chứa một tập của B\mathfrak{B} trùng với F\mathfrak{F} theo tính chất của (F1)(\mathrm{F}_1).

Mệnh đề 4

Trên một tập XX, một lọc F′\mathfrak{F}' với cơ sở B′\mathfrak{B}' mịn hơn một lọc F\mathfrak{F} với cơ sở B\mathfrak{B} khi và chỉ khi mọi tập của B\mathfrak{B} chứa một tập của B′\mathfrak{B}'.

Đây là một hệ quả ngay lập tức của các Định nghĩa 2 và 3.

Hệ quả

Hai cơ sở lọc B,B′\mathfrak{B}, \mathfrak{B}' trên một tập XX là tương đương khi và chỉ khi mọi tập của B\mathfrak{B} chứa một tập của B′\mathfrak{B}' và mọi tập của B′\mathfrak{B}' chứa một tập của B\mathfrak{B}.

Ví dụ về các cơ sở lọc. 1) Cho XX là một không gian tôpô. Mệnh đề 3 chỉ ra rằng các cơ sở của lọc lân cận của một điểm x∈Xx \in X chính xác là các hệ cơ bản các lân cận của xx (§ 1, no. 3, Định nghĩa 5).

2) Cho XX là một tập có hướng không rỗng đối với một quan hệ (σ)(\sigma) (Lý thuyết tập hợp, Chương III, § 1, no. 10). Với mỗi a∈Xa \in X, tập S(a)S(a) gồm tất cả các x∈Xx \in X sao cho a(σ)xa(\sigma)x sẽ được gọi là tiết diện của XX tương ứng với phần tử aa. Khi đó tập S\mathscr{S} các tiết diện của XX là một cơ sở lọc, vì nó rõ ràng thỏa mãn (BII)(\mathrm{B}_{\mathrm{II}}), và nếu a,ba, b là hai phần tử bất kỳ của XX, thì theo giả thiết tồn tại một phần tử c∈Xc \in X sao cho a(σ)ca(\sigma)c và b(σ)cb(\sigma)c, và do đó

S(c)⊂S(a)∩S(b), S(c) \subset S(a) \cap S(b),
sao cho (B1)(\mathrm{B}_1) được thỏa mãn. Lọc sinh bởi S\mathscr{S} được gọi là lọc tiết diện của tập có hướng XX.

Chẳng hạn, lọc Fréchet (no. 1) là lọc tiết diện của tập hợp có thứ tự N\mathbf{N}, được xem như có hướng bởi quan hệ ⩽\leqslant. Cho F\mathfrak{F} là một lọc trên một tập hợp ZZ. Vì F\mathfrak{F} có hướng đối với quan hệ ⊃\supset [do tiên đề (FII)(\mathrm{F}_{\mathrm{II}})] ta có thể định nghĩa một lọc tiết diện trên F\mathfrak{F}; ở đây một tiết diện của F\mathfrak{F} đối với một tập hợp A∈FA \in \mathfrak{F} là tập hợp S(A)S(A) gồm tất cả các M∈FM \in \mathfrak{F} sao cho M⊂AM \subset A. Lọc này được gọi là lọc tiết diện của lọc F\mathfrak{F}.

4. Các lọc siêu

Định nghĩa 4

Một lọc siêu trên một tập hợp XX là một lọc F\mathfrak{F} sao cho không có lọc nào trên XX mịn hơn thực sự F\mathfrak{F} (nói cách khác, là một phần tử cực đại trong tập hợp có thứ tự của tất cả các lọc trên XX).

Vì tập hợp có thứ tự của tất cả các lọc trên XX là quy nạp (no. 2, Mệnh đề 1, Hệ quả 3), bổ đề Zorn (Lý thuyết tập hợp, R, § 6, no. 10) chỉ ra rằng:

Định lý 1

Nếu F\mathfrak{F} là một lọc bất kỳ trên một tập hợp XX, thì có một lọc siêu mịn hơn F\mathfrak{F}.

Mệnh đề 5

Cho F\mathfrak{F} là một lọc siêu trên một tập hợp XX. Nếu AA và BB là hai tập con của XX sao cho A∪B∈FA \cup B \in \mathfrak{F}, thì hoặc A∈FA \in \mathfrak{F} hoặc B∈FB \in \mathfrak{F}.

Nếu mệnh đề này sai, tồn tại các tập con AA và BB của XX sao cho A∉FA \notin \mathfrak{F} và B∉FB \notin \mathfrak{F} và A∪B∈FA \cup B \in \mathfrak{F}. Cho G\mathfrak{G} là tập hợp các tập con MM của XX sao cho A∪M∈FA \cup M \in \mathfrak{F}. Dễ dàng kiểm tra rằng G\mathfrak{G} là một lọc trên XX, và G\mathfrak{G} mịn hơn thực sự F\mathfrak{F}, vì B∈GB \in \mathfrak{G}; nhưng điều này mâu thuẫn với giả thiết rằng F\mathfrak{F} là một lọc siêu.

