Bourbaki

§ 7. Bó vectơ

Trong suốt mục này, chữ B ký hiệu một đa tạp lớp CrC^r (r⩾1r \geqslant 1) và chữ M ký hiệu một tập hợp được trang bị một ánh xạ π\pi từ M vào B. Ta nói B là cơ sở của M và với mọi b∈Bb \in B, ta ký hiệu bởi MbM_b và gọi là thớ của M tại bb tập con π−1(b)\pi^{-1}(b) của M.

7.1. Định nghĩa bó vectơ

7.1.1. Một bản đồ vectơ của M là một bộ ba t=(U,φ,F)t = (U, \varphi, F), trong đó U là một tập mở của B, F là một không gian Banach và φ\varphi là một song ánh từ π−1(U)\pi^{-1}(U) lên U×FU \times F sao cho π(φ−1(b,h))=b\pi(\varphi^{-1}(b, h)) = b với mọi b∈Bb \in B và mọi h∈Fh \in F. Ta nói U là miền của bản đồ vectơ t và rằng t là một bản đồ vectơ của M tại b∈Bb \in B nếu b∈Ub \in U. Với mọi b∈Ub \in U, ta ký hiệu bởi tbt_b song ánh từ F lên MbM_b được xác định bởi tb(h)=φ−1(b,h)t_b(h) = \varphi^{-1}(b, h) với h∈Fh \in F.

7.1.2. Ta nói rằng hai bản đồ vectơ t=(U,φ,F)t = (U, \varphi, F) và t′=(U′,φ′,F′)t' = (U', \varphi', F') của M là tương thích-CrC^r (hoặc đơn giản là tương thích) nếu tồn tại một ánh xạ λ\lambda lớp CrC^r từ đa tạp U∩U′U \cap U' vào không gian Banach L(F;F′)\mathscr{L}(F; F') sao cho:

tb=tb′∘λ(b)với mọi b∈U∩U′. t_b = t'_b \circ \lambda(b) \quad \text{với mọi } b \in U \cap U'.

7.1.3. Ta nói rằng một tập hợp các bản đồ vectơ của M là một átlat vectơ-CrC^r (hoặc đơn giản là átlat vectơ) của M nếu nó gồm các bản đồ vectơ từng đôi một tương thích-CrC^r và các miền của chúng có hợp là B. Ta nói rằng hai átlat vectơ A\mathscr{A} và B\mathscr{B} của M là tương đương-CrC^r (hoặc tương đương) nếu A∪B\mathscr{A} \cup \mathscr{B} lại là một átlat vectơ của M. Quan hệ này là một quan hệ tương đương.

7.1.4. Một cấu trúc bó vectơ lớp CrC^r (với cơ sở B) trên M là dữ kiện của một lớp tương đương các átlat vectơ (Ens., Chap. II, § 6, No. 9). Một bản đồ vectơ thuộc một átlat vectơ của lớp này được gọi là một bản đồ vectơ của bó vectơ M.

Cho M là một bó vectơ với cơ sở B. Với mọi b∈Bb \in B, tồn tại trên thớ MbM_b một và chỉ một cấu trúc không gian Banach sao cho, với mọi bản đồ vectơ t=(U,φ,F)t = (U, \varphi, F) của bó vectơ M tại bb, ánh xạ tbt_b là một đẳng cấu từ F lên MbM_b.

Cho c=(U,ψ,E)c = (U, \psi, E) là một bản đồ của đa tạp B và cho t=(U,φ,F)t = (U, \varphi, F) là một bản đồ vectơ của bó vectơ M, có cùng miền U. Với x∈π−1(U)x \in \pi^{-1}(U), đặt:

α(x)=(ψ(π(x)),tπ(x)−1(x)). \alpha(x) = (\psi(\pi(x)), t_{\pi(x)}^{-1}(x)).

Khi đó bộ ba (π−1(U),α,E×F)(\pi^{-1}(U), \alpha, E \times F) là một bản đồ của tập hợp MM. Tồn tại trên MM một và chỉ một cấu trúc đa tạp lớp C′C' (được gọi là nền tảng của MM) mà đối với nó mọi bản đồ thu được như vậy đều là các bản đồ của đa tạp MM. Khi đó bộ ba (M,B,π)(M, B, \pi) là một phân thớ (6.1.1).

7.1.5. Cho FF là một không gian Banach. Đặt M=B×FM = B \times F, ánh xạ là phép chiếu thứ nhất. Tồn tại trên MM một cấu trúc bó vectơ (với cơ sở BB), và chỉ một, sao cho (B,IdM,F)(B, \mathrm{Id}_M, F) là một bản đồ vectơ. Người ta nói rằng B×FB \times F được trang bị cấu trúc này là bó vectơ tầm thường có cơ sở BB và thớ FF, và đôi khi ký hiệu nó bởi FBF_B. Cấu trúc đa tạp của FBF_B là cấu trúc đa tạp tích, và với mọi b∈Bb \in B, ánh xạ h↦(b,h)h \mapsto (b, h) là một đẳng cấu không gian Banach từ FF lên thớ của FBF_B tại điểm b∈Bb \in B. Người ta thường ký hiệu bởi 00 một bó vectơ tầm thường mà thớ được thu về 00.

7.1.6. Cho MM là một bó vectơ có cơ sở BB. Với b∈Bb \in B, người ta gọi là hạng của MM tại bb và ký hiệu bởi rgb(M)\mathrm{rg}_b(M) chiều (hữu hạn hoặc +∞+\infty) của không gian Banach MbM_b. Ta có dim⁡xM=dim⁡bB+rgbM\dim_x M = \dim_b B + \mathrm{rg}_b M với b=π(x)b = \pi(x). Hàm b↦rgbMb \mapsto \mathrm{rg}_b M là hằng địa phương. Người ta nói rằng MM có hạng hữu hạn nếu rgbM<+∞\mathrm{rg}_b M < +\infty với mọi b∈Bb \in B.

7.2. Cấu xạ của các bó vectơ

7.2.1. Cho BB và B′B' là hai đa tạp và cho ff là một cấu xạ từ BB vào B′B'. Cho MM là một bó vectơ có cơ sở BB và M′M' một bó vectơ có cơ sở B′B'. Người ta nói rằng một ánh xạ gg từ MM vào M′M' là một ff-cấu xạ của các bó vectơ nếu điều kiện sau được thỏa mãn:

Với mọi điểm b0∈Bb_0 \in B, tồn tại một biểu đồ vectơ t=(U,φ,F)t = (U, \varphi, F) của MM tại b0b_0, một biểu đồ vectơ t′=(U′,φ′,F′)t' = (U', \varphi', F') của M′M' tại f(b0)f(b_0) và một ánh xạ λ\lambda thuộc lớp C′C' từ UU vào L(F;F′)\mathscr{L}(F; F') sao cho f(U)⊂U′f(U) \subset U' và gb∘tb=tf(b)′∘λ(b)g_b \circ t_b = t'_{f(b)} \circ \lambda(b) với mọi b∈Ub \in U, trong đó gbg_b là hạn chế của gg lên MbM_b.

Dưới các giả thiết đó, gg là một cấu xạ của các đa tạp và, với mọi b∈Bb \in B, gg cảm sinh một ánh xạ tuyến tính liên tục từ MbM_b vào Mf(b)′M'_{f(b)}. Hạng vectơ của gg tại b∈Bb \in B được gọi là và được ký hiệu bởi rgb(g)\mathrm{rg}_b(g) hạng (hữu hạn hoặc +∞+\infty) của ánh xạ tuyến tính gbg_b.

Ngược lại, nếu r⩾∞r \geqslant \infty hoặc nếu MM có hạng hữu hạn, thì một ff-cấu xạ của các phân thớ của (M,B,π)(M, B, \pi) vào (M′,B′,π′)(M', B', \pi') mà cảm sinh trên mỗi thớ MbM_b một ánh xạ tuyến tính từ MbM_b vào Mf(b)′M'_{f(b)} (với mọi b∈Bb \in B), là một ff-cấu xạ của các bó vectơ.

7.2.2. Giả sử thêm rằng f′f' là một cấu xạ từ B′B' vào một đa tạp B′′B''. Nếu gg là một ff-cấu xạ của MM vào M′M', và nếu g′g' là một f′f'-cấu xạ của M′M' vào một bó vectơ M′′M'' có cơ sở là B′′B'', thì ánh xạ g′∘gg' \circ g là một (f′∘f)(f' \circ f)-cấu xạ của MM vào M′′M''. Ta có (g′∘g)b=gf(b)′∘gb(g' \circ g)_b = g'_{f(b)} \circ g_b với mọi bb trong BB.

7.2.3. Cho M và M' là hai bó vectơ có cùng cơ sở B. Một B-cấu xạ, hay đơn giản là một cấu xạ từ M vào M', được gọi là mọi Id_B-cấu xạ. Hợp thành của hai cấu xạ là một cấu xạ.

Cho g là một cấu xạ bó vectơ từ M vào M'; nếu g là song ánh, thì nó là một đẳng cấu của đa tạp M lên đa tạp M', ánh xạ nghịch đảo g−1g^{-1} là một cấu xạ bó vectơ từ M' vào M và ta có (g−1)b=gb−1(g^{-1})_b = g_b^{-1} với mọi b trong B. Khi đó ánh xạ g là một đẳng cấu bó vectơ.

7.2.4. Cho f là một cấu xạ của một đa tạp B' vào B và cho M là một bó vectơ có cơ sở B. Đặt M′=B′×BMM' = B' \times_B M và ký hiệu bởi π′\pi' (tương ứng g) sự hạn chế lên M' của phép chiếu từ B′×MB' \times M lên B' (tương ứng M). Tồn tại trên M' một và chỉ một cấu trúc bó vectơ có cơ sở B' (đối với π′\pi') sao cho g là một f-cấu xạ. Ta nói M' là bó vectơ có cơ sở B' ảnh ngược của M bởi f và ký hiệu nó bởi f∗Mf^*M; f-cấu xạ g được gọi là f-cấu xạ chính tắc của f∗Mf^*M vào M.

Cấu trúc đa tạp của f∗Mf^*M là cấu trúc của tích thớ của các đa tạp B' và M trên B (5.11.2); với mọi b∈B′b \in B', ánh xạ x↦(b,x)x \mapsto (b, x) là một đẳng cấu các không gian Banach từ Mf(b)M_{f(b)} lên (f∗M)b(f^*M)_b.

Việc thành lập các ảnh ngược của các bó vectơ là bắc cầu.

