Chẳng hạn, cho A,B,C,D,E là năm tập hợp và cho f là một ánh xạ từ A đến B, g là một ánh xạ từ B đến C, h là một ánh xạ từ D đến E, u là một ánh xạ từ B đến D và v là một ánh xạ từ C đến E. Để tóm tắt một tình huống như vậy, ta thường dùng các biểu đồ; chẳng hạn, tình huống trên được tóm tắt bằng biểu đồ sau đây
(*) Trừ § 4, các kết quả của chương này chỉ phụ thuộc vào các Quyển I đến VI.
biểu đồ (Lý thuyết tập hợp, Chương II, § 3, no. 4)
AfB↓uD↓vEh
(1)
Trong một biểu đồ như vậy, nhóm ký hiệu AfB biểu thị một cách sơ đồ việc f là một ánh xạ từ A đến B. Khi không có sự nhập nhằng nào về f, ta bỏ chữ f đi và chỉ viết A→B.
Khi A,B,C,D,E là các nhóm (tương ứng, các nhóm giao hoán) và f,g,h,u,v là các đồng cấu nhóm, thì biểu đồ (1) được gọi tắt là một biểu đồ các nhóm (tương ứng, các nhóm giao hoán).
Về nguyên lý, một biểu đồ không phải là một đối tượng toán học, mà chỉ là một hình vẽ được tạo ra để làm cho việc đọc một lập luận được dễ dàng hơn. Trong thực hành, các biểu đồ thường được dùng như các ký hiệu viết tắt để tránh phải gọi tên tất cả các tập hợp và các ánh xạ đang được xét; vì vậy ta nói "Xét biểu đồ (1)" thay vì nói "Cho A, B, C, D, E là năm tập hợp ... và v là một ánh xạ từ C đến E"; xem chẳng hạn mệnh đề của Mệnh đề 2 trong no. 4.
2. Biểu đồ giao hoán
Chẳng hạn, xét biểu đồ sau đây:
Aa↓A′ff′Bb↓B′gg′Cc↓C′hh′Dd↓D′
(2)
Với mỗi đường đi hợp bởi một số nhất định các đoạn của biểu đồ được đi theo chiều chỉ bởi các mũi tên, tương ứng một ánh xạ từ tập hợp được biểu thị bởi điểm đầu của đoạn thứ nhất đến tập hợp được biểu thị bởi điểm cuối của đoạn cuối cùng, tức là hợp thành của các ánh xạ được biểu thị bởi các đoạn khác nhau đã đi qua. Với mỗi đỉnh của biểu đồ, chẳng hạn B, theo quy ước có một đường đi rút gọn thành B, tương ứng với nó là ánh xạ đồng nhất 1,
Trong (2) chẳng hạn có ba đường đi bắt đầu ở A và kết thúc ở C′; các ánh xạ tương ứng là c∘g∘f,g′∘b∘f và g′∘f′∘a. Một biểu đồ được gọi là giao hoán nếu, với mọi cặp đường đi trong biểu đồ có cùng điểm đầu và điểm cuối, hai ánh xạ tương ứng là bằng nhau; đặc biệt nếu điểm đầu và điểm cuối của một đường đi trùng nhau thì ánh xạ tương ứng phải là đồng nhất.
Để biểu đồ (2) là giao hoán thì cần và đủ là các hệ thức
f′∘a=b∘f,g′∘b=c∘g,h′∘f=d∘h;
đúng; nói cách khác, cần và đủ là ba biểu đồ hình vuông được chứa trong (2) là giao hoán. Thật vậy, các hệ thức (3) kéo theo c∘g∘f=g′∘b∘f vì c∘g=g′∘b, và g′∘b∘f=g′∘f′∘a vì b∘f=f′∘a; do đó ba đường đi bắt đầu ở A và kết thúc ở C′ cho cùng một ánh xạ. Tương tự, có thể kiểm tra rằng bốn đường đi bắt đầu ở A và kết thúc ở D′ (tương ứng, ba đường đi bắt đầu ở B và kết thúc ở D′) cho cùng một ánh xạ. Các hệ thức (3) có nghĩa là hai đường đi bắt đầu ở A (tương ứng, B, C) và kết thúc ở B′ (tương ứng, C', D') cho cùng một ánh xạ. Không một cặp đỉnh nào khác của (2) có thể được nối với nhau bởi nhiều hơn một đường đi và vì vậy biểu đồ (2) là giao hoán.
Trong phần sau, chúng tôi để người đọc tự kiểm tra các kết quả tương tự đối với những kiểu biểu đồ khác.