Hệ quả

Nếu hợp của một dãy hữu hạn* (Ai)1≤i≤n(A_i)_{1 \leq i \leq n} các tập con của XX thuộc một lọc siêu F\mathfrak{F}, thì ít nhất một trong các AiA_i thuộc F\mathfrak{F}.

Chứng minh được thực hiện bằng quy nạp theo nn. Đặc biệt, nếu (Ai)1≤i≤n(A_i)_{1 \leq i \leq n} là một phủ của XX, thì ít nhất một trong các AiA_i thuộc F\mathfrak{F}. Mệnh đề 5 đặc trưng các lọc siêu; tổng quát hơn, ta có:

Mệnh đề 6

Cho* G\mathfrak{G} là một cơ sở phụ của một bộ lọc trên một tập hợp XX. Nếu với mỗi tập con YY của XX ta có hoặc là Y∈GY \in \mathfrak{G} hoặc là ∁Y∈G\complement Y \in \mathfrak{G}, thì G\mathfrak{G} là một siêu lọc trên XX.

Cho F\mathfrak{F} là một bộ lọc chứa G\mathfrak{G} (có một bộ lọc như vậy, theo giả thiết); khi đó F\mathfrak{F} trùng với G\mathfrak{G}; vì nếu Y∈FY \in \mathfrak{F} thì ∁Y∉F\complement Y \notin \mathfrak{F}; do đó ∁Y∉G\complement Y \notin \mathfrak{G} và suy ra Y∈GY \in \mathfrak{G}.

Ví dụ về một siêu lọc. Tập hợp tất cả các tập con của một tập hợp không rỗng XX chứa một phần tử cho trước a∈Xa \in X là một siêu lọc; vì nó là một bộ lọc, và nếu YY là một tập con bất kỳ của XX thì hoặc là a∈Ya \in Y hoặc là a∈∁Ya \in \complement Y. Những siêu lọc như vậy được gọi là tầm thường.

Ngoài ví dụ này, ta sẽ không bao giờ chứng minh sự tồn tại của một siêu lọc (ngay cả trên một tập vô hạn đếm được) trừ khi sử dụng Định lý 1 (và do đó tiên đề lựa chọn).

Nhận xét

Nếu XX chứa ít nhất hai phần tử, thì có ít nhất hai siêu lọc phân biệt trên XX, và do đó tập hợp có thứ tự của các bộ lọc trên XX không có phần tử lớn nhất.

Mệnh đề 7

Mọi bộ lọc* F\mathfrak{F} trên một tập hợp XX là giao của các siêu lọc mịn hơn F\mathfrak{F}.

Rõ ràng giao này chứa F\mathfrak{F}. Ngược lại, cho AA là một tập con của XX không thuộc F\mathfrak{F}, và ký hiệu A′A' là ∁A\complement A; AA không chứa tập hợp nào của F\mathfrak{F}; do đó mọi M∈FM \in \mathfrak{F} đều giao với A′A' và vì vậy (no. 2, Mệnh đề 1, Hệ quả 1) có một bộ lọc F′\mathfrak{F}' mịn hơn F\mathfrak{F} và chứa A′A'. Nếu U\mathfrak{U} là một siêu lọc mịn hơn F′\mathfrak{F}' (Định lý 1) thì suy ra A∉UA \notin \mathfrak{U}. Điều này hoàn thành chứng minh.

5. Bộ lọc cảm sinh

Mệnh đề 8

Cho* F\mathfrak{F} là một bộ lọc trên một tập hợp XX và AA là một tập con của XX. Khi đó vết FA\mathfrak{F}_A của F\mathfrak{F} trên AA là một bộ lọc khi và chỉ khi mỗi tập hợp của F\mathfrak{F} giao với AA.

Vì (M∩N)∩A=(M∩A)∩(N∩A)(M \cap N) \cap A = (M \cap A) \cap (N \cap A) ta thấy rằng FA\mathfrak{F}_A thỏa mãn (FII)(\mathrm{F}_{\mathrm{II}}); một lần nữa, nếu M∩A⊂P⊂AM \cap A \subset P \subset A thì P=(M∪P)∩AP = (M \cup P) \cap A, do đó FA\mathfrak{F}_A thỏa mãn (F1)(\mathrm{F}_1). Suy ra FA\mathfrak{F}_A là một lọc khi và chỉ khi nó thỏa mãn (FIII)(\mathrm{F}_{\mathrm{III}}), nghĩa là khi và chỉ khi mỗi tập hợp của F\mathfrak{F} giao với AA.

Đặc biệt, nếu A∈FA \in \mathfrak{F} thì FA\mathfrak{F}_A là một lọc trên AA, theo (FII)(\mathrm{F}_{\mathrm{II}}) và (FIII)(\mathrm{F}_{\mathrm{III}}).

Định nghĩa 5

Cho AA là một tập con của một tập hợp XX và F\mathfrak{F} là một lọc trên XX. Nếu vết của F\mathfrak{F} trên AA là một lọc trên AA, thì lọc này được gọi là cảm sinh bởi F\mathfrak{F} trên AA.

Nếu một lọc F\mathfrak{F} trên XX cảm sinh một lọc trên A⊂XA \subset X, thì vết trên AA của một cơ sở của F\mathfrak{F} là một cơ sở của FA\mathfrak{F}_A, do Mệnh đề 3 của no. 3.

