Bourbaki

2. Các ánh xạ liên tục đều

1. Các ánh xạ liên tục đều

Định nghĩa 1

Một ánh xạ ff từ một không gian đều XX vào một không gian đều X′X' được gọi là liên tục đều nếu, với mỗi entourage V′V' của X′X', tồn tại một entourage VV của XX sao cho quan hệ (x,y)∈V(x, y) \in V kéo theo (f(x),f(y))∈V′(f(x), f(y)) \in V'.

Nói một cách diễn đạt hơn, ta có thể nói rằng ff là liên tục đều nếu f(x)f(x) và f(y)f(y) gần nhau tùy ý mỗi khi xx và yy đủ gần nhau.

Nếu ta đặt g=f×fg = f \times f, thì Định nghĩa 1 có nghĩa là mỗi khi V′V' là một entourage của X′X', thì g−1‾(V′)\overline{g^{-1}}(V') là một entourage của XX.

Ví dụ 1

Ánh xạ đồng nhất của một không gian đều vào chính nó là liên tục đều.

Ví dụ 2

Một ánh xạ hằng từ một không gian đều vào một không gian đều là liên tục đều.

Ví dụ 3

Mọi ánh xạ từ một không gian đều rời rạc vào một không gian đều đều là liên tục đều.

Mệnh đề 1

Mọi ánh xạ liên tục đều đều là liên tục.

Đây là một hệ quả ngay lập tức của các định nghĩa.

Mặt khác, một ánh xạ liên tục từ một không gian đều X vào một không gian đều X' không nhất thiết là liên tục đều, \* như được chỉ ra bởi ví dụ x→x3x \to x^3, một đồng phôi của R\mathbf{R} lên chính nó, không liên tục đều đối với cấu trúc đều cộng tính. \* (Xem § 4, no. 1, Định lý 2.)

Mệnh đề 2

(a) Nếu f:X→X′f : X \to X' và g:X′→X′′g : X' \to X'' là hai ánh xạ liên tục đều, thì g∘f:X→X′′g \circ f : X \to X'' là liên tục đều.

(b) Một song ánh ff từ một không gian đều X lên một không gian đều X' là một đẳng cấu khi và chỉ khi ff và ánh xạ nghịch đảo của ff là liên tục đều.

Điều này suy ra ngay lập tức từ cách giải thích Định nghĩa 1 theo ánh xạ tích f×ff \times f.

2. So sánh các cấu trúc đều

Mệnh đề 2 của no. 1 cho thấy rằng ta có thể lấy các ánh xạ liên tục đều làm các cấu xạ của các cấu trúc đều (Lý thuyết tập hợp, Chương IV, § 2, no. 1); từ nay về sau, ta sẽ luôn giả sử rằng các cấu xạ đã được chọn như vậy. Phù hợp với các định nghĩa tổng quát (Lý thuyết tập hợp, Chương IV, § 2, no. 2), điều này cho phép ta định nghĩa một quan hệ thứ tự trên tập hợp các cấu trúc đều trên một tập hợp X đã cho:

Định nghĩa 2

Nếu U1\mathfrak{U}_1 và U2\mathfrak{U}_2 là hai cấu trúc đều trên cùng một tập hợp X, thì nói rằng U1\mathfrak{U}_1 mịn hơn U2\mathfrak{U}_2 (và U2\mathfrak{U}_2 thô hơn U1\mathfrak{U}_1) nếu, ký hiệu bởi XiX_i tập hợp X được trang bị cấu trúc đều Ui\mathfrak{U}_i (i=1,2i = 1,2), thì ánh xạ đồng nhất X1→X2X_1 \to X_2 là liên tục đều.

Nếu U1\mathfrak{U}_1 mịn hơn U2\mathfrak{U}_2 và phân biệt với U2\mathfrak{U}_2, ta nói rằng U1\mathfrak{U}_1 mịn hơn hẳn U2\mathfrak{U}_2 (và rằng U2\mathfrak{U}_2 thô hơn hẳn U1\mathfrak{U}_1).

Hai cấu trúc đều được gọi là so sánh được nếu một trong hai mịn hơn cấu trúc kia.

Ví dụ

Trong tập hợp có thứ tự các cấu trúc đều trên một tập hợp X, cấu trúc đều rời rạc là mịn nhất, và cấu trúc đều thô nhất là cấu trúc mà tập hợp các entourage chỉ gồm một phần tử duy nhất X×XX \times X.