Cho N' là một bó vectơ có cơ sở B' và cho h là một f-cấu xạ từ N' vào M. Tồn tại một và chỉ một B'-cấu xạ h~\tilde{h} từ N' vào f∗Mf^*M sao cho h=g∘h~h = g \circ \tilde{h}.

Cho N là một bó vectơ có cơ sở B và v là một B-cấu xạ từ N vào M. Tồn tại một và chỉ một B'-cấu xạ, ký hiệu bởi f∗vf^*v, từ f∗Nf^*N vào f∗Mf^*M sao cho biểu đồ

f∗N→f∗vf∗M↓↓N→vM \begin{array}{ccc} f^*N & \xrightarrow{f^*v} & f^*M \\ \downarrow & & \downarrow \\ N & \xrightarrow{v} & M \end{array}

là giao hoán.

7.2.5. Cho B' là một đa tạp con của B và cho i là đơn ánh chính tắc của B' vào B. Nếu M là một bó vectơ có cơ sở B, ảnh ngược i∗Mi^*M được gọi là bó vectơ cảm sinh trên B' bởi M và được ký hiệu bởi M∣B′M|B'. Nếu t=(U,φ,F)t = (U, \varphi, F) là một thẻ vectơ của M, thì (U∩B′,φ∣π−1(U∩B′),F)(U \cap B', \varphi|\pi^{-1}(U \cap B'), F) là một thẻ vectơ của M∣B′M|B'. f-cấu xạ chính tắc của M∣B′M|B' vào M là một đẳng cấu đa tạp từ M∣B′M|B' lên đa tạp con π−1(B′)\pi^{-1}(B') của M.

7.2.6. Cho f là một cấu xạ của một đa tạp B' vào B và cho M (tương ứng M') là một bó vectơ có cơ sở B (tương ứng B'). Một f-đối cấu xạ từ M vào M' được gọi là một B'-cấu xạ từ f∗Mf^*M vào M'. Khi B = B' và f=IdBf = \mathrm{Id}_B, việc cho một ff-đối cấu xạ từ MM vào M′M' tương đương với việc cho một BB-cấu xạ từ MM vào M′M'.

Cho gg là một ff-đối cấu xạ từ MM vào M′M'. Với mọi b∈B′b \in B', ánh xạ gb:x↦g(b,x)g_b : x \mapsto g(b, x) từ Mf(b)M_{f(b)} vào Mb′M'_b là một ánh xạ tuyến tính liên tục.

Giả sử thêm rằng f′f' là một cấu xạ của một đa tạp B′′B'' vào B′B' và rằng hh là một f′f'-đối cấu xạ từ M′M' vào một bó vectơ M′′M'' có cơ sở B′′B''. Khi đó ánh xạ h∘f∗gh \circ f^*g từ f′∗(f∗M)=(f∘f′)∗M{f'}^*(f^*M) = (f \circ f')^*M vào M′′M'' là một (f∘f′)(f \circ f')-đối cấu xạ từ MM vào M′′M'', ký hiệu bởi h∘gh \circ g. Với b∈B′′b \in B'', ta có

(h∘g)b=hb∘gf′(b). (h \circ g)_b = h_b \circ g_{f'(b)}.

7.3. Cấu xạ đa tuyến tính

7.3.1. Cho M1,…,MdM_1, \ldots, M_d và NN là các bó vectơ có cơ sở BB, và cho uu là một ánh xạ từ tập hợp M1×B⋯×BMdM_1 \times_B \cdots \times_B M_d vào NN. Ta nói uu là một cấu xạ đa tuyến tính (hay dd-tuyến tính) nếu điều kiện sau được thỏa mãn:

Với mọi b0∈Bb_0 \in B, tồn tại một lân cận mở UU của b0b_0 trong BB, các bản đồ địa phương của bó vectơ tj=(U,φj,Fj)t^j = (U, \varphi^j, F^j) của MjM_j (với 1≤j≤d1 \leq j \leq d) và t=(U,φ,F)t = (U, \varphi, F) của NN, và một ánh xạ λ\lambda thuộc lớp CrC^r từ UU vào không gian Banach L(F1,…,Fd;F)\mathscr{L}(F^1, \ldots, F^d; F) gồm các ánh xạ dd-tuyến tính liên tục từ F1×⋯×FdF^1 \times \cdots \times F^d vào FF, sao cho:

(tb∘λ(b))(x1,…,xd)=u(tb1(x1),…,tbd(xd)) (t_b \circ \lambda(b))(x_1, \ldots, x_d) = u(t_b^1(x_1), \ldots, t_b^d(x_d))

với mọi b∈Ub \in U và mọi xj∈Fjx_j \in F^j.

Mọi cấu xạ đa tuyến tính uu đều là một cấu xạ đa tạp từ tích thớ M1×B⋯×BMdM_1 \times_B \cdots \times_B M_d vào NN và cảm sinh, với mỗi b∈Bb \in B, một ánh xạ dd-tuyến tính liên tục ubu_b từ (M1)b×⋯×(Md)b(M_1)_b \times \cdots \times (M_d)_b vào NbN_b.

Nếu ff là một cấu xạ từ BB vào một đa tạp B′B', thì theo định nghĩa, một cấu xạ đa tuyến tính từ M1×B⋯×BMdM_1 \times_B \cdots \times_B M_d vào một bó vectơ M′M' có cơ sở B′B' là hợp thành của một cấu xạ đa tuyến tính từ M1×B⋯×BMdM_1 \times_B \cdots \times_B M_d vào f∗M′f^*M' với cấu xạ ff chính tắc từ f∗M′f^*M' vào M′M'.

Một cấu xạ song tuyến tính cũng được gọi là một ghép đôi. Với d=1d = 1, một cấu xạ tuyến tính là một cấu xạ theo nghĩa của 7.2.1. Với d=0d = 0, một cấu xạ 00-tuyến tính được đồng nhất với một tiết diện của NN (7.4).

7.3.2. Một bó đại số có cơ sở BB được gọi là một bó vectơ AA có cơ sở BB, được trang bị một phép ghép cặp từ A×BAA \times_B A vào AA. Khi đó mỗi thớ AbA_b được trang bị một cấu trúc đại số trên KK. Nếu, với mọi b∈Bb \in B, đại số AbA_b có một phần tử đơn vị, ký hiệu bởi ebe_b, thì ánh xạ b↦ebb \mapsto e_b là một tiết diện của AA (xem 7.4). Một bó đại số AA được gọi là địa phương tầm thường nếu, với mọi điểm b0b_0 của BB, tồn tại một phiến đồ vectơ t=(U,φ,E)t = (U, \varphi, E) của AA tại điểm b0b_0 và một cấu trúc đại số trên KK của EE sao cho tbt_b là một đẳng cấu đại số từ EE lên AbA_b với mọi b∈Ub \in U.

7.3.3. Cho AA là một bó đại số kết hợp có phần tử đơn vị, có cơ sở BB. Một bó A-môđun có cơ sở BB được gọi là một bó vectơ MM có cơ sở BB được trang bị một phép ghép cặp m:A×BM→Mm : A \times_B M \to M sao cho ánh xạ mb:Ab×Mb→Mbm_b : A_b \times M_b \to M_b xác định, với mọi b∈Bb \in B, một cấu trúc AbA_b-môđun trên thớ MbM_b.

Cho MM và M′M' là hai bó AA-môđun. Một đồng cấu A từ MM vào M′M' được gọi là mọi cấu xạ g:M→M′g : M \to M' của các bó vectơ có cơ sở BB mà với mọi bb thuộc BB cảm sinh một ánh xạ AbA_b-tuyến tính từ MbM_b vào Mb′M'_b.

Giả sử AA là địa phương tầm thường. Một phân thớ MM các AA-môđun được gọi là địa phương tầm thường nếu, với mọi điểm b0b_0 của BB, tồn tại một bản đồ vectơ t=(U,φ,E)t = (U, \varphi, E) của AA tại b0b_0 như trong 7.3.2, một bản đồ vectơ t′=(U,φ′,L)t' = (U, \varphi', L) của MM tại b0b_0, và một cấu trúc môđun của EE trên LL sao cho, với mọi b∈Ub \in U, tb′t'_b là một tbt_b-đẳng cấu của AbA_b-môđun MbM_b lên EE-môđun LL.

7.3.4. Cho AA là một đại số Banach trên KK (ví dụ một trường được trang bị một cấu trúc KK-đại số hữu hạn chiều). Khi đó phân thớ tầm thường ABA_B là một phân thớ các đại số, địa phương tầm thường. Một phân thớ địa phương tầm thường các ABA_B-môđun MM cũng được gọi là một phân thớ vectơ trên AA (có cơ sở là BB). Khi đó các thớ MbM_b là các AA-môđun tôpô. Một ff-cấu xạ uu của MM vào một phân thớ vectơ khác trên AA được gọi là AA-tuyến tính nếu các ánh xạ ubu_b là AA-tuyến tính với mọi b∈Bb \in B.

7.4. Các tiết diện

7.4.1. Cho MM là một phân thớ vectơ có cơ sở BB. Với mọi tập mở UU của BB, ta ký hiệu bởi SMr(U)\mathscr{S}_M^r(U) tập hợp các tiết diện cấp CrC^r của MM trên UU, nghĩa là, các cấu xạ cấp CrC^r từ UU vào MM sao cho s(b)∈Mbs(b) \in M_b với mọi b∈Ub \in U. Tập hợp này được trang bị một cấu trúc môđun trên vành các hàm cấu xạ Cr(U)\mathscr{C}^r(U) theo các quy tắc:

(1)

(s+s′)(b)=s(b)+s′(b) (s + s')(b) = s(b) + s'(b)
(2)
(φ⋅s)(b)=φ(b)⋅s(b) (\varphi \cdot s)(b) = \varphi(b) \cdot s(b)
với s,s′s, s' trong SMr(U)\mathscr{S}_M^r(U) và φ\varphi trong Cr(U)\mathscr{C}^r(U). Khi tập mở UU biến thiên, ta thu được một bó SMr\mathscr{S}_M^r các ánh xạ từ BB vào MM (x. No. 5.4.1), gọi là bó các tiết diện của MM.

7.4.2. Cho M1,…,MdM_1, \ldots, M_d và NN là các bó vectơ có cơ sở MM và cho uu là một cấu xạ đa tuyến tính từ M1×B…×BMdM_1 \times_B \ldots \times_B M_d vào NN. Với 1≤j≤d1 \leq j \leq d, giả sử ta cho một tiết diện sjs_j của MjM_j trên một tập mở UU của BB; ta định nghĩa một tiết diện u(s1,…,sd)u(s_1, \ldots, s_d) của NN trên UU bởi công thức:

u(s1,…,sd)(b)=ub(s1(b),…,sd(b))với b∈U. u(s_1, \ldots, s_d)(b) = u_b(s_1(b), \ldots, s_d(b)) \quad \text{với } b \in U.