Ví dụ

Cho XX là một không gian tôpô, AA một tập con của XX, xx một điểm của XX. Để vết trên AA của lọc lân cận B\mathfrak{B} của xx là một lọc trên AA, điều kiện cần và đủ là mọi lân cận của xx đều giao với AA, nghĩa là xx nằm trong bao đóng của AA (§ 1, no. 6, Định nghĩa 10).

Ví dụ này về một lọc cảm sinh có ý nghĩa vì hai lý do: trước hết vì nó đóng một vai trò quan trọng trong lý thuyết về giới hạn (§ 7, no. 5) và thứ hai vì mọi lọc đều có thể được định nghĩa theo cách này. Thật vậy, cho F\mathfrak{F} là một lọc trên một tập hợp XX và cho X′X' là tập hợp nhận được bằng cách ghép thêm một phần tử mới ω\omega vào XX, XX được đồng nhất với phần bù của {ω}\{ \omega \} trong X′X' (Lý thuyết tập hợp, R, § 4, no. 5); cho F′\mathfrak{F}' là lọc trên X′X' gồm các tập hợp M∪{ω}M \cup \{ \omega \} trong đó MM chạy qua F\mathfrak{F}. Với mỗi điểm x≠ωx \neq \omega của X′X', cho B(x)\mathfrak{B}(x) là tập hợp tất cả các tập con của X′X' chứa xx, và cho B(ω)\mathfrak{B}(\omega) là F′\mathfrak{F}'; khi đó các B(x)\mathfrak{B}(x) với x∈X′x \in X' hiển nhiên thỏa mãn các tiên đề (V1),(VII),(VIII)(\mathrm{V}_1), (\mathrm{V}_{\mathrm{II}}), (\mathrm{V}_{\mathrm{III}}) và (VIV)(\mathrm{V}_{\mathrm{IV}}) và do đó định nghĩa một tôpô trên X′X' mà đối với nó chúng là các lọc lân cận của các điểm. Cuối cùng ω\omega nằm trong bao đóng của XX trong tôpô này, và F\mathfrak{F} được cảm sinh bởi F′=B(ω)\mathfrak{F}' = \mathfrak{B}(\omega) trên XX. Tôpô được định nghĩa như vậy trên X′X' (tương ứng tập hợp X′X' với tôpô này) được gọi là tôpô (tương ứng không gian tôpô) liên kết với F\mathfrak{F}.

Mệnh đề 9

Một lọc cực đại UU trên một tập hợp XX cảm sinh một lọc trên một tập con AA của XX khi và chỉ khi A∈UA \in U; và nếu điều kiện này được thỏa mãn thì UAU_A là một lọc cực đại trên AA.

Đây là một hệ quả ngay lập tức của các Mệnh đề 5 và 6 của no. 4.

6. Ảnh trực tiếp và ảnh ngược của cơ sở lọc

Cho B\mathfrak{B} là một cơ sở lọc trên một tập hợp XX, và cho ff là một ánh xạ từ XX vào một tập hợp X′X'; khi đó f(B)f(\mathfrak{B}) là một cơ sở lọc trên X′X', vì quan hệ M≠∅M \neq \emptyset kéo theo f(M)≠∅f(M) \neq \emptyset, và ta có f(M∩N)⊂f(M)∩f(N)f(M \cap N) \subset f(M) \cap f(N). Nếu B1\mathfrak{B}_1 là một cơ sở của một lọc mịn hơn lọc có cơ sở B\mathfrak{B}, thì f(B1)f(\mathfrak{B}_1) là một cơ sở của một lọc mịn hơn lọc có cơ sở f(B)f(\mathfrak{B}) (no. 3, Mệnh đề 4).

Mệnh đề 10

Nếu B\mathfrak{B} là một cơ sở lọc siêu lọc trên một tập hợp XX và nếu ff là một ánh xạ của XX vào một tập hợp X′X', thì f(B)f(\mathfrak{B}) là một cơ sở lọc siêu lọc trên X′X'.

Cho M′M' là một tập con của X′X'. Nếu f‾−1(M′)\overline{f}^{-1}(M') chứa một tập hợp MM của B\mathfrak{B}, thì M′M' chứa f(M)f(M); nếu không, thì Cf‾−1(M′)=f‾−1C(M′)\mathscr{C}_{\overline{f}}^{-1}(M') = \overline{f}^{-1}\mathscr{C}(M') chứa một tập hợp NN của B\mathfrak{B} (no. 4, Mệnh đề 5) và do đó CM′\mathscr{C}M' chứa f(N)f(N). Suy ra kết quả từ Mệnh đề 6 của no. 4.

Xét riêng trường hợp ff là đơn ánh chính tắc A→XA \to X của một tập con AA của một tập hợp XX. Nếu B\mathfrak{B} là một cơ sở lọc trên AA thì f(B)f(\mathfrak{B}) là một cơ sở lọc trên XX. Lọc F\mathfrak{F} trên XX sinh bởi f(B)f(\mathfrak{B}) được gọi là lọc sinh bởi B\mathfrak{B} khi B\mathfrak{B} được xem như một cơ sở lọc trên XX. Nếu B\mathfrak{B} là một cơ sở lọc siêu lọc trên AA thì nó cũng là một cơ sở lọc siêu lọc trên XX theo Mệnh đề 10.

