Bài tập 6, § 3
Đại số, I
Bourbaki marks this one as harder than the rest.
Một luật hợp thành trong trên được gọi là xác định trên một cấu trúc quasi-nhóm nếu, với mọi , các phép tịnh tiến trái và phải và là các ánh xạ song ánh của lên chính nó. Một quasi-nhóm được gọi là phân phối nếu luật phân phối hai phía đối với chính nó.
(a) Xác định tất cả các cấu trúc quasi-nhóm phân phối trên một tập hợp gồm phần tử với .
(b) Chứng minh rằng tập hợp các số hữu tỉ, với luật hợp thành , là một quasi-nhóm phân phối.
(c) Trong một quasi-nhóm phân phối , mọi phần tử đều lũy đẳng. Suy ra rằng, nếu E có nhiều hơn một phần tử, luật không thể có phần tử đơn vị và cũng không thể kết hợp.
(d) Các phép tịnh tiến phải và trái của một quasi-nhóm phân phối E là các tự đẳng cấu của E.
(e) Nếu E là một quasi-nhóm phân phối hữu hạn, cấu trúc cảm sinh trên mọi tập con ổn định của E là một cấu trúc quasi-nhóm phân phối.
(f) Cho E là một quasi-nhóm phân phối. Nếu R là một quan hệ tương đương tương thích trái (tương ứng, phải) (no. 3) với luật , các lớp modulo R là các tập con ổn định của E. Nếu E hữu hạn, tất cả các lớp này thu được từ lớp này sang lớp khác bằng phép tịnh tiến trái (tương ứng, phải); với cùng các điều kiện đó, nếu R tương thích với luật , cấu trúc thương trên E/R là một cấu trúc quasi-nhóm phân phối.
(g) Cho E là một quasi-nhóm phân phối. Tập hợp các phần tử của E khả hoán với một phần tử a đã cho là ổn định; nếu E hữu hạn, với mọi , (chú ý, dùng (e), rằng tồn tại sao cho ) và khi x chạy qua E, các tập hợp trùng với các lớp tương đương đối với một quan hệ tương đương tương thích với luật .
(h) Nếu E là một quasi-nhóm phân phối hữu hạn và luật giao hoán, số phần tử của E là lẻ (xét các cặp có thứ tự của các phần tử của E sao cho , trong đó a đã cho).
Lời giải
Chưa có lời giải nào được viết.