3. Dãy khớp
Nhắc lại định nghĩa sau đây (Đại số, Chương II, § 1, no. 4):
Định nghĩa 1
Cho A là một vành, F,G,H là ba A-môđun phải (tương ứng, trái), f là một đồng cấu từ F đến G và g là một đồng cấu từ G đến H. Cặp có thứ tự (f,g) được gọi là một dãy khớp nếu g−1(0)=f(F), nghĩa là nếu hạt nhân của g bằng ảnh của f.
Biểu đồ
FfGgH
cũng được gọi là một dãy khớp.
Xét tương tự một biểu đồ gồm bốn môđun và ba đồng cấu:
EfFgGhH.
Biểu đồ này được gọi là khớp tại F nếu biểu đồ EfFgG là một dãy khớp; nó được gọi là khớp tại G nếu FgGhH là một dãy khớp. Nếu (5) khớp tại F và G, nó được gọi là khớp, hoặc cũng là một dãy khớp. Các dãy khớp có số hạng tùy ý được định nghĩa tương tự.
Nhắc lại các kết quả sau (loc. cit.), trong đó E,F,G chỉ các môđun phải (tương ứng, trái)
A, các mũi tên biểu thị các đồng cấu và 0 chỉ một môđun thu về phần tử đơn vị của nó:
(a) Nói rằng 0→EfF là một dãy khớp tương đương với nói rằng f là đơn ánh.
(b) Nói rằng EfF→0 là một dãy khớp tương đương với nói rằng f là toàn ánh.
(c) Nói rằng 0→EfF→0 là một dãy khớp tương đương với nói rằng f là song ánh, nghĩa là f là một đẳng cấu từ E lên F.
(d) Nếu F là một môđun con của E và i chỉ đơn ánh chính tắc của F vào E còn p là toàn cấu chính tắc của E lên E/F, thì biểu đồ
0⟶FiEpE/F⟶0
là một dãy khớp.
(e) Nếu f:E→F là một đồng cấu, thì biểu đồ
0⟶f−1(0)iEfFpF/f(E)⟶0
(trong đó i là đơn ánh chính tắc của (0) vào E và p là phép chiếu chính tắc của F/f(E)) là một dãy khớp.
(f) Để biểu đồ
EfFgG
là một dãy khớp, điều kiện cần và đủ là tồn tại các môđun S, T và các đồng cấu a:E→S, b:S→F, c:F→T và d:T→G sao cho f=b∘a, g=d∘c và ba dãy
E00a⟶⟶SST⟶bd0FGcT⟶0
là khớp.
Sau cùng nhắc lại rằng nếu f:E→F là một đồng cấu A-môđun, ta đặt Ker(f)=f−1(0), Im(f)=f(E), Coim(f)=E/f−1(0) và Coker(f)=F/f(E). Với ký hiệu này, trong (9) có thể lấy S=Im(f)=Ker(g) và T=Im(g) (đẳng cấu chính tắc với Coker(f)).
4. Biểu đồ con rắn
Mệnh đề 1
Xét một biểu đồ giao hoán của các nhóm giao hoán:
Aa↓A′uu′Bb↓B′vv′Cc↓C′
Giả sử rằng hai hàng của (10) là khớp. Khi đó:
(i) Nếu c là đơn ánh, ta có
(11) Im(b)∩Im(u′)=Im(u′∘a)=Im(b∘u).
(ii) Nếu a là toàn ánh, ta có
(12) Ker(b)+Im(u)=Ker(v′∘b)=Ker(c∘v).
Hãy chứng minh (i). Rõ ràng
Im(u′∘a)=Im(b∘u)⊂Im(b)∩Im(u′).
Ngược lại, lấy x∈Im(b)∩Im(u′). Tồn tại y∈B sao cho x=b(y). Vì v′∘u′=0, ta có 0=v′(x)=v′(b(y))=c(v(y)), do đó v(y)=0 vì c là đơn ánh. Vì (u,v) là một dãy khớp, tồn tại z∈A sao cho y=u(z), do đó x=b(u(z)).
Ta chứng minh (ii). Vì v∘u=0 và v′∘u′=0, hiển nhiên rằng
Ker(b)+Im(u)⊂Ker(v′∘b)=Ker(c∘v).
Ngược lại, lấy x∈Ker(v′∘b). Khi đó b(x)∈Ker(v′) và tồn tại y′∈A′ sao cho u′(y′)=b(x), vì dãy (u′,v′) khớp. Vì a là toàn ánh, tồn tại y∈A sao cho a(y)=y′, do đó b(x)=u′(a(y))=b(u(y)); suy ra x−u(y)∈Ker(b), điều này hoàn tất chứng minh.