Tiếp theo hãy xét xem ảnh ngược của một cơ sở lọc có phải là một cơ sở lọc hay không. Cho B′\mathfrak{B}' là một cơ sở lọc trên một tập hợp X′X', và cho ff là một ánh xạ của một tập hợp XX vào X′X'; khi đó f‾−1(B′)\overline{f}^{-1}(\mathfrak{B}') là một cơ sở lọc trên XX khi và chỉ khi f‾−1(M′)≠∅\overline{f}^{-1}(M') \neq \varnothing với mỗi M′∈B′M' \in \mathfrak{B}'. Đây là một hệ quả ngay lập tức của quan hệ f‾−1(M′∩N′)=f‾−1(M′)∩f‾−1(N′)\overline{f}^{-1}(M' \cap N') = \overline{f}^{-1}(M') \cap \overline{f}^{-1}(N') và của Định nghĩa 3 của no. 3. Điều kiện này cũng có thể được biểu diễn bằng cách nói rằng mọi tập hợp của B′\mathfrak{B}' đều gặp f(X)f(X) [hoặc rằng vết của B′\mathfrak{B}' trên f(X)f(X) là một cơ sở lọc]. Nếu điều kiện này được thỏa mãn, thì f(f‾−1(B′))f(\overline{f}^{-1}(\mathfrak{B}')) là một cơ sở của một lọc mịn hơn lọc có cơ sở B\mathfrak{B}.

Nếu B\mathfrak{B} là một cơ sở lọc trên XX thì rõ ràng điều kiện trên được thỏa mãn bởi B′=f(B);  f‾−1(f(B))\mathfrak{B}' = f(\mathfrak{B}); \; \overline{f}^{-1}(f(\mathfrak{B})) khi đó là một cơ sở của một lọc thô hơn lọc có cơ sở B\mathfrak{B}.

Cho AA là một tập con của một tập hợp XX, φ\varphi là đơn ánh chính tắc A→XA \to X; nếu B\mathfrak{B} là một cơ sở lọc trên XX thì φ‾−1(B)\overline{\varphi}^{-1}(\mathfrak{B}) trùng với BA\mathfrak{B}_A. Nếu biểu diễn điều này như một cơ sở lọc của AA bằng điều kiện trên, ta thu được một phần của Mệnh đề 8 của no. 5.

7. Tích của các cơ sở lọc

Cho (Xi)i∈I(X_i)_{i \in I} là một họ các tập hợp, và với mỗi i∈Ii \in I cho Bi\mathfrak{B}_i là một cơ sở lọc trên XiX_i. Cho B\mathfrak{B} là tập hợp các tập con của tập tích X=∏i∈IXiX = \prod_{i \in I} X_i có dạng ∏i∈IMi\prod_{i \in I} M_i, trong đó Mi=XiM_i = X_i ngoại trừ một số hữu hạn các chỉ số và Mi∈BiM_i \in \mathfrak{B}_i với mỗi ii sao cho Mi≠XiM_i \neq X_i. Công thức (∏i∈IMi)∩(∏i∈INi)=∏i∈I(Mi∩Ni)\left( \prod_{i \in I} M_i \right) \cap \left( \prod_{i \in I} N_i \right) = \prod_{i \in I} (M_i \cap N_i) chỉ ra rằng B\mathfrak{B} là một cơ sở lọc trên XX. Chú ý rằng lọc có cơ sở B\mathfrak{B} cũng được sinh bởi các

tập hợp pr‾x−1(Mx)\overline{\mathrm{pr}}_x^{-1}(M_x), trong đó Mx∈BxM_x \in \mathfrak{B}_x và xx chạy qua II, vì

pr‾x−1(Mx)=Mx×∏i≠xXi. \overline{\mathrm{pr}}_x^{-1}(M_x) = M_x \times \prod_{i \neq x} X_i.

Định nghĩa 6

Một lọc Fi\mathfrak{F}_i trên mỗi tập hợp XiX_i của một họ các tập hợp (Xi)i∈I(X_i)_{i \in I} được cho, tích của các lọc Fi\mathfrak{F}_i là lọc trên X=∏i∈IXiX = \prod_{i \in I} X_i có một cơ sở là tập hợp các tập con của XX có dạng ∏i∈IMi\prod_{i \in I} M_i, trong đó Mi∈FiM_i \in \mathfrak{F}_i với mỗi i∈Ii \in I và Mi=XiM_i = X_i với mọi chỉ số trừ một số hữu hạn. Lọc tích được ký hiệu bởi ∏i∈IFi\prod_{i \in I} \mathfrak{F}_i.

Người đọc có thể dễ dàng kiểm tra rằng tích của các lọc Fi\mathfrak{F}_i cũng có thể được định nghĩa như lọc thô nhất G\mathfrak{G} trên XX sao cho pri(G)=Fi\mathrm{pr}_i(\mathfrak{G}) = \mathfrak{F}_i với mỗi i∈Ii \in I.

