Đại số, II, p. 201
Cho E là một không gian affine trái trên một trường K, T là không gian các phép tịnh tiến của nó. a) Để một ánh xạ f của E vào một không gian vectơ trái L trên K là affine, điều kiện cần và đủ là ta có
f(t+x)−f(x)=f(t+y)−f(y) f(λt+x)−f(x)=λ(f(t+x)−f(x)) với mọi
λ∈K,t∈T,x,y trong
E. Gọi
x↦[x] là đơn ánh chính tắc của
E vào không gian vectơ
Ks(E) của các tổ hợp tuyến tính hình thức của các phần tử của
E, và gọi
N là không gian con của
Ks(E) sinh bởi các phần tử
[t+x]−[x]−[t+y]+[y] [λt+x]−[x]−λ[t+x]+λ[x] với
λ∈K,t∈T,x,y trong
K; cuối cùng, gọi
V là không gian thương của
Ks(E) bởi
N, và gọi
φ là ánh xạ của
E vào
V liên kết với mỗi
x∈E lớp của
[x] modulo
N. Khi đó
φ là một ánh xạ affine và với mọi ánh xạ affine
f của
E vào một không gian vectơ trái
L trên
K, tồn tại duy nhất một ánh xạ tuyến tính
g của
V vào
L sao cho
f=g∘φ. b) Gọi
φ0:T→V là ánh xạ tuyến tính liên kết với
φ, sao cho
φ(t+x)−φ(x)=φ0(t). Bây giờ chứng minh rằng
φ (và do đó cả
φ0) là đơn ánh (xét ánh xạ
x↦x−a của
E vào
T với một
a∈E); với mọi họ
(λi)i∈I các phần tử của
K có giá hữu hạn, và mọi họ
(xi)i∈I các phần tử của
E, ta có
i∑λiφ(xi)=φ0(i∑λixi)neˆˊu i∑λi=0
i∑λiφ(xi)=μφ(i∑μ−1λixi)neˆˊu i∑λi=μ=0.
Suy ra rằng φ0(T) là một siêu phẳng đi qua 0 trong V, và φ(E) là một siêu phẳng song song với φ0(T).