Mệnh đề sau là một hệ quả ngay lập tức của Định nghĩa 1 của no. 1:

Mệnh đề 3

Nếu U1\mathfrak{U}_1 và U2\mathfrak{U}_2 là hai cấu trúc đều trên một tập hợp X, thì U1\mathfrak{U}_1 mịn hơn U2\mathfrak{U}_2 khi và chỉ khi mọi entourage của U2\mathfrak{U}_2 đều là một entourage của U1\mathfrak{U}_1.

Hệ quả

Cho U1\mathfrak{U}_1 và U2\mathfrak{U}_2 là hai cấu trúc đều trên một tập hợp X, và giả sử rằng U1\mathfrak{U}_1 mịn hơn U2\mathfrak{U}_2; khi đó tôpô cảm sinh bởi U1\mathfrak{U}_1 mịn hơn tôpô cảm sinh bởi U2\mathfrak{U}_2.

Nhận xét 1

Có thể xảy ra trường hợp một cấu trúc đều U1\mathfrak{U}_1 mịn hơn nghiêm ngặt một cấu trúc đều U2\mathfrak{U}_2 nhưng hai tôpô cảm sinh là đồng nhất. Ví dụ sau cho thấy điều đó:

Cho XX là một tập hợp không rỗng. Với mỗi phân hoạch hữu hạn ϖ=(Ai)1≤i≤n\varpi = (A_i)_{1 \leq i \leq n} của XX, ký hiệu Vϖ‾V_{\overline{\varpi}} là

⋃iAi×Ai. \bigcup_i A_i \times A_i.
Khi đó các tập hợp Vϖ‾V_{\overline{\varpi}} tạo thành một hệ cơ bản các lân cận của một cấu trúc đều U\mathfrak{U} trên XX. Thật vậy, nếu ϖ\varpi là một phân hoạch hữu hạn bất kỳ của XX thì ta có Δ⊂Vϖ‾\Delta \subset V_{\overline{\varpi}} và Vϖ‾∘Vϖ‾=Vϖ‾‾=Vϖ‾V_{\overline{\varpi}} \circ V_{\overline{\varpi}} = \overline{V_{\overline{\varpi}}} = V_{\overline{\varpi}} (§ 1, no. 1, Ví dụ 2); và nếu ϖ′=(Bj)\varpi' = (B_j) và ϖ′′=(Ck)\varpi'' = (C_k) là hai phân hoạch hữu hạn của XX, thì những tập hợp trong số các tập Bj∩CkB_j \cap C_k không rỗng tạo thành một phân hoạch hữu hạn ϖ\varpi của XX, và ta có Vϖ‾⊂Vϖ′‾∩Vϖ′′‾V_{\overline{\varpi}} \subset V_{\overline{\varpi'}} \cap V_{\overline{\varpi''}}. U\mathfrak{U} được gọi là cấu trúc đều của các phân hoạch hữu hạn trên XX. Tôpô cảm sinh bởi U\mathfrak{U} là tôpô rời rạc, vì với mỗi x∈Xx \in X các tập hợp {x}\{x\} và C{x}C\{x\} tạo thành một phân hoạch hữu hạn của XX. Tuy nhiên, nếu XX là vô hạn, thì hiển nhiên U\mathfrak{U} thô hơn thực sự so với cấu trúc đều rời rạc.

Nhận xét 2

Nếu f:X→X′f : X \to X' là một ánh xạ liên tục đều, thì ff vẫn liên tục đều nếu ta thay thế cấu trúc đều của XX bằng một cấu trúc đều mịn hơn và cấu trúc đều của X′X' bằng một cấu trúc đều thô hơn (no. 1, Mệnh đề 2). Nói cách khác, cấu trúc đều của XX càng mịn và cấu trúc đều của X′X' càng thô thì càng có nhiều ánh xạ liên tục đều từ XX vào X′X'.

3. Cấu trúc đều ban đầu

Mệnh đề 4

Cho XX là một tập hợp, cho (Yi)i∈I(Y_i)_{i \in I} là một họ các không gian đều, và với mỗi i∈Ii \in I cho fif_i là một ánh xạ từ XX vào YiY_i. Với mỗi i∈Ii \in I gọi gig_i là fi×fif_i \times f_i. Cho S\mathfrak{S} là tập hợp các tập con của X×XX \times X có dạng gi‾(Vi)\overline{g_i}(V_i), trong đó i∈Ii \in I và ViV_i là một lân cận đều của YiY_i, và cho B\mathfrak{B} là tập hợp mọi giao hữu hạn