Ánh xạ (s1,…,sd)↦u(s1,…,sd)(s_1, \ldots, s_d) \mapsto u(s_1, \ldots, s_d) là đa tuyến tính trên Cr(U)\mathscr{C}^r(U). Đôi khi nó được ký hiệu là S(u)\mathscr{S}(u).

7.4.3. Cho ff là một cấu xạ từ một đa tạp B′B' vào BB và cho MM là một bó vectơ có cơ sở BB. Với mọi tập mở UU của BB và mọi s∈SMr(U)s \in \mathscr{S}_M^r(U), ánh xạ x↦(x,s(f(x)))x \mapsto (x, s(f(x))) là một tiết diện cấp CrC^r của f∗Mf^*M trên tập mở f−1(U)f^{-1}(U), được ký hiệu là f∗sf^*s và gọi là ảnh ngược của ss bởi ff. Ánh xạ s↦f∗ss \mapsto f^*s từ SMr(U)\mathscr{S}_M^r(U) vào Sf∗M(f−1(U))\mathscr{S}_{f^*M}(f^{-1}(U)) là nửa tuyến tính đối với đồng cấu g↦g∘(f∣f−1(U))g \mapsto g \circ (f|f^{-1}(U)) từ Cr(U)\mathscr{C}^r(U) vào Cr(f−1(U))\mathscr{C}^r(f^{-1}(U)).

Nếu hơn nữa NN là một bó vectơ có cơ sở B′B' và gg là một ff-đối cấu xạ từ MM vào NN, đôi khi người ta ký hiệu bởi S(g)\mathscr{S}(g) ánh xạ s↦g∘f∗ss \mapsto g \circ f^*s từ SMr(U)\mathscr{S}_M^r(U) vào SNr(f−1(U))\mathscr{S}_N^r(f^{-1}(U)).

7.4.4. Cho MM là một bó vectơ với cơ sở BB, có hạng hữu hạn. Một khung của MM trên một tập mở UU của BB được gọi là một dãy hữu hạn (s1,…,sn)(s_1, \ldots, s_n) các tiết diện của MM trên UU sao cho (s1(b),…,sn(b))(s_1(b), \ldots, s_n(b)) là một cơ sở của không gian vectơ MbM_b với mọi b∈Bb \in B. Khi đó dãy (s1,…,sn)(s_1, \ldots, s_n) là một cơ sở của Cr(U)\mathscr{C}^r(U)-môđun SMr(U)\mathscr{S}_M^r(U). Nếu ff là một cấu xạ từ một đa tạp B′B' vào BB, thì các tiết diện f∗sjf^*s_j lập thành một khung của f∗Mf^*M trên f−1(U)f^{-1}(U).

7.4.5. Cho LL là một trường, được trang bị một cấu trúc đại số trên KK có số chiều hữu hạn và cho (M,B,π)(M, B, \pi) là một phân thớ. Giả sử rằng trên mỗi thớ MbM_b đã cho một cấu trúc không gian vectơ trên LL, có số chiều hữu hạn. Khi đó tồn tại nhiều nhất một cấu trúc bó vectơ trên LL với cơ sở BB trên MM, tương thích với ánh xạ π\pi, cấu trúc đa tạp của MM và các cấu trúc không gian vectơ trên LL trên các thớ (7.3.4). Để một cấu trúc như vậy tồn tại, điều kiện cần và đủ là điều kiện sau được thỏa mãn:

(FV) Với mọi b0∈Bb_0 \in B, tồn tại một lân cận mở UU của b0b_0 trong BB và một đẳng cấu đa tạp φ\varphi từ π−1(U)\pi^{-1}(U) lên tích U×FU \times F của UU với một không gian vectơ FF trên LL có số chiều hữu hạn, sao cho với mọi b∈Ub \in U, song ánh φb\varphi_b từ MbM_b lên FF cảm sinh bởi φ\varphi là một đẳng cấu các không gian vectơ trên trường LL.

Khi đó các bộ ba (U,φ,F)(U, \varphi, F) thỏa mãn (FV) là các bản đồ địa phương của bó vectơ của bó vectơ MM.

Điều kiện (FV) tương đương với: (FV') Với mọi b0∈Bb_0 \in B, tồn tại một số nguyên nn và nn tiết diện s1,…,sns_1, \ldots, s_n của MM trên một lân cận mở UU của b0b_0 sao cho ánh xạ

(b,a1,…,an)↦a1s1(b)+⋯+ansn(b) (b, a_1, \ldots, a_n) \mapsto a_1 s_1(b) + \cdots + a_n s_n(b)
là một đẳng cấu của đa tạp U×LnU \times L^n lên đa tạp π−1(U)\pi^{-1}(U).

7.4.6. Cho M1,…,MdM_1, \ldots, M_d và NN là các bó vectơ có cơ sở BB, trong đó các MjM_j có hạng hữu hạn. Giả sử rằng với mọi tập mở UU của BB ta được cho một ánh xạ φU\varphi_U từ SM1r(U)×⋯×SMdr(U)\mathscr{S}_{M_1}^r(U) \times \cdots \times \mathscr{S}_{M_d}^r(U) vào SNr(U)\mathscr{S}_N^r(U), Cr(U)\mathscr{C}^r(U)-đa tuyến tính, sao cho với V⊂UV \subset U ta có:

φU(s1,…,sd)∣V=φV(s1∣V,…,sd∣V). \varphi_U(s_1, \ldots, s_d)|V = \varphi_V(s_1|V, \ldots, s_d|V).

Khi đó tồn tại một và chỉ một cấu xạ đa tuyến tính uu từ M1×B…×BMdM_1 \times_B \ldots \times_B M_d vào NN sao cho φU(s1,…,sd)=u(s1,…,sd)\varphi_U(s_1, \ldots, s_d) = u(s_1, \ldots, s_d) với mọi tiết diện sjs_j của MM trên tập mở UU của BB.

7.4.7. Cho ff là một cấu xạ của một đa tạp B′B' vào BB và cho MM (tương ứng M′M') là một bó vectơ có cơ sở BB (tương ứng B′B') và có hạng hữu hạn. Giả sử rằng với mọi tập mở UU của BB ta được cho một ánh xạ φU\varphi_U từ SMr(U)\mathscr{S}_M^r(U) vào SM′r′(f−1(U))\mathscr{S}_{M'}^{r'}(f^{-1}(U)), Cr(U)\mathscr{C}^r(U)-nửa tuyến tính, sao cho

φU(s)∣f−1(V)=φV(s∣V) \varphi_U(s)|f^{-1}(V) = \varphi_V(s|V)

với mọi tập mở V⊂UV \subset U. Khi đó tồn tại một và chỉ một ff-đối cấu xạ gg từ MM vào M′M' sao cho φU(s)=S(g)(s)\varphi_U(s) = \mathscr{S}(g)(s) với mọi s∈SMr(U)s \in \mathscr{S}_M^r(U).

*7.4.8. Cho F\mathscr{F} là một bó các môđun trên bó các vành CBr\mathscr{C}_B^r. Ta nói rằng F\mathscr{F} là địa phương tự do nếu với mọi b∈Bb \in B, tồn tại một lân cận mở UU của bb và một số nguyên nn sao cho F∣U\mathscr{F}|U đẳng cấu (như một bó các CUr\mathscr{C}_U^r-môđun) với bó (CUr)n(\mathscr{C}_U^r)^n.

Nếu MM là một bó vectơ có cơ sở BB và hạng hữu hạn, thì faisceau SMr\mathscr{S}_M^r là tự do địa phương. Ngược lại, với mọi faisceau tự do địa phương F\mathscr{F} trên BB, tồn tại một bó vectơ MM và một đẳng cấu của faisceau từ SMr\mathscr{S}_M^r lên F\mathscr{F}. Nếu M′M' là một bó vectơ khác có cơ sở BB và hạng hữu hạn, thì ánh xạ g↦S(g)g \mapsto \mathscr{S}(g) là một song ánh từ tập hợp các BB-cấu xạ của MM vào M′M' lên tập hợp các cấu xạ của faisceau các Cr\mathscr{C}^r-môđun từ SMr\mathscr{S}_M^r vào SM′r′\mathscr{S}_{M'}^{r'}*

7.5. Bó vectơ con, bó vectơ thương, dãy khớp

Trong số này, bó vectơ có nghĩa là bó vectơ có cơ sở BB và cấu xạ của các bó vectơ có nghĩa là một mathrmIdB\\mathrm{Id}_B-cấu xạ.

7.5.1. Cho MM là một bó vectơ. Một tập con M′M' của MM được gọi là một bó vectơ con của MM nếu, với mọi điểm b∈Bb \in B, tồn tại một bản đồ vectơ t=(U,φ,E)t = (U, \varphi, E) của MM tại bb và một không gian con vectơ đóng FF của EE có một phần bù tôpô, sao cho

φ(π−1(U)∩M′)=U×F. \varphi(\pi^{-1}(U) \cap M') = U \times F.

Trong các điều kiện đó, trên M′M' tồn tại một và chỉ một cấu trúc bó vectơ sao cho đơn ánh chính tắc của M′M' vào MM là một cấu xạ. Với mỗi b∈Bb \in B, thớ Mb′M'_b của M′M' là không gian con vectơ đóng M′∩MbM' \cap M_b của MbM_b; M′M' là một đa tạp con đóng của MM và cấu trúc đa tạp nền của cấu trúc bó vectơ của M′M' trùng với cấu trúc được cảm sinh bởi cấu trúc đa tạp của MM.

7.5.2. Cho M′M' là một bó vectơ con của MM. Gọi R{x,y}R\{x, y\} là quan hệ sau giữa các điểm x,yx, y của MM: « tồn tại một phần tử bb của BB sao cho x∈Mb,y∈Mbx \in M_b, y \in M_b và x−y∈Mb′x - y \in M'_b ». Khi đó RR là một quan hệ tương đương chính quy trên MM (x. n° 5.9.7). Trên tập hợp M/RM/R, tồn tại một và chỉ một cấu trúc bó vectơ sao cho ánh xạ chính tắc từ MM lên M/RM/R là một cấu xạ. Ta ký hiệu nó bởi M/M′M/M' và gọi bó vectơ được xác định như vậy là thương của MM bởi M′M'; với mỗi điểm bb của BB, bó (M/M′)b(M/M')_b là không gian vectơ tôpô thương Mb/Mb′M_b/M'_b và cấu trúc đa tạp trên M/M′M/M' là thương của cấu trúc đa tạp trên MM.