Bổ đề 1
Xét một biểu đồ giao hoán của các nhóm giao hoán:
Aa↓A′uu′Bb↓B′
Khi đó tồn tại một và chỉ một đồng cấu u1:Ker(a)→Ker(b) và một và chỉ một đồng cấu u2:Coker(a)→Coker(b) sao cho các biểu đồ
Ker(a)i↓Au1Ker(b)j↓B
và
A′p↓Coker(a)u′u2B′q↓Coker(b)
là giao hoán, trong đó i và j ký hiệu các đơn ánh chính tắc và p và q là các toàn ánh chính tắc.
Nếu x∈Ker(a), thì a(x)=0 và b(u(x))=u′(a(x))=0, suy ra u(x)∈Ker(b), và sự tồn tại cũng như tính duy nhất của u1 là ngay lập tức. Tương tự, ta có u′(a(A))=b(u(A))⊂b(B), rồi bằng cách lấy thương u′ cho một đồng cấu u2:Coker(a)+Coker(b), đó là đồng cấu duy nhất sao cho (15) là giao hoán.
Bây giờ ta xét biểu đồ giao hoán (10) của các nhóm giao hoán; theo Bổ đề 1, nó tương ứng với một biểu đồ
trong đó i,j,k là các đơn ánh chính tắc, p,q,r là các toàn ánh chính tắc và u1,u2 (tương ứng v1,v2) là các đồng cấu chính tắc gắn với u,u′ (tương ứng v,u′) theo Bổ đề 1. Kiểm tra ngay rằng biểu đồ này giao hoán.
Mệnh đề 2
Giả sử rằng trong biểu đồ giao hoán (10) các dãy (u,v) và (u′,u′) khớp. Khi đó:
(i) v1∘u1=0; nếu u′ là đơn ánh, thì dãy (u1,v1) khớp. (ii) v2∘u2=0; nếu v là toàn ánh, thì dãy (u2,v2) khớp. (iii) Giả sử rằng u′ là đơn ánh và v là toàn ánh. Khi đó tồn tại một và chỉ một đồng cấu d:Ker(c)→Coker(a) với tính chất sau: nếu x∈Ker(c), y∈B và t′∈A′ thỏa mãn các quan hệ v(y)=k(x) và u′(t′)=b(y), thì d(x)=p(t′). Hơn nữa dãy
Chứng minh (i). Vì u1 và v1 có cùng đồ thị với các phép hạn chế của u và v lên Ker(a) và Ker(b) tương ứng, ta có v1∘u1=0. Khi đó
Ker(v1)=Ker(b)∩Ker(v)=Ker(b)∩Im(u)=Im(j)∩Im(u).
Nhưng, theo Mệnh đề 1, (i), Ker(v1)=Im(j∘u1)=Im(u1) nếu u′ đơn ánh.
Chứng minh (ii). Vì u2 và v2 thu được từ u và v bằng cách lấy thương, rõ ràng là v2∘u2=0. Giả sử v toàn ánh; vì q và p toàn ánh, suy ra từ các giả thiết và Mệnh đề 1, (ii) rằng
Sau cùng ta hãy chứng minh (iii). Với x∈Ker(c), tồn tại y∈B sao cho v(y)=k(x) vì v toàn ánh; hơn nữa v′(b(y))=c(k(x))=0 và do đó tồn tại một phần tử duy nhấtt′∈A′ sao cho u′(t′)=b(y), vì u′ đơn ánh. Bây giờ ta chỉ ra rằng phần tử p(t′)∈Coker(a) là độc lập với phần tử y∈B sao cho v(y)=k(x). Thật vậy, nếu y′∈B là một phần tử khác sao cho v(y′)=k(x), thì y′=y+u(z), với z∈A; ta chỉ ra rằng nếu t′′∈A′ sao cho u′(t′′)=b(y′) thì t′′=t′+a(z); vì
Sau cùng, suy ra rằng p(t′′)=p(t′)+p(a(z))=p(t′). Khi đó có thể đặt d(x)=p(t′) và ánh xạ d:Ker(c)→Coker(a) như vậy đã được định nghĩa.
Nếu bây giờ x1,x2 là các phần tử của Ker(c) và x=x1+x2, ta lấy các phần tử y1,y2 của B sao cho v(y1)=k(x1) và v(y2)=k(x2) và chọn cho y∈B phần tử y1+y2; khi đó ngay lập tức d(x)=d(x1)+d(x2) và do đó d là một đồng cấu.
