(a) Cho E là một môđun phải trên A. Trên nhóm cộng Er (với r≥1) ta định nghĩa một phép toán ngoài với Mr(A) làm tập hợp các toán tử, bằng cách ký hiệu x.P, với mọi phần tử x=(xi)1≤i≤r của Er và mọi ma trận bình phương P=(αij)∈Mr(A), phần tử y=(yi) của Er sao cho
yi=j=1∑rxjαji(1≤i≤r). Phép toán ngoài này cùng với luật cộng trên
Er xác định một cấu trúc môđun phải trên
Mr(A) trên
Er; khi thu hẹp vành các toán tử vào vành các ma trận vô hướng
I.α, ta thu lại cấu trúc
A-môđun tích trên
Er. Chứng minh rằng điều kiện cần và đủ để
A-môđun
E có một hệ sinh gồm
r phần tử là
Mr(A)-môđun
Er là đơn sinh.
(b) Cho (xi)1≤i≤n là một hệ sinh của E và (yj)1≤j≤m là một họ các phần tử của E (tương ứng là một hệ sinh của E). Cho z,z′,z′′ là ba phần tử của Em+n sao cho zi=xi với 1≤i≤n, zn+j=0 với 1≤j≤m, zi′=xi với 1 ≤i≤n, zn+j′=yj với 1≤j≤n, zi′′=0 với 1≤i≤n, zn+j′′=yj với 1≤j≤n. Chứng minh rằng tồn tại hai ma trận khả nghịch P,Q của Mn+m(A) sao cho z′=z.P (tương ứng z′′=z.Q).
(c) Nếu A giao hoán, uP:x↦x.P là một tự đồng cấu của A-môđun E′ và ánh xạ P↦uP là một đồng cấu từ vành Mr(A) vào vành EndA(E′). Nếu E là một A-môđun trung thành thì đồng cấu này là đơn ánh.