7.5.3. Giữ các giả thiết của 7.5.2. Với mọi điểm b0b_0 của BB, ta có thể tìm được một lân cận mở UU của b0b_0, một không gian Banach FF, là tổng trực tiếp của hai không gian con đóng F′F' và F′′F'', và một đẳng cấu bó vectơ ι\iota từ FUF_U lên M∣UM|U với các tính chất sau: (i) Hạn chế ι′\iota' của ι\iota lên U×F′U \times F' là một đẳng cấu từ FU′F'_U lên M′∣UM'|U. (ii) Nếu ρ\rho là ánh xạ chính tắc từ MM lên M′′=M/M′M'' = M/M', và nếu ι′′\iota'' là hạn chế của ι\iota lên U×F′′U \times F'', thì ánh xạ ρ∘ι′′\rho \circ \iota'' là một đẳng cấu từ FU′′F''_U lên M′′∣UM''|U.

7.5.4. Nếu một cấu xạ của các bó vectơ g:L→Mg : L \to M có ảnh được chứa trong M′M', thì nó là một cấu xạ của các bó vectơ từ LL vào M′M'. Bây giờ xét một cấu xạ của các bó vectơ h:M→Nh : M \to N và giả sử rằng, với mọi bb thuộc BB, hạn chế của hbh_b lên Mb′M'_b bằng không. Nếu ρ\rho là cấu xạ chính tắc từ MM lên M/M′M/M', thì tồn tại một và chỉ một cấu xạ hˉ\bar{h} từ M/M′M/M' vào NN sao cho h=hˉ∘ρh = \bar{h} \circ \rho.

7.5.5. Cho PP và QQ là hai bó vectơ, và cho gg là một cấu xạ từ PP vào QQ; với mọi điểm bb của BB, ký hiệu bởi NbN_b và IbI_b tương ứng là hạt nhân và ảnh của ánh xạ tuyến tính gb:Pb→Qbg_b : P_b \to Q_b. Đặt N=⋃b∈BNbN = \bigcup_{b \in B} N_b và I=⋃b∈BIbI = \bigcup_{b \in B} I_b. Cấu xạ gg được gọi là trực tiếp địa phương nếu NN là một bó vectơ con của PP và II là một bó vectơ con của QQ. Khi đó cấu xạ gg xác định, bằng cách chuyển qua thương, một đẳng cấu từ P/NP/N lên II. Người ta nói rằng NN là hạt nhân của gg và ký hiệu nó bởi Ker g\mathrm{Ker}\,g. Tương tự, bó con II được gọi là ảnh của gg và được ký hiệu bởi Im g\mathrm{Im}\,g. Nếu r⩾∞r \geqslant \infty, cấu xạ gg là trực tiếp địa phương khi và chỉ khi gg là một phép dưới-ngâm. Nếu PP có hạng hữu hạn, cấu xạ gg là trực tiếp địa phương khi và chỉ khi hạng vectơ của gg là hằng địa phương, hay tương đương, khi và chỉ khi gg là một phép dưới-ngâm.

7.5.6. Cho M→fM′→gM′′M \xrightarrow{f} M' \xrightarrow{g} M'' là hai cấu xạ của các bó vectơ. Ta nói rằng dãy (f,g)(f, g) là khớp trực tiếp địa phương nếu hai cấu xạ ff và gg là trực tiếp địa phương và nếu Im⁡f=Ker⁡g\operatorname{Im} f = \operatorname{Ker} g. Nếu g∘f=0g \circ f = 0, tập hợp DD các điểm b∈Bb \in B sao cho dãy Mb→fbMb′→gbMb′′M_b \xrightarrow{f_b} M'_b \xrightarrow{g_b} M''_b là khớp trực tiếp (nghĩa là Ker⁡fb\operatorname{Ker} f_b và Im⁡gb\operatorname{Im} g_b có các phần bù tôpô và Im⁡fb=Ker⁡gb\operatorname{Im} f_b = \operatorname{Ker} g_b) là mở, và dãy M∣D→fM′∣D→gM′′∣DM|D \xrightarrow{f} M'|D \xrightarrow{g} M''|D là khớp trực tiếp địa phương.

Người ta định nghĩa tương tự các dãy khớp trực tiếp địa phương có độ dài tùy ý. Do lạm dụng ngôn ngữ, đôi khi người ta nói dãy khớp trực tiếp thay cho dãy khớp trực tiếp địa phương.

7.5.7. Cho 0→M→fM′→gM′′→00 \to M \xrightarrow{f} M' \xrightarrow{g} M'' \to 0 là một dãy các cấu xạ của các bó vectơ. Để dãy này là khớp trực tiếp địa phương, điều kiện cần và đủ là ff là một đẳng cấu từ MM lên một bó vectơ con f(M)f(M) của M′M' và gg định nghĩa, bằng cách chuyển qua thương, một đẳng cấu của bó vectơ thương M′/f(M)M'/f(M) lên M′′M''.

7.6. Hàm tử vectơ

Trong số này và trong ba số tiếp theo 7.7 đến 7.9, chữ I chỉ một tập hợp hữu hạn, hợp của hai tập con rời nhau I+I_+ và I−I_-. Ta ký hiệu bởi V=(Vi)i∈I\mathscr{V} = (V_i)_{i \in I} (và tương tự bởi V′,V′′,…\mathscr{V}', \mathscr{V}'', \ldots) một họ các không gian Banach được đánh chỉ số bởi II. Ta ký hiệu bởi Hom⁡(V,V′)\operatorname{Hom}(\mathscr{V}, \mathscr{V}') không gian Banach ∏i∈I+L(Vi;Vi′)×∏i∈I−L(Vi′;Vi)\prod_{i \in I_+} \mathscr{L}(V_i; V'_i) \times \prod_{i \in I_-} \mathscr{L}(V'_i; V_i) và bởi f=(fi)f = (f_i) một phần tử của Hom⁡(V,V′)\operatorname{Hom}(\mathscr{V}, \mathscr{V}'). Ta ký hiệu bởi Id⁡V\operatorname{Id}_{\mathscr{V}} phần tử (Id⁡Vi)i∈I(\operatorname{Id}_{V_i})_{i \in I} của Hom⁡(V,V)\operatorname{Hom}(\mathscr{V}, \mathscr{V}). Với f∈Hom⁡(V,V′)f \in \operatorname{Hom}(\mathscr{V}, \mathscr{V}') và f′∈Hom⁡(V′,V′′)f' \in \operatorname{Hom}(\mathscr{V}', \mathscr{V}''), ta ký hiệu bởi f′∘ff' \circ f phần tử của Hom⁡(V,V′′)\operatorname{Hom}(\mathscr{V}, \mathscr{V}'') mà các thành phần được cho bởi:

(f′∘f)i=fi′∘fineˆˊu i∈I+ (f' \circ f)_i = f'_i \circ f_i \quad \text{nếu } i \in I_+
(f′∘f)i=fi∘fi′neˆˊu i∈I− (f' \circ f)_i = f_i \circ f'_i \quad \text{nếu } i \in I_-

7.6.1. Một hàm tử vectơ (tương ứng, hàm tử vectơ hữu hạn chiều) kiểu I và lớp CrC^r là dữ liệu, với mỗi họ V=(Vi)i∈I\mathscr{V} = (V_i)_{i \in I} các không gian Banach (tương ứng, các không gian vectơ hữu hạn chiều trên KK), của một không gian Banach τ(V)\tau(\mathscr{V}) và, với mỗi f∈Hom⁡(V,V′)f \in \operatorname{Hom}(\mathscr{V}, \mathscr{V}'), của một phần tử τ(f)∈L(τ(V);τ(V′))\tau(f) \in \mathscr{L}(\tau(\mathscr{V}); \tau(\mathscr{V}')), các dữ liệu này thỏa mãn hai điều kiện sau: (a) Ta có τ(Id⁡V)=Id⁡τ(V)\tau(\operatorname{Id}_\mathscr{V}) = \operatorname{Id}_{\tau(\mathscr{V})} và τ(f′∘f)=τ(f′)∘τ(f)\tau(f' \circ f) = \tau(f') \circ \tau(f). (b) Ánh xạ τ:Hom⁡(V,V′)→L(τ(V);τ(V′))\tau : \operatorname{Hom}(\mathscr{V}, \mathscr{V}') \to \mathscr{L}(\tau(\mathscr{V}); \tau(\mathscr{V}')) là thuộc lớp CrC^r.

7.6.2. Cho M=(Mi)i∈I\mathscr{M} = (M^i)_{i \in I} là một họ các bó vectơ có cơ sở BB. Với b∈Bb \in B, đặt Mb=(Mbi)i∈I\mathscr{M}_b = (M^i_b)_{i \in I}. Cho τ\tau là một hàm tử vectơ và gọi τ(M)\tau(\mathscr{M}) là tập hợp tổng của các τ(Mb)\tau(\mathscr{M}_b) với b∈Bb \in B; trên τ(M)\tau(\mathscr{M}) tồn tại một và chỉ một cấu trúc bó vectơ (có cơ sở BB đối với ánh xạ π\pi từ τ(M)\tau(\mathscr{M}) vào BB sao cho, với mọi b∈Bb \in B, ta có τ(Mb)={b}\tau(\mathscr{M}_b) = \{ b \}) có tính chất sau:

Cho UU là một tập mở của BB và, với mọi ii, cho ti=(U,φi,Fi)t^i = (U, \varphi_i, F_i) là một bản đồ vectơ của MiM^i, có miền xác định là UU; đặt F=(Fi)i∈I\mathscr{F} = (F_i)_{i \in I} và gọi ψb\psi_b là phần tử của Hom(Mb,F)\mathrm{Hom}(\mathscr{M}_b, \mathscr{F}) được xác định bởi (ψb)i=(tbi)−1(\psi_b)_i = (t^i_b)^{-1} với i∈I+i \in I_+ và (ψb)i=tbi(\psi_b)_i = t^i_b với i∈I−i \in I_-; với x∈π−1(U)x \in \pi^{-1}(U), đặt ψ(x)=(π(x),τ(ψπ(x))(x))\psi(x) = (\pi(x), \tau(\psi_{\pi(x)})(x)). Khi đó bộ ba (U,ψ,τ(F))(U, \psi, \tau(\mathscr{F})) là một bản đồ vectơ của bó vectơ τ(M)\tau(\mathscr{M}).

