Các lý thuyết phổ, V, p. 502
Ta giữ ký hiệu của bài tập trước.
a) Cho f∈L2(G) có kiểu dương như một hàm khả tích địa phương. Toán tử bộ phận trên L2(G) với miền xác định K(G) được định nghĩa bởi φ↦ γ(φ)f là dương. Ta ký hiệu bởi ϱ(f) phép mở rộng Friedrichs của f (ví dụ 8 của IV, p. 295); đó là một toán tử bộ phận tự liên hợp dương trên L2(G).
b) Cho f∈L2(G). Ta nói rằng f là sober nếu tồn tại một số thực c⩾0 sao cho ∥γ(φ)f∥⩽c∥φ∥ với mọi φ∈K(G)⊂L2(G). Khi đó ta ký hiệu bởi ϱ(f) tự đồng cấu của L2(G) mở rộng ánh xạ φ↦γ(φ)f. Định nghĩa này trùng với định nghĩa trước nếu f có kiểu dương, và khi đó điều kiện này tương đương với việc nói rằng ϱ(f) là dương.
c) Cho f1 và f2 là các hàm sober trong L2(G). Nếu ϱ(f1)=ϱ(f2), thì f1 và f2 bằng nhau trong L2(G).
d) Cho f∈L2(G) có kiểu dương. Với mọi g∈G, ta có ϱ(f)∘γ(g)= γ(g)∘ϱ(f). Hơn nữa với mọi h∈ dom(ϱ(f)), ta có ϱ(f)h=h∗f.
e) Cho f1 và f2 là các phần tử sober của L2(G) sao cho ϱ(f1) và ϱ(f2) giao hoán. Hàm f1∗f2 là một hàm liên tục có kiểu dương trên G; nó là sober, và ta có
ϱ(f1∗f2)=ϱ(f1)ϱ(f2),⟨f1∣f2⟩⩾0
f) Với ký hiệu và các giả thiết của câu hỏi trước, nếu f2−f1 có kiểu dương, thì
∥f2−f1∥2⩽∥f2∥2−∥f1∥2
g) Cho (fn)n∈N là một dãy các phần tử sober xác định dương của L2(G), từng đôi một khả hoán, và sao cho fn+1−fn có kiểu dương với mọi n∈N. Nếu dãy (∥f∥n) bị chặn, thì dãy (fn) hội tụ trong L2(G).
Không có.
Không có.