Các nhận xét trước đó chỉ ra rằng nếu Bi\mathfrak{B}_i là một cơ sở của Fi\mathfrak{F}_i với mỗi i∈Ii \in I, thì B\mathfrak{B} là một cơ sở của lọc tích ∏i∈IFi\prod_{i \in I} \mathfrak{F}_i (no. 3, Mệnh đề 3).

Trên một tích X=∏i∈IXiX = \prod_{i \in I} X_i của các không gian tôpô, lọc lân cận của mọi điểm x=(xi)x = (x_i) là tích của các lọc lân cận của các xix_i (§ 4, no. 1).

Phép dựng của một tích bộ lọc F=∏i∈IFi\mathfrak{F} = \prod_{i \in I} \mathfrak{F}_i đơn giản hơn khi tập hợp chỉ số II là hữu hạn: một cơ sở của F\mathfrak{F} khi đó được tạo bởi tất cả các tích ∏i∈IMi\prod_{i \in I} M_i, trong đó Mi∈FiM_i \in \mathfrak{F}_i với mỗi i∈Ii \in I. Nếu I={1,2,…,n}I = \{ 1, 2, \ldots, n \} ta viết

F1×F2×⋯×Fn \mathfrak{F}_1 \times \mathfrak{F}_2 \times \cdots \times \mathfrak{F}_n
thay cho ∏i∈IFi\prod_{i \in I} \mathfrak{F}_i.

8. Các bộ lọc sơ cấp

Định nghĩa 7

Cho (xn)n∈N(x_n)_{n \in \mathbf{N}} là một dãy vô hạn các phần tử của một tập hợp XX. Bộ lọc sơ cấp liên kết với dãy (xn)(x_n) là bộ lọc sinh bởi ảnh của bộ lọc Fréchet (no. 1) qua ánh xạ n→xnn \to x_n từ N\mathbf{N} vào XX.

Điều này cũng tương tự như nói rằng bộ lọc sơ cấp liên kết với (xn)(x_n) là tập hợp các tập con MM của XX sao cho xn∈Mx_n \in M ngoại trừ một số hữu hạn giá trị của nn. Nếu SnS_n chỉ tập hợp tất cả các xpx_p sao cho p≥np \geq n, thì các tập hợp SnS_n tạo thành một cơ sở của bộ lọc sơ cấp liên kết với dãy (xn)(x_n).

Bộ lọc sơ cấp liên kết với một dãy con vô hạn của một dãy (xn)(x_n) là mịn hơn bộ lọc sơ cấp liên kết với (xn)(x_n) (xem Bài tập 15).

Theo định nghĩa, mọi bộ lọc sơ cấp đều có một cơ sở đếm được. Ngược lại:

Mệnh đề 11

Nếu một bộ lọc F\mathfrak{F} có một cơ sở đếm được, thì nó là giao của các bộ lọc sơ cấp mịn hơn F\mathfrak{F}.

Hãy sắp xếp cơ sở đếm được của F\mathfrak{F} thành một dãy (An)n∈N(A_n)_{n \in \mathbf{N}}; nếu ta đặt

Bn=⋂p=0nAp, B_n = \bigcap_{p=0}^n A_p,

thì các BnB_n lại tạo thành một cơ sở của F\mathfrak{F} (no. 3, Mệnh đề 3) và ta có Bn+1⊂BnB_{n+1} \subset B_n với mỗi nn. Cho ana_n là một phần tử bất kỳ của BnB_n với mỗi n∈Nn \in \mathbf{N}; khi đó rõ ràng rằng F\mathfrak{F} thô hơn bộ lọc sơ cấp liên kết với (an)(a_n). Do đó giao J\mathfrak{J} của các bộ lọc sơ cấp mịn hơn F\mathfrak{F} tồn tại và mịn hơn F\mathfrak{F}; nếu J\mathfrak{J} thực sự mịn hơn F\mathfrak{F} thì tồn tại một tập hợp M∈JM \in \mathfrak{J} sao cho Bn∩∁M≠∅B_n \cap \complement M \neq \varnothing với mỗi nn; nếu bn∈Bn∩∁Mb_n \in B_n \cap \complement M, thì bộ lọc sơ cấp liên kết với dãy (bn)(b_n) mịn hơn F\mathfrak{F} và không chứa MM. Điều này mâu thuẫn với định nghĩa của J\mathfrak{J}.

Nhận xét

Một bộ lọc thô hơn một bộ lọc có một cơ sở đếm được không nhất thiết phải có một cơ sở đếm được; ví dụ, nếu XX là một tập hợp vô hạn không đếm được, thì bộ lọc gồm các phần bù của các tập con hữu hạn của XX không có cơ sở đếm được (nếu không thì tập hợp các tập con hữu hạn của XX sẽ là đếm được, trái với giả thiết); tuy nhiên bộ lọc này thô hơn mọi bộ lọc sơ cấp liên kết với một dãy vô hạn các phần tử phân biệt của XX.