Được trang bị cấu trúc này, τ(M)\tau(\mathscr{M}) được gọi là bó vectơ suy ra từ họ M\mathscr{M} bởi hàm tử vectơ τ\tau.

7.6.3. Cho ff là một cấu xạ từ BB vào một đa tạp B′B'. Cho M=(Mi)\mathscr{M} = (M^i) (tương ứng M′=(M′i)\mathscr{M}' = ({M'}^i)) là một họ được đánh chỉ số bởi II các bó vectơ có cơ sở BB (tương ứng B′B'). Với mọi i∈I+i \in I_+, cho gig_i là một ff-cấu xạ từ MiM^i vào M′i{M'}^i và với mọi i∈I−i \in I_-, cho gig_i là một ff-đối cấu xạ từ M′i{M'}^i vào MiM^i. Đặt g=(gi)i∈Ig = (g_i)_{i \in I} và với b∈Bb \in B, đặt gb=((gi)b)i∈Ig_b = ((g_i)_b)_{i \in I} (xem 7.2.1 và 7.2.6). Tồn tại một và chỉ một ff-cấu xạ, ký hiệu là τ(g)\tau(g), từ τ(M)\tau(\mathscr{M}) vào τ(M′)\tau(\mathscr{M}') sao cho τ(g)b=τ(gb)\tau(g)_b = \tau(g_b) với mọi b∈Bb \in B.

Đặc biệt, nếu Mi=f∗M′iM^i = f^*{M'}^i, các gig_i là các cấu xạ hoặc đối cấu xạ chính tắc, thì BB-cấu xạ từ τ(M)\tau(\mathscr{M}) vào f∗τ(M′)f^*\tau(\mathscr{M}') được xác định bởi τ(g)\tau(g) (7.2.4) là một đẳng cấu: sự kiện này được diễn đạt bằng cách nói rằng τ\tau giao hoán với các ảnh nghịch đảo.

Đặc biệt, cho B′B' là một đa tạp con của BB và đặt M∣B′=(Mi∣B′)i∈I\mathscr{M}|B' = (M^i|B')_{i \in I}. Khi đó các bó vectơ τ(M)∣B′\tau(\mathscr{M})|B' và τ(M∣B′)\tau(\mathscr{M}|B') đẳng cấu với nhau trên B′B' một cách chính tắc.

7.6.4. Cho τ,τ1,…,τd\tau, \tau_1, \ldots, \tau_d là các hàm tử vectơ (kiểu II và lớp C′C'). Một cấu xạ dd-tuyến tính θ\theta từ (τ1,…,τd)(\tau_1, \ldots, \tau_d) vào τ\tau là dữ liệu, với mọi họ V\mathscr{V} các không gian Banach được đánh chỉ số bởi II, của một ánh xạ tuyến tính dd-tuyến tính liên tục θV\theta_{\mathscr{V}} từ τ1(V)×⋯×τd(V)\tau_1(\mathscr{V}) \times \cdots \times \tau_d(\mathscr{V}) vào τ(V)\tau(\mathscr{V}), dữ liệu này thỏa mãn điều kiện sau: với mọi f∈Hom(V′,V′′)f \in \mathrm{Hom}(\mathscr{V}', \mathscr{V}'') ta có

τ(f)∘θV=θV′′∘(τ1(f)×⋯×τd(f)). \tau(f) \circ \theta_{\mathscr{V}} = \theta_{\mathscr{V}''} \circ (\tau_1(f) \times \cdots \times \tau_d(f)).
Với d=1d = 1, người ta nói đơn giản là một cấu xạ từ τ1\tau_1 vào τ\tau.

Cho M\mathscr{M} khi đó là một họ được chỉ số hóa bởi II các bó vectơ trên BB. Tồn tại một và chỉ một cấu xạ B-d-tuyến tính θM\theta_{\mathscr{M}} từ τ1(M)×B⋯×Bτd(M)\tau_1(\mathscr{M}) \times_B \cdots \times_B \tau_d(\mathscr{M}) vào τ(M)\tau(\mathscr{M}) sao cho (θM)b=θMb(\theta_{\mathscr{M}})_b = \theta_{\mathscr{M}_b} với mọi b∈Bb \in B.

Với các ký hiệu của 7.6.3., ta có

τ(g)∘θM=θM′∘(τ1(g)×⋯×τd(g)). \tau(g) \circ \theta_{\mathscr{M}} = \theta_{\mathscr{M}'} \circ (\tau_1(g) \times \cdots \times \tau_d(g)).
Nếu d=1d = 1, và nếu θ\theta là một đẳng cấu (nghĩa là θV\theta_{\mathscr{V}} là một đẳng cấu với mọi họ V\mathscr{V}), thì θM\theta_{\mathscr{M}} là một đẳng cấu.

7.6.5. Các định nghĩa và kết quả của các No. 7.6.2 đến 7.6.4 mở rộng cho trường hợp các hàm tử vectơ hữu hạn chiều, với điều kiện giả thiết ở mọi nơi rằng các bó vectơ đã cho đều có hạng hữu hạn.

Chúng cũng mở rộng cho trường hợp sau: cho L là một trường được trang bị một cấu trúc đại số trên K hữu hạn chiều; lấy cho τ một hàm tử vectơ trên L (tức là thỏa mãn các giả thiết của 7.6.1 trong đó K đã được thay bằng L), và chỉ xét các bó vectơ trên L theo nghĩa của 7.3.4.

7.6.6. Ta gọi là một hàm tử vectơ cho các đẳng cấu (tương ứng, hàm tử vectơ hữu hạn chiều cho các đẳng cấu) dữ liệu, với mỗi không gian Banach V (tương ứng, mỗi không gian vectơ hữu hạn chiều trên K), của một không gian Banach τ(V) và, với mỗi đẳng cấu f của V lên một không gian Banach V’, của một đẳng cấu τ(f) của τ(V) lên τ(V’), các dữ liệu này phải thỏa mãn điều kiện (a) của 7.6.1 và điều kiện sau:

(b’) Ánh xạ f↦τ(f)f \mapsto \tau(f) từ tập con mở của L(V;V′)\mathscr{L}(V; V') được tạo thành bởi các đẳng cấu của V lên V’, vào L(τ(V);τ(V′))\mathscr{L}(\tau(V); \tau(V')), thuộc lớp CrC^r.

Các định nghĩa và kết quả của các Số trước đó mở rộng cho trường hợp các hàm tử vectơ cho các đẳng cấu (bằng cách lấy I+={1}I_+ = \{1\} và I−=∅I_- = \varnothing), ngoại trừ các định nghĩa và kết quả của đoạn thứ nhất của Số 7.6.3.

7.7. Tổng trực tiếp, các bó của các ánh xạ đa tuyến tính, đối ngẫu

7.7.1. Giả sử rằng I−=∅I_- = \varnothing. Ta định nghĩa một hàm tử vectơ σ gọi là hàm tử tổng trực tiếp bằng cách đặt σ(V)=⨁i∈IVi\sigma(\mathscr{V}) = \bigoplus_{i \in I} V_i và σ(f)=⨁i∈Ifi\sigma(\mathfrak{f}) = \bigoplus_{i \in I} f_i. Nếu M=(Mi)i∈I\mathscr{M} = (M^i)_{i \in I} là một họ các bó vectơ trên B, thì bó vectơ σ(M)\sigma(\mathscr{M}) được gọi là tổng trực tiếp của các MiM^i và được ký hiệu bởi ⨁i∈IMi\bigoplus_{i \in I} M^i. Với mỗi b∈Bb \in B, thớ tại bb của ⨁i∈IMi\bigoplus_{i \in I} M^i là tổng trực tiếp của các thớ của các MiM^i tại bb.

Cho U là một tập con mở của B và cho si∈FMi(U)s_i \in \mathscr{F}_{M_i}(U) (với i∈Ii \in I). Khi đó ánh xạ b↦∑i∈Isi(b)b \mapsto \sum_{i \in I} s_i(b) là một tiết diện, ký hiệu là ∑isi\sum_i s_i, thuộc lớp CrC^r của M=⨁i∈IMiM = \bigoplus_{i \in I} M^i và ánh xạ (si)i∈I↦∑isi(s_i)_{i \in I} \mapsto \sum_i s_i là một đẳng cấu các Cr(U)\mathscr{C}^r(U)-môđun từ ⨁i∈IFMi(U)\bigoplus_{i \in I} \mathscr{F}_{M_i}(U) lên FM(U)\mathscr{F}_M(U).

Đa tạp nền của ⨁i∈IMi\bigoplus_{i \in I} M^i được đồng nhất với tích thớ ∏BMi\prod_B M^i.

Ta ký hiệu bởi pri\mathrm{pr}_i cấu xạ các bó vectơ từ ⨁i∈IMi\bigoplus_{i \in I} M^i vào MiM^i mà trên mỗi thớ ⨁i∈IMbi\bigoplus_{i \in I} M^i_b là phép chiếu thứ i. Ta định nghĩa tương tự đơn ánh chính tắc jij_i của MiM^i vào ⨁i∈IMi\bigoplus_{i \in I} M^i.

Cho ff là một cấu xạ từ B vào một đa tạp B′B'; cho H là một tập hợp hữu hạn thứ hai và cho N=(Nh)h∈H\mathscr{N} = (N^h)_{h \in H} là một họ các bó vectơ có cơ sở B′B'. Ánh xạ u→⨁i∈I(prh∘u∘ji)(h,i)∈H×Iu \to \bigoplus_{i \in I} (\mathrm{pr}_h \circ u \circ j_i)_{(h,i) \in H \times I} là một song ánh từ tập hợp các ff-cấu xạ của ⨁i∈IMi\bigoplus_{i \in I} M^i vào ⨁h∈HNh\bigoplus_{h \in H} N^h lên tập hợp các ma trận (uh,i)(h,i)∈H×I(u_{h,i})_{(h,i) \in H \times I}, trong đó uh,iu_{h,i} là một ff-cấu xạ từ MiM^i vào NhN^h.

Nếu I={1,2}I = \{1,2\}, dãy

0→M1→j1M1⊕M2→pr2M2→0 0 \to M^{1} \xrightarrow{j_1} M^1 \oplus M^2 \xrightarrow{\mathrm{pr}_2} M^2 \to 0
là khớp trực tiếp.