(1)U(Vi1,…,Vin)=gi1‾(Vi1)∩⋯∩gin‾(Vin) \text{(1)} \quad U(V_{i_1}, \ldots, V_{i_n}) = \overline{g_{i_1}}(V_{i_1}) \cap \cdots \cap \overline{g_{i_n}}(V_{i_n})

của các tập hợp của S\mathfrak{S}. Khi đó B\mathfrak{B} là một hệ cơ bản các entourage của một cấu trúc đều U\mathfrak{U} trên XX; cấu trúc này là cấu trúc đều ban đầu trên XX đối với họ (fi)(f_i) (Lý thuyết tập hợp, Chương IV, § 2, no. 3), và đặc biệt U\mathfrak{U} là cấu trúc đều thô nhất trên XX mà đối với nó mọi ánh xạ fif_i đều liên tục đều. Mặt khác, nếu hh là một ánh xạ từ một không gian đều ZZ vào XX thì hh liên tục đều (khi XX được trang bị cấu trúc đều U\mathfrak{U}) nếu và chỉ nếu mỗi ánh xạ fi∘hf_i \circ h đều liên tục đều.

Ta thấy ngay lập tức rằng B\mathfrak{B} thỏa mãn các tiên đề (B1)(B_1) và (U1′)(U'_1). Nếu Wi=g‾i−1(Vi)W_i = \overline{g}_i^{-1}(V_i), thì W‾i=g‾i−1(V‾i)\overline{W}_i = \overline{g}_i^{-1}(\overline{V}_i) và W˙i=g˙i−1(V˙i)\dot{W}_i = \dot{g}_i^{-1}(\dot{V}_i); do đó B\mathfrak{B} cũng thỏa mãn các tiên đề (UII′)(U'_{II}) và (UIII′)(U'_{III}) và vì thế là một hệ cơ bản các entourage của một cấu trúc đều U\mathfrak{U} trên XX. Hơn nữa, từ định nghĩa của U\mathfrak{U} và Định nghĩa 1 và no. 1, suy ra ngay lập tức rằng fif_i là liên tục đều với mỗi chỉ số i∈Ii \in I; do đó (no. 1, Mệnh đề 2) fi∘hf_i \circ h là liên tục đều với mỗi i∈Ii \in I nếu hh là như vậy. Ngược lại, giả sử rằng fi∘hf_i \circ h là liên tục đều với mỗi i∈Ii \in I, và xét một tập hợp U(Vi1,…,Vin)U(V_{i_1}, \ldots, V_{i_n}); theo giả thiết, với mỗi kk sao cho 1≤k≤n1 \leq k \leq n, có một entourage WkW_k của ZZ sao cho quan hệ (z,z′)∈Wk(z, z') \in W_k kéo theo [fik(h(z)),fik(h(z′))]∈Vk[f_{i_k}(h(z)), f_{i_k}(h(z'))] \in V_k; nếu

W=⋂kWk, W = \bigcap_k W_k,
thì đồng thời nn quan hệ này được thỏa mãn mỗi khi zz và z′z' là WW-gần, nên khi đó ta có (h(z),h(z′))∈U(Vi1,…,Vin)(h(z), h(z')) \in U(V_{i_1}, \ldots, V_{i_n}), và chứng minh là đầy đủ.

Hệ quả

Tôpô trên XX được cảm sinh bởi cấu trúc đều thô nhất U\mathfrak{U} sao cho các fif_i là liên tục đều cũng là tôpô thô nhất sao cho các fif_i là liên tục.

Đây là một hệ quả ngay lập tức của định nghĩa các lân cận của một điểm trong tôpô sau này (Chương I, § 2, no. 3, Mệnh đề 4).

Các tính chất tổng quát của các cấu trúc ban đầu (Lý thuyết tập hợp, Chương IV, § 2, no. 3, tiêu chuẩn CST 10) đặc biệt suy ra tính chất bắc cầu sau đây:

Mệnh đề 5

Cho XX là một tập hợp, cho (Zi)i∈I(Z_i)_{i \in I} là một họ các không gian đều, cho (Jλ)λ∈L(J_\lambda)_{\lambda \in L} là một phân hoạch của II và cho (Yλ)λ∈L(Y_\lambda)_{\lambda \in L} là một họ các tập hợp được đánh chỉ số bởi LL. Với mỗi λ∈L\lambda \in L, cho hλh_\lambda là một ánh xạ từ XX vào YλY_\lambda; với mỗi λ∈L\lambda \in L và mỗi i∈Jλi \in J_\lambda, cho giλg_{i\lambda} là một ánh xạ từ YλY_\lambda vào ZiZ_i; và đặt fi=giλ∘hλf_i = g_{i\lambda} \circ h_\lambda. Trang bị cho mỗi YλY_\lambda cấu trúc đều thô nhất sao cho các ánh xạ giλg_{i\lambda} (i∈Jλi \in J_\lambda) là liên tục đều. Khi đó cấu trúc đều thô nhất trên XX sao cho các fif_i là liên tục đều trùng với cấu trúc đều thô nhất trên XX sao cho các hλh_\lambda là liên tục đều.