9. Mầm đối với một bộ lọc

Cho F\mathfrak{F} là một lọc trên một tập hợp XX. Trên tập hợp P(X)\mathfrak{P}(X) gồm mọi tập con của XX, quan hệ

"tồn tại V∈FV \in \mathfrak{F} sao cho M∩V=N∩VM \cap V = N \cap V"

giữa MM và NN là một quan hệ tương đương RR, vì RR hiển nhiên phản xạ và đối xứng, và nếu M,N,PM, N, P là ba tập con của XX sao cho M∩V=N∩VM \cap V = N \cap V và N∩W=P∩WN \cap W = P \cap W, trong đó VV và WW thuộc F\mathfrak{F}, thì suy ra M∩(V∩W)=N∩(V∩W)=P∩(V∩W)M \cap (V \cap W) = N \cap (V \cap W) = P \cap (V \cap W) và V∩W∈FV \cap W \in \mathfrak{F}, do đó RR là bắc cầu. Lớp tương đương mod RR của một tập con MM của XX được gọi là mầm của MM đối với F\mathfrak{F}; tập thương P(X)/R\mathfrak{P}(X)/R được gọi là tập hợp các mầm của các tập con của XX (đối với F\mathfrak{F}). Các ánh xạ (M,N)→M∩N(M, N) \to M \cap N và (M,N)→M∪N(M, N) \to M \cup N từ

P(X)×P(X) \mathfrak{P}(X) \times \mathfrak{P}(X)

vào P(X)\mathfrak{P}(X) là tương thích với các quan hệ tương đương R×RR \times R và RR

M∩V=M′∩VvaˋN∩W=N′∩W, M \cap V = M' \cap V \quad \text{và} \quad N \cap W = N' \cap W,
sao cho
(M∩N)∩(V∩W)=(M′∩N′)∩(V∩W) (M \cap N) \cap (V \cap W) = (M' \cap N') \cap (V \cap W)
và
(M∪N)∩(V∩W)=(M∩(V∩W))∪(N∩(V∩W))=(M′∩(V∩W))∪(N′∩(V∩W))=(M′∪N′)∩(V∩W). \begin{align*} (M \cup N) \cap (V \cap W) &= (M \cap (V \cap W)) \cup (N \cap (V \cap W)) \\ &= (M' \cap (V \cap W)) \cup (N' \cap (V \cap W)) \\ &= (M' \cup N') \cap (V \cap W). \end{align*}

Chuyển qua các tập thương, các ánh xạ này cảm sinh hai ánh xạ từ (P(X)/R)×(P(X)/R)(\mathfrak{P}(X)/R) \times (\mathfrak{P}(X)/R) vào P(X)/R\mathfrak{P}(X)/R, mà ta ký hiệu (do lạm dụng ngôn ngữ) lần lượt là (ξ,η)→ξ∩η(\xi, \eta) \to \xi \cap \eta và (ξ,η)→ξ∪η(\xi, \eta) \to \xi \cup \eta. Đây là một bài tập đơn giản để kiểm tra rằng đối với các luật hợp thành này [được xác định trên toàn bộ P(X)/R\mathfrak{P}(X)/R] mọi phần tử đều lũy đẳng, và mỗi luật đều giao hoán và kết hợp và phân phối đối với luật kia. Hơn nữa, các quan hệ ξ=ξ∩η\xi = \xi \cap \eta và η=ξ∪η\eta = \xi \cup \eta là tương đương; nếu ta ký hiệu chúng (do lạm dụng ngôn ngữ) là ξ⊂η\xi \subset \eta, thì dễ dàng kiểm tra rằng quan hệ này là một thứ tự trên P(X)/R\mathfrak{P}(X)/R, theo đó P(X)/R\mathfrak{P}(X)/R là một dàn có phần tử nhỏ nhất là mầm của ∅\varnothing và phần tử lớn nhất là mầm của XX. Chú ý rằng quan hệ ξ⊂η\xi \subset \eta có nghĩa là tồn tại M∈ξM \in \xi, N∈ηN \in \eta và V∈FV \in \mathfrak{F} sao cho M∩V⊂N∩VM \cap V \subset N \cap V.

Bây giờ cho X′X' là một tập hợp khác, và cho Φ\Phi là tập hợp tất cả các ánh xạ của một tập hợp thuộc F\mathfrak{F} vào X′X'. Quan hệ trên Φ\Phi

"tồn tại V∈FV \in \mathfrak{F} sao cho ff và gg được xác định và trùng nhau trên VV"

giữa ff và gg là một quan hệ tương đương SS; hiển nhiên rằng SS là phản xạ và đối xứng, và nếu f,g,hf, g, h là ba phần tử của Φ\Phi sao cho ff và gg được xác định trên V∈FV \in \mathfrak{F}, còn gg và hh được xác định và trùng nhau trên W∈FW \in \mathfrak{F}, thì ff và hh được xác định và trùng nhau trên V∩W∈FV \cap W \in \mathfrak{F}, do đó SS là bắc cầu. Lớp tương đương mod SS của một ánh xạ ff của một tập hợp V∈FV \in \mathfrak{F} vào X′X' được gọi là mầm của ff (đối với F\mathfrak{F}), và tập thương Φ~=Φ/S\tilde{\Phi} = \Phi/S được gọi là tập hợp các mầm của các ánh xạ từ XX vào X′X' (đối với F\mathfrak{F}).