Ngược lại, cho MM là một bó vectơ có cơ sở BB và cho M′M' là một bó vectơ con của MM. Giả sử rằng đa tạp BB là paracompact và rằng một trong hai điều kiện sau được thỏa mãn: (i) KK khác R\mathbf{R} hoặc C\mathbf{C}; (ii) K=R,r≠ωK = \mathbf{R}, r \neq \omega và đa tạp BB thừa nhận các phân hoạch đơn vị lớp CrC^r (5.3.6).

Khi đó tồn tại một bó vectơ con M′′M'' của MM sao cho MM được đồng nhất với tổng trực tiếp M′⊕M′′M' \oplus M''.

7.7.2. Giả sử rằng I+={0}I_+ = \{0\} và rằng I−={1,2,…,d}I_- = \{1,2,\ldots,d\}. Ta định nghĩa một hàm tử vectơ ηd\eta_d kiểu II và lớp CrC^r bằng cách đặt ηd(V)=L(V1,…,Vd;V0)\eta_d(\mathscr{V}) = \mathscr{L}(V_1,\ldots,V_d; V_0) và ηd(f)(u)=f0∘u∘(f1×⋯×fd)\eta_d(f)(u) = f_0 \circ u \circ (f_1 \times \cdots \times f_d) với u∈ηd(V)u \in \eta_d(\mathscr{V}). Nếu M=(Mi)i∈I\mathscr{M} = (M_i)_{i \in I} là một họ các bó vectơ có cơ sở BB, bó vectơ ηd(M)\eta_d(\mathscr{M}) được ký hiệu bởi L(M1,…,Md;M0)\mathscr{L}(M_1,\ldots,M_d; M_0).

Cho uu là một cấu xạ đa tuyến tính từ M1×B⋯×BMdM_1 \times_B \cdots \times_B M_d vào M0M_0. Khi đó ánh xạ u^:b↦ub\hat{u} : b \mapsto u_b là một tiết diện của L(M1,…,Md;M0)\mathscr{L}(M_1,\ldots,M_d; M_0) và ánh xạ u↦u^u \mapsto \hat{u} là song ánh.

7.7.3. Giữ các ký hiệu của 7.7.2 và giả sử thêm rằng d=1d = 1. Khi đó bó vectơ L(M1;M0)\mathscr{L}(M_1; M_0) được gọi là bó các đồng cấu từ M1M_1 vào M0M_0. Các tiết diện của nó tương ứng với các BB-cấu xạ từ M1M_1 vào M0M_0.

Nếu hơn nữa M0M_0 là bó tầm thường KBK_B, bó vectơ L(M1;KB)\mathscr{L}(M_1; K_B) được gọi là đối ngẫu của M=M1M = M_1 và được ký hiệu bởi M′M': thớ (M′)b(M')_b là không gian các dạng tuyến tính liên tục trên thớ MbM_b của MM tại điểm b∈Bb \in B.

Nếu ss (resp. tt) là một tiết diện của MM (resp. M′M') trên một tập mở UU của BB, ánh xạ b↦(b,⟨s(b),t(b)⟩)b \mapsto (b, \langle s(b), t(b) \rangle) là một tiết diện, ký hiệu là ⟨s,t⟩\langle s, t \rangle của bó tầm thường KBK_B.1^1

7.8. Các bó của các ánh xạ đa tuyến tính phản xứng

Trong các số 7.8.1 đến 7.8.5, giả thiết rằng KK có đặc số 0 hoặc các bó vectơ được xét có hạng hữu hạn. Người ta chưa biết liệu định nghĩa của hàm tử vectơ αd\alpha_d được cho trong 7.8.1 có thể được thực hiện mà không có bất kỳ hạn chế nào hay không.

7.8.1. Cho I+={0},I−={1}I_+ = \{0\}, I_- = \{1\} và cho dd là một số nguyên ⩾1\geqslant 1. Ta định nghĩa một

1^1 Khi MM có hạng hữu hạn, người ta viết M∗M^* thay cho M′M'.

hàm tử vectơ αd\alpha_d bằng cách ký hiệu bởi αd(V)\alpha_d(\mathscr{V}) không gian Banach của các ánh xạ dd-tuyến tính phản xứng liên tục từ V1dV_1^d vào V0V_0 và bằng cách đặt αd(f)(u)=f0∘u∘f1d\alpha_d(f)(u) = f_0 \circ u \circ f_1^d đối với u∈αd(V)u \in \alpha_d(\mathscr{V}). Bó vectơ αd((M1,M0))\alpha_d((M_1, M_0)) được ký hiệu là Altd(M1;M0)\mathrm{Alt}^d(M_1; M_0) và được gọi là bó vectơ của các ánh xạ dd-tuyến tính phản xứng từ M1M_1 vào M0M_0.

Đơn ánh chính tắc của Altd(M1;M0)\mathrm{Alt}^d(M_1; M_0) vào L(M1,…,M1;M0)\mathscr{L}(M_1, \ldots, M_1; M_0) là một cấu xạ của các bó vectơ; Altd(M1;M0)\mathrm{Alt}^d(M_1; M_0) là một bó vectơ con của L(M1,…,M1;M0)\mathscr{L}(M_1, \ldots, M_1; M_0).

Ta có Alt1(M1;M0)=L(M1;M0)\mathrm{Alt}^1(M_1; M_0) = \mathscr{L}(M_1; M_0). Ta đặt Alt0(M1;M0)=M0\mathrm{Alt}^0(M_1; M_0) = M_0.

Nếu ω\omega là một tiết diện 1^1 của Altd(M1;M0)\mathrm{Alt}^d(M_1; M_0) và nếu s1,…,sds_1, \ldots, s_d là các tiết diện của M1M_1, thì tồn tại một và chỉ một tiết diện của M0M_0, ký hiệu là ω(s1,…,sd)\omega(s_1, \ldots, s_d), sao cho

ω(s1,…,sd)(b)=ω(b)(s1(b),…,sd(b))với mọi b∈B. \omega(s_1, \ldots, s_d)(b) = \omega(b)(s_1(b), \ldots, s_d(b)) \quad \text{với mọi } b \in B.

7.8.2 Cho φ\varphi là một ghép cặp của N×BN′N \times_B N' vào N′′N'' (xem No. 7.3.1); với mỗi bb, ta có một ánh xạ song tuyến tính φb\varphi_b của Nb×Nb′N_b \times N'_b vào Nb′′N''_b mà từ đó định nghĩa (xem A, III, p. 142) một ánh xạ song tuyến tính của

Altd(M;N)b×Alte(M;N′)b \mathrm{Alt}^d(M; N)_b \times \mathrm{Alt}^e(M; N')_b
vào Altd+e(M;N′′)b\mathrm{Alt}^{d+e}(M; N'')_b. Họ các ánh xạ song tuyến tính này định nghĩa một ghép cặp uu của
Altd(M;N)×BAlte(M;N′) \mathrm{Alt}^d(M; N) \times_B \mathrm{Alt}^e(M; N')
vào Altd+e(M;N′′)\mathrm{Alt}^{d+e}(M; N''); nếu ω\omega và ω′\omega' lần lượt là các tiết diện của Altd(M;N)\mathrm{Alt}^d(M; N) và Alte(M;N′)\mathrm{Alt}^e(M; N') trên một tập mở UU, thì tiết diện u(ω,ω′)u(\omega, \omega') của Altd+e(M;N′′)\mathrm{Alt}^{d+e}(M; N'') trên UU sẽ được ký hiệu là ω∧φω′\omega \wedge_\varphi \omega', và được gọi là tích ngoài của ω\omega và ω′\omega'. Ta có công thức: (1)
(ω∧φω′)(s1,…,sd+e)=∑σεσφ(ω(sσ(1),…,sσ(d)),ω′(sσ(d+1),…,sσ(d+e))) (\omega \wedge_\varphi \omega')(s_1, \ldots, s_{d+e}) = \sum_\sigma \varepsilon_\sigma \varphi(\omega(s_{\sigma(1)}, \ldots, s_{\sigma(d)}), \omega'(s_{\sigma(d+1)}, \ldots, s_{\sigma(d+e)}))
trong đó các sis_i là các tiết diện của MM trên UU, và trong đó phép lấy tổng được mở rộng trên các hoán vị σ\sigma của {1,2,…,d+e}\{1, 2, \ldots, d+e\} sao cho
σ(1)<⋯<σ(d)vaˋσ(d+1)<⋯<σ(d+e). \sigma(1) < \cdots < \sigma(d) \quad \text{và} \quad \sigma(d+1) < \cdots < \sigma(d+e).

7.8.3. Cho MM là một bó vectơ và AA một bó đại số, có cơ sở BB. Giả sử rằng các sợi AbA_b của AA là các đại số kết hợp và giao hoán, có một phần tử đơn vị, ký hiệu là ebe_b. Với mỗi tập mở UU của BB, ta sẽ ký hiệu bởi Ωd(U)\Omega^d(U) môđun Cr(U)\mathscr{C}^r(U) gồm các tiết diện của bó Altd(M;A)\mathrm{Alt}^d(M; A) và bởi Ω∗(U)\Omega^*(U) tổng trực tiếp của các Ωd(U)\Omega^d(U) với d≥0d \geq 0. Các phép nhân trên mỗi sợi định nghĩa một ghép cặp của A×BAA \times_B A vào AA, do đó theo (7.8.2) một cấu trúc đại số phân bậc trên Ω∗(U)\Omega^*(U), cấu trúc này là kết hợp và phản giao hoán. Đại số con Ω0(U)\Omega^0(U) là đại số của

¹ Bạn đọc cần chú ý đừng nhầm cách dùng chữ cái ω\omega này với cách dùng được định nghĩa ở p. 10.

các tiết diện của A. Một phần tử ω\omega của Ω1(U)\Omega^1(U) được đồng nhất với một cấu xạ trên UU của M∣UM|U vào A∣UA|U (7.7.3): nếu s∈SM′(U)s \in \mathscr{S}'_M(U), ta sẽ ký hiệu bởi ⟨ω,s⟩\langle \omega, s \rangle tiết diện ω(s)\omega(s) của A (7.4.2). Cho sj∈SM′(U)s_j \in \mathscr{S}'_M(U) và ωj∈Ω1(U)\omega_j \in \Omega^1(U) (với 1≤j≤d1 \leq j \leq d); ta có:

(2)

ω(s1,…,sd)=det⁡(⟨ωi,sj⟩)với ω=ω1∧…∧ωd. \omega(s_1, \ldots, s_d) = \det(\langle \omega_i, s_j \rangle) \quad \text{với } \omega = \omega_1 \wedge \ldots \wedge \omega_d.