4. Ảnh ngược của một cấu trúc đồng đều; các không gian con đồng đều

Cho XX là một tập hợp, YY là một không gian đều, ff là một ánh xạ từ XX vào YY. Cấu trúc đều thô nhất U\mathfrak{U} trên XX mà đối với nó ff là liên tục đều được gọi là ảnh ngược theo ff của cấu trúc đều của YY. Suy ra từ Mệnh đề 4 của no. 3, và từ các công thức cho ảnh ngược của một giao, rằng các ảnh ngược theo g=f×fg = f \times f của các lân cận của đường chéo của YY tạo thành một hệ cơ bản các lân cận của đường chéo đối với U\mathfrak{U}. Tôpô cảm sinh bởi U\mathfrak{U} là ảnh ngược theo ff của tôpô của YY (no. 3, Hệ quả của Mệnh đề 4).

Nhận xét

Nếu f:X→Yf : X \to Y là toàn ánh, thì các entourage của YY là các ảnh trực tiếp dưới gg của các entourage của XX.

Một ánh xạ ff từ một không gian đều XX vào một không gian đều X′X' là liên tục đều nếu và chỉ nếu ảnh ngược dưới ff của cấu trúc đều của X′X' thô hơn cấu trúc đều của XX.

Cho AA là một tập con của một không gian đều XX. Cấu trúc đều cảm sinh trên AA bởi cấu trúc đều của XX là ảnh ngược của cấu trúc sau dưới đơn ánh chính tắc A→XA \to X. Theo Mệnh đề 4 của no. 3, điều này tương đương với định nghĩa sau:

Định nghĩa 3

Cho AA là một tập con của một không gian đều XX. Cấu trúc đều trên AA mà tập các lân cận đều của nó là vết trên A×AA \times A của tập các lân cận đều của XX được gọi là cấu trúc đều cảm sinh trên AA bởi cấu trúc đều của XX.

Tôpô cảm sinh bởi cấu trúc đều cảm sinh trên AA trùng với tôpô cảm sinh trên AA bởi tôpô của XX; tập AA, cùng với cấu trúc đều và tôpô cảm sinh bởi các cấu trúc tương ứng của XX, được gọi là một không gian con đều của XX.

Nếu AA là một tập con của một không gian đều XX và nếu f:X→X′f : X \to X' là một ánh xạ liên tục đều, thì hạn chế f∣Af|A là một ánh xạ liên tục đều từ AA vào X′X'. Nếu A′⊂X′A' \subset X' sao cho f(X)⊂A′f(X) \subset A', thì ánh xạ từ XX vào không gian con đều A′A' của X′X', có cùng đồ thị như ff, lại cũng liên tục đều (no. 3, Mệnh đề 4).

Nếu B⊂A⊂XB \subset A \subset X, thì không gian con đều BB của XX đồng nhất với không gian con đều BB của không gian con đều AA của XX (tính bắc cầu của các cấu trúc đều cảm sinh; no. 3, Mệnh đề 5).

Mệnh đề 6

Cho AA là một tập con trù mật của một không gian đều XX. Khi đó các bao đóng, trong X×XX \times X, của các lân cận đều của không gian con đều AA tạo thành một hệ cơ bản các lân cận đều của XX.

A×AA \times A trù mật trong X×XX \times X (Chương I, § 4, no. 3, Mệnh đề 7). Cho VV là một entourage mở của AA; đó là giao của A×AA \times A với một entourage mở UU của XX. Ta có U⊂V‾U \subset \overline{V} (Chương I, § 1, no. 6, Mệnh đề 5), và quan hệ này cùng với V‾⊂U‾\overline{V} \subset \overline{U} chứng minh mệnh đề, theo Hệ quả 2 của Mệnh đề 2 ở § 1, no. 2.