Giả sử rằng x=v1(x′) đối với một x′∈Ker(b) nào đó; khi đó lấy y∈B là phần tử j(x′). Vì b(j(x′))=0, suy ra d(x)=0, nên d∘v1=0. Ngược lại, giả sử rằng d(x)=0. Khi đó, theo ký hiệu ở trên, ta có t′=a(s), với s∈A. Trong trường hợp này ta có b(y)=u′(t′)=u′(a(s))=b(u(s)), hay b(y−u(s))=0. Do đó phần tử y−u(s) có dạng j(n), với n∈Ker(b), và ta có k(x)=v(y)=v(u(s)+j(n))=v(j(n))=k(v1(n)); vì k là đơn ánh, nên x=v1(n), điều đó chứng minh rằng dãy (*) là khớp tại Ker(c).
Sau cùng, ta có (vẫn theo cùng ký hiệu ấy)
u2(d(x))=u2(p(t′))=q(u′(t′))=q(b(y))=0
và do đó u2∘d=0. Ngược lại, giả sử rằng một phần tử w=p(t′) của Coker(a) thỏa mãn u2(w)=u2(p(t′))=0 (trong đó t′∈A). Khi đó q(u′(t′))=0 và do đó u′(t′)=b(y) đối với một y∈B nào đó; vì v′(u′(t′))=0, ta có v′(b(y))=0, nên c(v(y))=0, nói cách khác v(y)=k(x) đối với một x∈Ker(c) nào đó, và theo định nghĩa w=d(x), điều đó cho thấy rằng dãy (*) là khớp tại
Coker(a). Ở (i) đã thấy rằng nó khớp tại Ker(b) và ở (ii) nó khớp tại Coker(b), điều đó hoàn tất chứng minh của (iii).
Nhận xét
Nếu các nhóm của biểu đồ (10) đều là (chẳng hạn, phải) môđun trên một vành A và các đồng cấu là các đồng cấu A-môđun, thì dễ dàng kiểm tra được rằng đồng cấu d được định nghĩa trong Mệnh đề 2, (iii) cũng là một đồng cấu A-môđun: nếu x∈Ker(c) và a∈A, và y∈B sao cho v(y)=k(x), thì chỉ cần chú ý rằng v(ya)=k(xa).
Hệ quả 1
Giả sử rằng biểu đồ (10) là giao hoán và hai hàng là khớp. Khi đó:
(i) Nếu u′, a và c là đơn ánh, thì b là đơn ánh. (ii) Nếu v, a và c là toàn ánh, thì b là toàn ánh.
Mệnh đề (i) là một hệ quả của mệnh đề (i) của Mệnh đề 2: vì Ker(a)=0 và Ker(c)=0, nên Ker(b)=0.
Mệnh đề (ii) là một hệ quả của mệnh đề (ii) của Mệnh đề 2: vì Coker(a)=0 và Coker(c)=0, nên Coker(b)=0.
Hệ quả 2
Giả sử rằng biểu đồ (10) là giao hoán và hai hàng là khớp. Trong các điều kiện đó:
(i) Nếu b là đơn ánh và nếu a và v là toàn ánh, thì c là đơn ánh. (ii) Nếu b là toàn ánh và nếu c và u′ là đơn ánh, thì a là toàn ánh.
Để chứng minh (i), xét biểu đồ
u(A)a′↓u′(A′)ww′Bb↓B′vv′Cc↓C′
trong đó a′ là ánh xạ có cùng đồ thị với hạn chế của b lên u(A) và w và w′ là các đơn ánh chính tắc; rõ ràng biểu đồ này là giao hoán và các hàng của nó khớp. Hơn nữa w′ là đơn ánh và theo giả thiết v là toàn ánh; khi đó theo Mệnh đề 2, (iii), ta có một dãy khớp
0=Ker(b)⟶Ker(c)dCoker(a′)=0
vì b là đơn ánh và a′ là toàn ánh; do đó Ker(c)=0.
Để chứng minh (ii), xét biểu đồ
Aa′↓A′uw′Bb↓B′wσ′v(B)c′↓v′(B′)
trong đó lần này c′ là ánh xạ có cùng đồ thị với hạn chế của c lên v(B) và w và w' lần lượt có cùng đồ thị với v và v'; biểu đồ này là giao hoán và các hàng của nó khớp. Hơn nữa w là toàn ánh và theo giả thiết u′ là đơn ánh; khi đó theo Mệnh đề 2, (iii), ta có một dãy khớp
0=Ker(c′)dCoker(a)⟶Coker(b)=0
vì b là toàn ánh và c' là đơn ánh; do đó Coker (a) = 0.