7.8.4. Cho d≥1d \geq 1. Tồn tại một phép ghép cặp ii từ M×BAltd(M;A)M \times_B \mathrm{Alt}^d(M; A) vào Altd−1(M;A)\mathrm{Alt}^{d-1}(M; A) mà hạn chế của nó trên mỗi thớ được cho bởi tích trong phải (xem A, III, p. 156). Nếu ss là một tiết diện của MM trên tập mở UU và nếu ω∈Ωd(U)\omega \in \Omega^d(U), ta ký hiệu bởi i(s)ωi(s)\omega tiết diện i(s,ω)i(s, \omega) của Altd−1(M;A)\mathrm{Alt}^{d-1}(M; A) trên UU; ta đặt i(s)ω=0i(s)\omega = 0 đối với ω\omega trong Ω0(U)\Omega^0(U).

Như vậy với mỗi tiết diện ss của MM trên UU ta liên kết một tự đồng cấu của C′(U)\mathscr{C}'(U)-môđun Ω∗(U)\Omega^*(U). Ta có các công thức sau:

(3)

(i(s)ω)(s1,…,sd−1)=ω(s,s1,…,sd−1)với ω∈Ωd(U),d≥1(i(s)\omega)(s_1, \ldots, s_{d-1}) = \omega(s, s_1, \ldots, s_{d-1}) \quad \text{với } \omega \in \Omega^d(U), d \geq 1
(4)
i(s)∘i(s)=0i(s) \circ i(s) = 0
(5)
i(s)ω=⟨ω,s⟩với ω∈Ω1(U)i(s)\omega = \langle \omega, s \rangle \quad \text{với } \omega \in \Omega^1(U)
(6)
i(s).(ω∧ω′)=i(s)ω∧ω′+(−1)dω∧i(s)ω′với ω∈Ωd(U)i(s) . (\omega \wedge \omega') = i(s)\omega \wedge \omega' + (-1)^d \omega \wedge i(s)\omega' \quad \text{với } \omega \in \Omega^d(U)
(7)
i(s)(ω1∧…∧ωp)=∑i=1p(−1)i+1⟨ωi,s⟩ω1∧…∧ω^i∧…∧ωd.i(s)(\omega_1 \wedge \ldots \wedge \omega_p) = \sum_{i=1}^p (-1)^{i+1} \langle \omega_i, s \rangle \omega_1 \wedge \ldots \wedge \hat{\omega}_i \wedge \ldots \wedge \omega_d.

Trong công thức cuối cùng, các ωi\omega_i thuộc Ω1(U)\Omega^1(U) và dấu ^\hat{} chỉ ra rằng ký hiệu mà nó đội lên phải được lược bỏ.

Mọi phép toán mô tả ở trên trên các tiết diện đều là đa tuyến tính trên vành C′(U;K)\mathscr{C}'(U; K).

7.8.5. Cho L là một đại số Banach trên K. Các định nghĩa và kết quả của Số 7.7 và 7.8 mở rộng sang trường hợp các bó vectơ trên L: theo cách tương tự người ta định nghĩa các bó của các ánh xạ đa tuyến tính trên L hoặc phản xứng đa tuyến tính trên L.

7.9. Tích tenxơ, không gian tenxơ, đại số ngoài

Ta giữ các ký hiệu của 7.6. Hơn nữa, ta ký hiệu bởi L một trường giao hoán được trang bị một cấu trúc đại số trên K hữu hạn chiều và ta gọi bó vectơ là một bó vectơ trên L, với cơ sở B và hạng hữu hạn địa phương.

7.9.1. Giả sử rằng I−=∅I_- = \varnothing. Nếu V\mathscr{V} và V′\mathscr{V}' là hai họ được đánh chỉ số bởi I gồm các không gian vectơ hữu hạn chiều trên L, ta ký hiệu bởi τ(V)\tau(\mathscr{V}) tích tenxơ của các ViV_i với i∈Ii \in I (A, II, p. 71) và nếu f∈Hom(V,V′)f \in \mathrm{Hom}(\mathscr{V}, \mathscr{V}'), ta đặt τ(f)=⊗fi\tau(f) = \otimes f_i. Như vậy ta định nghĩa một hàm tử vectơ trên L trong số chiều hữu hạn và nếu M=(Mi)i∈I\mathscr{M} = (M_i)_{i \in I} là một họ các bó vectơ, ta ký hiệu bởi ⨂i∈IMi\bigotimes_{i \in I} M_i và gọi là tích tenxơ (trên L) của các MiM_i bó vectơ τ(M)\tau(\mathscr{M}).

Nếu sis_i là một tiết diện của MiM_i trên tập mở U của B (với i∈Ii \in I), ánh xạ b↦⨂i∈Isi(b)b \mapsto \bigotimes_{i \in I} s_i(b) là một tiết diện của ⨂i∈IMi\bigotimes_{i \in I} M_i, được ký hiệu bởi ⨂i∈Isi\bigotimes_{i \in I} s_i. Ánh xạ (si)i∈I↦⨂i∈Isi(s_i)_{i \in I} \mapsto \bigotimes_{i \in I} s_i là đa tuyến tính trên vành Cr(U;L)\mathscr{C}^r(U;L).

7.9.2. Các đẳng cấu chính tắc được định nghĩa trong Alg., Chap. II cung cấp các đẳng cấu của các hàm tử vectơ. Từ 7.6.4 suy ra rằng có các đẳng cấu của các bó vectơ. Ví dụ, có các đẳng cấu chính tắc:

(M1⊕M2)⊗M3⟶(M1⊗M3)⊕(M2⊗M3) (M_1 \oplus M_2) \otimes M_3 \longrightarrow (M_1 \otimes M_3) \oplus (M_2 \otimes M_3)
M1∗⊗M2⟶L(M1;M2) M_1^* \otimes M_2 \longrightarrow \mathscr{L}(M_1; M_2)

v.v.

7.9.3. Cho MM là một bó vectơ và II và JJ là hai tập hợp hữu hạn rời nhau. Bó tenxơ TJI(M)T^I_J(M) được định nghĩa là tích tenxơ ⨂α∈I∪JMα\bigotimes_{\alpha \in I \cup J} M_\alpha, trong đó Mα=MM_\alpha = M nếu α∈I\alpha \in I, và Mα=M∗M_\alpha = M^* nếu α∈J\alpha \in J, ở đây M∗M^* ký hiệu đối ngẫu của MM (A, III, p. 63). Thớ TJI(M)bT^I_J(M)_b của bó này tại một điểm bb bằng không gian tenxơ TJI(Mb)T^I_J(M_b) được định nghĩa trong Alg., loc. cit. Khi I={1,…,p}I = \{1, \ldots, p\} và J={p+1,…,p+q}J = \{p+1, \ldots, p+q\}, người ta viết Tqp(M)T^p_q(M) thay cho TJI(M)T^I_J(M); ta có

Tqp(M)=(⨂pM)⊗(⨂qM∗). T^p_q(M) = (\bigotimes^p M) \otimes (\bigotimes^q M^*).
Việc cho một thứ tự toàn phần trên II và trên JJ xác định một đẳng cấu chính tắc từ TJI(M)T^I_J(M) lên Tqp(M)T^p_q(M).

7.9.4. Nếu II (resp. JJ) là hợp của hai tập con rời nhau I′I' và I′′I'' (resp. J′J' và J′′J''), thì TJI(M)T^I_J(M) được đồng nhất một cách chính tắc với tích tenxơ TJ′I′(M)⊗TJ′′I′′(M)T^{I'}_{J'}(M) \otimes T^{I''}_{J''}(M). Đặc biệt, nếu s′s' (resp. s′′s'') là một tiết diện của TJ′I′(M)T^{I'}_{J'}(M) (resp. của TJ′′I′′(M)T^{I''}_{J''}(M)), thì tích tenxơ s′⊗s′′s' \otimes s'' được đồng nhất với một tiết diện của TJI(M)T^I_J(M).

7.9.5. Đối ngẫu của TJI(M)T^I_J(M) được đồng nhất với TIJ(M)T^J_I(M).

7.9.6. Cho i∈Ii \in I và j∈Jj \in J. Với mọi b∈Bb \in B, đồng cấu co các chỉ số ii và jj được định nghĩa (xem Alg., loc. cit.); đó là một đồng cấu (cji)b:TJI(Mb)→TJ−{j}I−{i}(Mb)(c^i_j)_b : T^I_J(M_b) \to T^{I-\{i\}}_{J-\{j\}}(M_b). Họ các (cji)b(c^i_j)_b xác định một cấu xạ của các không gian bó vectơ

cji:TJI(M)→TJ−{j}I−{i}(M), c^i_j : T^I_J(M) \to T^{I-\{i\}}_{J-\{j\}}(M),

cũng được gọi là phép co các chỉ số ii và jj. Người ta định nghĩa tương tự phép co các chỉ số i1,…,iki_1, \ldots, i_k của II với các chỉ số j1,…,jkj_1, \ldots, j_k của JJ.

7.9.7. Cho dd là một số nguyên ⩾0\geqslant 0; cho VV và V′V' là hai không gian vectơ có số chiều hữu hạn trên LL và f∈HomL(V,V′)f \in \mathrm{Hom}_L(V, V'); đặt λd(V)=⋀d(V)\lambda_d(V) = \bigwedge^d(V) và λd(f)=⋀d(f)\lambda_d(f) = \bigwedge^d(f). Như vậy ta định nghĩa được một hàm tử vectơ trên LL trong số chiều hữu hạn và, nếu MM là một bó vectơ, ta ký hiệu bởi ⋀d(M)\bigwedge^d(M) và gọi là lũy thừa ngoài thứ dd của MM (trên LL) bó vectơ λd(M)\lambda_d(M).

Ánh xạ chính tắc của ⨂dV\bigotimes^d V lên ⋀d(V)\bigwedge^d(V) xác định một cấu xạ của các hàm tử vectơ, do đó một cấu xạ chính tắc của ⨂dM\bigotimes^d M vào ⋀d(M)\bigwedge^d(M). Cấu xạ này là toàn ánh.

Các đẳng cấu chính tắc của không gian các ánh xạ dd-tuyến tính phản xứng trên không gian ⋀d(V∗)\bigwedge^d(V^*) hoặc trên (⋀d(V))∗(\bigwedge^d(V))^* cho ta các đẳng cấu, được gọi là chính tắc, của bó vectơ Altd(M;L)\mathrm{Alt}^d(M; L) các ánh xạ dd-tuyến tính phản xứng trên LL, lên bó vectơ ⋀d(M∗)\bigwedge^d(M^*) hoặc lên (⋀d(M))∗(\bigwedge^d(M))^*.