5. Cận trên bé nhất của một tập hợp các cấu trúc đều

Mọi họ (Ui)i∈I(\mathfrak{U}_i)_{i \in I} các cấu trúc đều trên một tập hợp XX đều có một cận trên bé nhất U\mathfrak{U} trong tập hợp có thứ tự của tất cả các cấu trúc đều trên XX; ta chỉ cần áp dụng mệnh đề 4 của no. 3, lấy YiY_i là tập hợp XX được trang bị cấu trúc đều Ui\mathfrak{U}_i, và fif_i là ánh xạ đồng nhất X→YiX \to Y_i. Tôpô cảm sinh bởi U\mathfrak{U} chính là cận trên bé nhất của các tôpô cảm sinh bởi các Ui\mathfrak{U}_i.

Cũng suy ra từ Mệnh đề 4 của no. 3 rằng nếu XX không rỗng và nếu Ui\mathfrak{U}_i là bộ lọc các entourage của Ui\mathfrak{U}_i, thì bộ lọc các entourage của U\mathfrak{U} là cận trên bé nhất của các bộ lọc Ui\mathfrak{U}_i (Chương I, § 6, no. 2).

Ví dụ

Nếu ϖ\varpi là một phân hoạch hữu hạn bất kỳ (Ai)1≤i≤n(A_i)_{1 \leq i \leq n} của một tập hợp không rỗng XX, thì tập hợp Vϖ=⋃i(Ai×Ai)V_\varpi = \bigcup_i (A_i \times A_i) tự nó tạo thành một hệ cơ sở các entourage của một cấu trúc đều Uϖ\mathfrak{U}_\varpi trên XX (§ 1, no. 1, Ví dụ 2); khi đó cấu trúc đều của các phân hoạch hữu hạn trên XX (no. 2, Nhận xét 1) là cận trên bé nhất của các cấu trúc đều Uϖ\mathfrak{U}_\varpi.

Nhận xét

Một họ (Ui)(\mathfrak{U}_i) các cấu trúc đều trên XX cũng có một cận dưới lớn nhất trong tập hợp có thứ tự của mọi cấu trúc đều trên XX, cụ thể là cận trên nhỏ nhất của tập hợp mọi cấu trúc đều trên XX mà thô hơn từng Ui\mathfrak{U}_i (những cấu trúc đều như vậy có tồn tại, vì tập hợp mọi cấu trúc đều trên XX có một phần tử nhỏ nhất). Nhưng (giả sử XX không rỗng) bộ lọc các lân cận của đường chéo của cấu trúc đều này không nhất thiết là giao của các bộ lọc các lân cận của đường chéo của các Ui\mathfrak{U}_i, vì bộ lọc sau này không nhất thiết thỏa mãn tiên đề (UIII)(U_{III}) (Bài tập 4).

6. Tích của các không gian đều

Định nghĩa 4

Nếu* (Xi)i∈I(X_i)_{i \in I} là một họ các không gian đều, thì không gian đều tích của họ này là tập hợp tích

X=∏i∈IXi X = \prod_{i \in I} X_i
được trang bị cấu trúc đều thô nhất sao cho các phép chiếu pri:X→Xipr_i : X \to X_i là liên tục đều. Cấu trúc đều này được gọi là tích của các cấu trúc đều của các XiX_i, và các không gian đều XiX_i được gọi là các thừa số của XX.

Tôpô cảm sinh bởi cấu trúc đều tích trên XX trùng với tích của các tôpô của các XiX_i (no. 3, Hệ quả của Mệnh đề 4).

Mệnh đề 7

Cho* f=(fi)f = (f_i) là một ánh xạ từ một không gian đều YY vào một không gian đều tích X=∏i∈IXiX = \prod_{i \in I} X_i. Khi đó ff liên tục đều khi và chỉ khi mỗi fif_i đều liên tục đều.

Vì fi=pri∘ff_i = pr_i \circ f, đây là một trường hợp riêng của Mệnh đề 4 của no. 3.

Hệ quả

Cho* (Xi)i∈I,(Yi)i∈I(X_i)_{i \in I}, (Y_i)_{i \in I} là hai họ không gian đều được đánh chỉ số bởi cùng một tập II. Với mỗi i∈Ii \in I, cho fif_i là một ánh xạ từ XiX_i vào YiY_i. Nếu mỗi fif_i đều liên tục đều, thì ánh xạ tích

f:(xi)→(fi(xi)). f : (x_i) \to (f_i(x_i)).
cũng liên tục đều. Ngược lại, nếu các XiX_i đều không rỗng và ff liên tục đều, thì mỗi fif_i *đều liên tục đều.