Nhận xét 1

Mọi ánh xạ ff của một tập con MM của XX vào X′X', trong đó MM thuộc về F\mathfrak{F}, đều tương đương mod SS với một ánh xạ f1f_1 của XX vào X′X' (điều này biện minh cho thuật ngữ trên đây): chỉ cần mở rộng ff lên XX, chẳng hạn bằng cách gán cho nó một giá trị hằng trên X−MX - M.

Nhận xét 2

Các hàm đặc trưng φM\varphi_M và φN\varphi_N của hai tập con MM và NN của XX có cùng một mầm đối với F\mathfrak{F} khi và chỉ khi MM và NN có cùng một mầm đối với F\mathfrak{F}.

Cho X′′X'' là một tập hợp thứ ba, φ\varphi là một ánh xạ của X′X' vào X′′X'', Φ′\Phi' là tập hợp tất cả các ánh xạ của một tập hợp của F\mathfrak{F} vào X′′X''. Với mỗi f∈Φf \in \Phi, φ∘f\varphi \circ f thuộc về Φ′\Phi'; hơn nữa, ta thấy ngay rằng nếu g∈Φg \in \Phi có cùng mầm với ff đối với F\mathfrak{F}, thì φ∘f\varphi \circ f và φ∘g\varphi \circ g có cùng mầm đối với F\mathfrak{F}.

Do đó mầm này chỉ phụ thuộc vào mầm f~\tilde{f} của ff đối với F\mathfrak{F} và được ký hiệu là φ(f~)\varphi(\tilde{f}). Như vậy ta định nghĩa một ánh xạ (được ký hiệu là φ\varphi, do lạm dụng ngôn ngữ) từ tập hợp Φ~\tilde{\Phi} các mầm của các ánh xạ từ XX vào X′X', vào tập hợp Φ~′\tilde{\Phi}' các mầm của các ánh xạ từ XX vào X′′X''.

Bây giờ cho Xi′X'_i (1≤i≤n1 \leq i \leq n) là các tập hợp và

Y=∏i=1nXi′ Y = \prod_{i=1}^n X'_i
là tích của chúng; ký hiệu Φi\Phi_i (tương ứng Φ\Phi) là tập hợp tất cả các ánh xạ từ một tập hợp của F\mathfrak{F} vào Xi′X'_i (tương ứng YY). Nếu fi∈Φif_i \in \Phi_i với 1≤i≤n1 \leq i \leq n và nếu Mi∈FM_i \in \mathfrak{F} là miền xác định của fif_i, thì ánh xạ t→(f1(t),…,fn(t))t \to (f_1(t), \ldots, f_n(t)) được xác định trên
⋂i=1nMi \bigcap_{i=1}^n M_i
và do đó thuộc Φ\Phi; ta ký hiệu ánh xạ này (do lạm dụng ngôn ngữ) bởi (f1,…,fn)(f_1, \ldots, f_n). Hơn nữa, nếu fif_i và gig_i thuộc Φi\Phi_i và có cùng mầm đối với F\mathfrak{F} (với 1≤i≤n1 \leq i \leq n), thì ngay lập tức thấy rằng (f1,…,fn)(f_1, \ldots, f_n) và (g1,…,gn)(g_1, \ldots, g_n) có cùng mầm đối với F\mathfrak{F}; do đó mầm này chỉ phụ thuộc vào các mầm f~i\tilde{f}_i của các fif_i. Nếu ta ký hiệu nó bởi Γ(f~1,…,f~n)\Gamma(\tilde{f}_1, \ldots, \tilde{f}_n) thì Γ\Gamma rõ ràng là một song ánh từ tập hợp tích
∏i=1nΦ~i \prod_{i=1}^n \tilde{\Phi}_i
lên tập hợp Φ~\tilde{\Phi}, trong đó Φ~i\tilde{\Phi}_i (tương ứng Φ~\tilde{\Phi}) ký hiệu tập hợp các mầm của các ánh xạ từ XX vào Xi′X'_i (tương ứng YY) đối với F\mathfrak{F}; do đó, do lạm dụng ngôn ngữ, ta sẽ nói chung viết (f~1,…,f~n)(\tilde{f}_1, \ldots, \tilde{f}_n) thay cho Γ(f~1,…,f~n)\Gamma(\tilde{f}_1, \ldots, \tilde{f}_n) bất cứ khi nào không có nguy cơ nhầm lẫn.

Từ những điều đã nói, mọi ánh xạ ψ\psi từ YY vào một tập hợp X′′X'' xác định một ánh xạ (f~1,…,f~n)→ψ(f~1,…,f~n)(\tilde{f}_1, \ldots, \tilde{f}_n) \to \psi(\tilde{f}_1, \ldots, \tilde{f}_n) từ

∏i=1nΦ~i \prod_{i=1}^n \tilde{\Phi}_i
vào tập hợp Φ~′\tilde{\Phi}' các mầm của các ánh xạ từ XX vào X′′X''.