7.9.8. Bây giờ đặt λ(V)=⋀(V)\lambda(V) = \bigwedge(V) và λ(f)=⋀(f)\lambda(f) = \bigwedge(f); như vậy ta lại định nghĩa được một hàm tử vectơ trên LL trong số chiều hữu hạn. Bó vectơ λ(M)\lambda(M) được ký hiệu bởi ⋀(M)\bigwedge(M). Sợi ⋀(M)b\bigwedge(M)_b của nó tại b∈Bb \in B là đại số ngoài (trên LL) của sợi MbM_b. Bó vectơ ⋀(M)\bigwedge(M) là một bó vectơ địa phương tầm thường theo các đại số.

Các định nghĩa và tính chất của các tích trong đã cho trong Alg., Chương III, ấn bản thứ 3, § 10 được mở rộng ngay lập tức cho các tiết diện của các bó vectơ ⋀(M)\bigwedge(M) và ⋀(M∗)\bigwedge(M^*) (xem thêm các công thức (1) đến (7) của các Số 7.8.2 đến 7.8.4).

7.9.9. Cho MM là một bó vectơ. Với mỗi số nguyên nn, gọi BnB_n là tập hợp (mở) các điểm b∈Bb \in B sao cho chiều (trên LL) của MbM_b bằng nn. Với b∈Bnb \in B_n, đặt Nb=⋀n(Mb)N_b = \bigwedge^n(M_b) và gọi NN là tập hợp tổng của các NbN_b với b∈Bb \in B. Trên NN tồn tại một và chỉ một cấu trúc bó vectơ sao cho ánh xạ hiển nhiên của N∣BnN|B_n vào ⋀n(M)∣Bn\bigwedge^n(M)|B_n là một đẳng cấu với mọi nn. Được trang bị cấu trúc này, bó vectơ NN có hạng một tại mỗi điểm được ký hiệu bởi det⁡(M)\det(M).

7.10. Bó vectơ và bó chính

7.10.1. Cho FF là một không gian Banach. Một bó vectơ M có cơ sở BB được gọi là thuần kiểu FF nếu mọi thớ MbM_b của M (với b∈Bb \in B) đều đẳng cấu (như các không gian Banach) với FF.

Cho MM là một bó vectơ có cơ sở BB thuần kiểu FF và gọi PP là dưới đa tạp mở của bó vectơ L(FB;M)\mathscr{L}(F_B; M) gồm các cặp (b,u)(b, u) trong đó b∈Bb \in B và uu là một đẳng cấu từ Fb=FF_b = F lên MbM_b. Nhóm GL(F)\mathrm{GL}(F) các tự đẳng cấu của FF tác động bên phải trên PP bằng cách đặt (b,u)⋅g=(b,u∘g)(b, u) \cdot g = (b, u \circ g) với (b,u)∈P(b, u) \in P và g∈GL(F)g \in \mathrm{GL}(F). Gọi πP\pi_P là ánh xạ (b,u)↦b(b, u) \mapsto b từ P vào B. Bộ tứ λ=(P,GL(F),B,πP)\lambda = (P, GL(F), B, \pi_P) (trong đó GL(F)GL(F) được trang bị cấu trúc chính tắc của một đa tạp nhóm (5.12.2)) là một phân thớ chính (6.2.1): nó được gọi là phân thớ các khung của M. Ánh xạ ((b,u),h)↦u(h)((b, u), h) \mapsto u(h) từ P×FP \times F vào M trang bị cho M một cấu trúc bó liên kết với λ\lambda, kiểu thớ F (6.5.1).

Khi F=KnF = K^n, ta có thể đồng nhất một đẳng cấu uu từ F lên MbM_b với cơ sở của MbM_b là ảnh bởi uu của cơ sở chính tắc của KnK^n. Không gian phân thớ các khung của M khi đó được đồng nhất với dưới đa tạp mở của M×B…×BMM \times_B \ldots \times_B M tạo thành bởi các cơ sở (e1,…,en)(e_1, \ldots, e_n) của các thớ khác nhau MbM_b.

Cho U là một tập con mở của B và gọi t=(U,φ,E)t = (U, \varphi, E) là một phiến đồ vectơ của M có miền U, với E=FE = F. Khi đó ánh xạ b↦(b,tb)b \mapsto (b, t_b) là một tiết diện của P, ký hiệu là t~\tilde{t}, và ánh xạ t↦t~t \mapsto \tilde{t} là một song ánh từ tập hợp các phiến đồ vectơ của M có dạng (U,φ,F)(U, \varphi, F) lên tập hợp các tiết diện của P trên U.

7.10.2. Ngược lại, cho λ=(Q,G,B,πQ)\lambda = (Q, G, B, \pi_Q) là một phân thớ chính và cho φ\varphi là một đồng cấu các đa tạp nhóm của G vào nhóm GL(F)GL(F) các tự đẳng cấu của một không gian Banach F. Cho G tác động bên trái lên F bằng cách đặt g.h=φ(g)(h)g . h = \varphi(g)(h) (h∈F,g∈Gh \in F, g \in G). Cho M là một không gian phân thớ liên kết với λ\lambda, kiểu sợi là F, và cho ρ:Q×F→M\rho : Q \times F \to M là ánh xạ khung của nó (6.5.1). Cho π\pi là ánh xạ từ M vào B được xác định bởi

π(ρ(q,h))=πQ(q)(q∈Q vaˋ h∈F). \pi(\rho(q, h)) = \pi_Q(q) \quad (q \in Q \text{ và } h \in F).
Cho s là một tiết diện của Q trên một tập con mở U của B; khi đó ánh xạ
s~:(b,h)↦(s(b),h) \tilde{s} : (b, h) \mapsto (s(b), h)
là một song ánh từ U×FU \times F lên π−1(U)\pi^{-1}(U). Tồn tại trên cặp (M,π)(M, \pi) một và chỉ một cấu trúc bó vectơ với cơ sở B mà đối với nó các bộ ba ts=(U,s~−1,F)t_s = (U, \tilde{s}^{-1}, F) là các thẻ vectơ (với mọi tiết diện s của Q). Cấu trúc đa tạp nền của cấu trúc này là cấu trúc của không gian phân thớ liên kết với λ\lambda.

Cho q∈Qq \in Q; đặt b=πQ(q)b = \pi_Q(q) và cho uu là đẳng cấu từ F lên MbM_b được xác định bởi u(h)=ρ(q,h)u(h) = \rho(q, h) (với h∈Fh \in F). Ánh xạ f:q↦(b,u)f : q \mapsto (b, u) là một B-cấu xạ của các phân thớ chính, tương thích với φ\varphi, từ (Q,G,B,πQ)(Q, G, B, \pi_Q) vào bó khung (P,GL(F),B,πP)(P, GL(F), B, \pi_P) của bó vectơ M.

7.10.3. Xét lại các ký hiệu của No. 7.6. Với mọi i∈Ii \in I, cho

λi=(Pi,Gi,B,πi) \lambda_i = (P_i, G_i, B, \pi_i)
là một phân thớ chính có cơ sở B và giả sử rằng GiG_i tác động bên trái lên một không gian Banach ViV_i bằng một đồng cấu
φi:Gi→GL(Vi). \varphi_i : G_i \to GL(V_i).
Cho MiM_i là một không gian phân thớ liên kết với λi\lambda_i có kiểu sợi ViV_i. Đặt M=(Mi)i∈I\mathscr{M} = (M_i)_{i \in I} và V=(Vi)i∈I\mathscr{V} = (V_i)_{i \in I} và cho λ\lambda là phân thớ chính tích của các λi\lambda_i trên B (6.2.5). Đặt λ^=(P,G,B,πp)\hat{\lambda} = (\mathbf{P}, G, B, \pi_p), với G=∏i∈IGiG = \prod_{i \in I} G_i.

Bây giờ cho τ\tau là một hàm tử vectơ. Với g=(gi)∈Gg = (g_i) \in G, cho φ(g)\varphi(g) là phần tử của Hom(V,V)\mathrm{Hom}(\mathscr{V}, \mathscr{V}) được xác định bởi:

φ(g)i=φi(gi)neˆˊu i∈I+ \varphi(g)_i = \varphi_i(g_i) \quad \text{nếu } i \in I_+
φ(g)i=φi(gi)−1neˆˊu i∈I− \varphi(g)_i = \varphi_i(g_i)^{-1} \quad \text{nếu } i \in I_-

Khi đó nhóm GG tác động trên τ(V)\tau(\mathscr{V}) bằng cấu xạ g↦τ(φ(g))g \mapsto \tau(\varphi(g)) từ GG vào GL(τ(V))\mathbf{GL}(\tau(\mathscr{V})).

Mặt khác, cho x=(xi)x = (x_i) là một điểm của P\mathbf{P} và cho b=πp(x)b = \pi_p(x). Với mỗi ii, ánh xạ θxi\theta_{x_i} được xác định ở No. 6.5.2 là một đẳng cấu từ ViV_i lên (Mi)b(M_i)_b. Cho θx\theta_x là phần tử của Hom(V,((Mi)b)i∈I)\mathrm{Hom}(\mathscr{V}, ((M_i)_b)_{i \in I}) được xác định bởi:

(θx)i=θxikhi i∈I+ (\theta_x)_i = \theta_{x_i} \quad \text{khi } i \in I_+
(θx)i=θxi−1khi i∈I− (\theta_x)_i = \theta_{x_i}^{-1} \quad \text{khi } i \in I_-

Gọi ρ\rho là ánh xạ (x,h)↦(b,τ(θx)(h))(x, h) \mapsto (b, \tau(\theta_x)(h)) từ P×τ(V)\mathbf{P} \times \tau(\mathscr{V}) vào bó vectơ τ(M)\tau(\mathscr{M}); ánh xạ ρ\rho trang bị cho τ(M)\tau(\mathscr{M}) một cấu trúc không gian sợi liên kết với λ\lambda có kiểu sợi là τ(V)\tau(\mathscr{V}).

Các nhận xét này tổng quát hóa cho trường hợp các functor vectơ hữu hạn chiều, hoặc các functor vectơ trên một trường LL được trang bị một cấu trúc đại số trên K hữu hạn chiều.

7.11. Thay đổi cấu trúc

Các cấu trúc và các phép toán được mô tả trong đoạn này là tương thích với các thay đổi cấu trúc được mô tả trong các Số 5.13 và 5.14.

Machine translation of the English, by gpt-5.4, against glossary version 34. Not checked by a person.