Tiêu chuẩn tổng quát về tính bắc cầu của các cấu trúc đều ban đầu (no. 3, Mệnh đề 5) cho thấy rằng, cũng như đối với tích của các không gian tôpô (Chương I, § 4, no. 1), tích của các không gian đều là kết hợp và mệnh đề sau đây là đúng:

Mệnh đề 8

Cho XX là một tập hợp, cho (Yi)i∈I(Y_i)_{i \in I} là một họ các không gian đều, và với mỗi i∈Ii \in I cho fif_i là một ánh xạ từ XX vào YiY_i. Gọi ff là ánh xạ x→(fi(x))x \to (f_i(x)) từ XX vào Y=∏i∈IYiY = \prod_{i \in I} Y_i, và gọi UU là cấu trúc đều thô nhất trên XX mà đối với nó các fif_i là liên tục đều. Khi đó UU là ảnh ngược theo ff của cấu trúc đều cảm sinh trên f(X)f(X) bởi cấu trúc đều tích trên YY.

Hệ quả

Với mỗi i∈Ii \in I, cho AiA_i là một không gian con của YiY_i. Khi đó cấu trúc đều cảm sinh trên A=∏i∈IAiA = \prod_{i \in I} A_i bởi cấu trúc đều tích trên ∏i∈IYi\prod_{i \in I} Y_i cũng chính là tích của các cấu trúc đều của các không gian con AiA_i.

Ngoài ra, ta thấy ngay lập tức rằng nếu X1,X2X_1, X_2 là hai không gian đều và a1a_1 là một điểm bất kỳ của X1X_1, thì ánh xạ x2→(a1,x2)x_2 \to (a_1, x_2) là một đẳng cấu từ X2X_2 lên không gian con {a1}×X2\{a_1\} \times X_2 của X1×X2X_1 \times X_2; do đó:

Mệnh đề 9

Cho ff là một ánh xạ liên tục đều từ một không gian đều tích X1×X2X_1 \times X_2 vào một không gian đều YY; khi đó mọi ánh xạ riêng phần

x2→f(x1,x2) x_2 \to f(x_1, x_2)

của X2X_2 vào YY đều liên tục đều.

Nói cách khác, một hàm liên tục đều của hai biến thì liên tục đều đối với từng biến một.

\* Ví dụ đã cho trong Chương I, § 4, no. 2, Nhận xét 2, cho thấy đảo lại của mệnh đề này là sai. \*

7. Giới hạn nghịch đảo của các không gian đều

Cho II là một tập hợp có thứ tự bộ phận trong đó thứ tự bộ phận được viết là α≤β\alpha \leq \beta. Với mỗi α∈I\alpha \in I cho XαX_\alpha là một không gian đều, và với mỗi cặp chỉ số α,β\alpha, \beta sao cho α≤β\alpha \leq \beta cho fαβf_{\alpha \beta} là một ánh xạ từ XβX_\beta vào XαX_\alpha.

Mệnh đề 10

Cho II là một tập có hướng, cho (Xα,fαβ)(X_\alpha, f_{\alpha\beta}) là một hệ ngược các không gian đều được đánh chỉ số bởi II, và cho JJ là một tập con đồng tận của II. Với mỗi α∈I\alpha \in I, gọi fαf_\alpha là ánh xạ chính tắc từ X=lim←⁡XαX = \varprojlim X_\alpha vào XαX_\alpha, và ký hiệu gαg_\alpha là fα×fαf_\alpha \times f_\alpha. Khi đó họ các tập hợp g‾α−1(Vα)\overline{g}_\alpha^{-1}(V_\alpha), trong đó α\alpha chạy qua JJ và trong đó, với mỗi α∈J\alpha \in J, VαV_\alpha chạy qua một hệ cơ bản các lân cận đều của XαX_\alpha, là một hệ cơ bản các lân cận đều của XX.

Chúng tôi để lại chứng minh cho bạn đọc; đó là một sự thích nghi trực tiếp của chứng minh của Mệnh đề 9 của Chương I, § 4, no. 4.

Cuối cùng, tôpô trên X=lim←⁡XαX = \varprojlim X_\alpha cảm sinh bởi giới hạn ngược của các cấu trúc đều của các XαX_\alpha là giới hạn ngược của các tôpô của các XαX_\alpha.

Bài tập

Xem bài tập cho § 2.

Machine translation of the English, by gpt-5.4, copied, against glossary version 34. Not checked by a person.