Đặc biệt, nếu n=2n = 2 và nếu X1′,X2′X'_1, X'_2 và X′′X'' đều bằng cùng một tập hợp X′X' (sao cho ψ\psi là một luật hợp thành được xác định trên toàn bộ X′X'), thì ψ\psi cảm sinh một luật hợp thành được xác định trên toàn bộ tập hợp Φ~\tilde{\Phi} các mầm của các ánh xạ từ XX vào X′X'. Dễ dàng kiểm chứng rằng nếu luật được cho trên X′X' là kết hợp (tương ứng giao hoán) thì luật tương ứng trên Φ~\tilde{\Phi} cũng vậy; nếu luật ψ\psi trên X′X' có một phần tử đơn vị e′e', thì mầm đối với F\mathfrak{F} của ánh xạ hằng x→e′x \to e' là một phần tử đơn vị đối với luật tương ứng trên Φ~\tilde{\Phi}. Cuối cùng, nếu luật trên X′X' có một phần tử đơn vị e′e', thì mầm f~\tilde{f} của f∈Φf \in \Phi có một nghịch đảo trong Φ~\tilde{\Phi} khi và chỉ khi tồn tại V∈FV \in \mathfrak{F}, được chứa trong miền xác định của ff, sao cho f(t)f(t) là khả nghịch trong X′X' với mỗi t∈Vt \in V; nếu, với mỗi t∈Vt \in V, g(t)g(t) ký hiệu nghịch đảo của f(t)f(t) thì mầm g~\tilde{g} của gg là nghịch đảo của f~\tilde{f} trong Φ~\tilde{\Phi}. Đặc biệt nếu X′X' là một nhóm đối với luật ψ\psi, thì Φ~\tilde{\Phi} là một nhóm đối với luật tương ứng; tương tự, nếu X′X' là một vành (tương ứng một đại số trên một vành AA) thì Φ~\tilde{\Phi} là một vành (tương ứng một đại số trên AA) đối với các luật hợp thành tương ứng.

10. Các mầm tại một điểm

Một trong những tình huống thường gặp nhất mà các định nghĩa và kết quả của no. 9 được áp dụng là tình huống trong đó F\mathfrak{F} là bộ lọc lân cận của một điểm aa của một không gian tôpô XX; thay vì nói "các mầm đối với F\mathfrak{F}" ta khi đó nói "các mầm tại điểm aa". Chú ý rằng chỉ có một mầm các lân cận của aa, đó là mầm của toàn bộ không gian XX. Các mầm của các tập hợp đóng trùng với các mầm của các tập hợp đóng địa phương tại điểm aa, vì nếu LL đóng địa phương tại aa, thì các mầm của LL và Γ‾\overline{\Gamma} tại aa là bằng nhau (§ 3, no. 1, Mệnh đề 1). Suy ra rằng nếu ξ,η\xi, \eta là hai mầm của các tập hợp đóng địa phương tại aa, thì ξ∪η\xi \cup \eta và ξ∩η\xi \cap \eta cũng vậy.

Vì aa thuộc mọi V∈FV \in \mathfrak{F}, f(a)f(a) được xác định với mỗi ánh xạ ff mà miền xác định thuộc F\mathfrak{F}; hơn nữa, nếu ff và gg có cùng mầm tại aa thì ta phải có f(a)=g(a)f(a) = g(a), do đó f(a)f(a) chỉ phụ thuộc vào mầm f~\tilde{f} của ff tại aa, và được gọi là giá trị của f~\tilde{f} tại aa và được ký hiệu là f~(a)\tilde{f}(a). Cần nhấn mạnh rằng quan hệ f~(a)=g~(a)\tilde{f}(a) = \tilde{g}(a) nói chung không kéo theo f~=g~\tilde{f} = \tilde{g}.

Cho X′,X′′X', X'' là hai không gian tôpô; bb là một điểm của X′′X''; g,g′g, g' là hai ánh xạ từ X′X' vào X′′X'' có cùng mầm tại bb. Nếu f,f′f, f' là hai ánh xạ từ XX vào X′X' liên tục tại aa và có cùng mầm tại aa và thỏa mãn f(a)=bf(a) = b, thì g∘fg \circ f và g′∘f′g' \circ f' có cùng mầm tại điểm aa; vì nếu V′V' là một lân cận của bb trong X′X' sao cho g(x′)=g′(x′)g(x') = g'(x') với mọi x′∈V′x' \in V', thì tồn tại một lân cận VV của aa sao cho f(V)⊂V′f(V) \subset V', f′(V)⊂V′f'(V) \subset V' và f(x)=f′(x′)f(x) = f'(x') với mọi x∈Vx \in V, và mệnh đề được suy ra. Mầm của g∘fg \circ f tại aa khi đó được gọi là hợp thành của các mầm g~\tilde{g} và f~\tilde{f} của gg và ff tương ứng và được ký hiệu là g~∘f~\tilde{g} \circ \tilde{f}.

Bài tập

Xem các bài tập của § 6.

Machine translation of the English, by gpt-5-6-mini, against glossary version 34. Not checked by a person. That model is a cut down version of the one the rest of this language was written by.