Bourbaki

§ 6. Tôpô yếu

1. Không gian vectơ đối ngẫu

Cho FF và GG là hai không gian vectơ thực và cho (x,y)↦B(x,y)(x, y) \mapsto B(x, y) là một dạng song tuyến tính trên F×GF \times G. Ta nói rằng dạng song tuyến tính BB đặt các không gian vectơ FF và GG vào thế đối ngẫu, hoặc rằng F và G đối ngẫu với nhau (đối với B). Nhắc lại rằng ta nói x∈Fx \in F và y∈Gy \in G trực giao (đối với thế đối ngẫu xác định bởi B) nếu B(x,y)=0B(x, y) = 0; ta nói một tập con M của F và một tập con N của G trực giao nếu mọi x∈Mx \in M đều trực giao với mọi y∈Ny \in N (A, IX, § 1.2).

Ta nói rằng thế đối ngẫu xác định bởi B là phân ly trong F (ứng. trong G) nếu nó thỏa mãn điều kiện sau :

(D_I) Với mọi x≠0x \neq 0 trong F, tồn tại y∈Gy \in G sao cho B(x,y)≠0B(x, y) \neq 0. (ứng.

(D_{II}) *Với mọi y≠0y \neq 0 trong G, tồn tại x∈Fx \in F sao cho B(x,y)≠0B(x, y) \neq 0.)

Thế đối ngẫu xác định bởi B được gọi là phân ly nếu nó vừa phân ly trong F vừa phân ly trong G. Để điều đó xảy ra, điều kiện cần và đủ là dạng song tuyến tính B phải phân ly theo nghĩa của A, IX, § 1.1. Chính xác hơn ta có kết quả sau :

Mệnh đề 1

Cho F, G là hai không gian vectơ thực và B là một dạng song tuyến tính trên F×GF \times G. Cho

dB:y↦B(.,y), d_B : y \mapsto B(., y),
sB:x↦B(x,.) s_B : x \mapsto B(x, .)

là các ánh xạ tuyến tính từ G vào đối ngẫu F∗F^* của F và từ F vào đối ngẫu G∗G^* của G, liên kết tương ứng với vế phải và với vế trái của B (A, IX, § 1.1). Khi đó B đặt F và G vào một thế đối ngẫu phân ly trong G (ứng. trong F), khi và chỉ khi dBd_B (ứng. sBs_B) là đơn ánh.*

Khi F và G được đặt vào thế đối ngẫu phân ly bởi B, ta thường đồng nhất F (ứng. G) với một không gian con của G∗G^* (ứng. F∗F^*) nhờ sBs_B (ứng. dBd_B). Khi ta xét F (ứng. G) như một không gian con của G∗G^* (ứng. F∗F^*) mà không nói rõ việc đồng nhất này được thực hiện như thế nào, thì ta luôn dùng các phép đồng nhất nói trên; khi đó dạng song tuyến tính B được đồng nhất với hạn chế lên F×GF \times G của dạng song tuyến tính chính tắc :

(x∗,x)↦⟨x,x∗⟩(resp. (x,x∗)↦⟨x,x∗⟩). (x^*, x) \mapsto \langle x, x^* \rangle \quad (\text{resp. } (x, x^*) \mapsto \langle x, x^* \rangle).

Ví dụ

— 1) Cho E là một không gian vectơ và cho E* là đối ngẫu của nó. Dạng song tuyến tính chính tắc (x,x∗)↦⟨x,x∗⟩(x, x^*) \mapsto \langle x, x^* \rangle trên E×E∗E \times E^* (A, II, § 2.3) đặt E và E* vào thế đối ngẫu phân ly : vì (D_{II}) là đúng do định nghĩa của quan hệ x∗≠0x^* \neq 0, và mặt khác, ta biết rằng với mọi x≠0x \neq 0 trong E, tồn tại một dạng tuyến tính x∗∈E∗x^* \in E^* sao cho ⟨x,x∗⟩≠0\langle x, x^* \rangle \neq 0 (A, II, § 7.5, đl. 6), điều đó chứng minh (D_I); ở đây phép đồng nhất E với một không gian con của E∗∗E^{**} được thực hiện bởi ánh xạ chính tắc cEc_E (loc. cit.).

Khi E có chiều hữu hạn, không gian con duy nhất G của E* ở trong thế đối ngẫu phân ly bởi hạn chế lên E×GE \times G của dạng song tuyến tính chính tắc là chính không gian E* ; thật vậy, vì khi đó E được đồng nhất một cách chính tắc với E∗∗E^{**} (loc. cit.), nếu ta có G≠E∗G \neq E^*, thì sẽ tồn tại a≠0a \neq 0 trong E sao cho ⟨a,x∗⟩=0\langle a, x^* \rangle = 0 với mọi x∗∈Gx^* \in G (A, II, § 7.5, đl. 7), điều này mâu thuẫn với giả thiết.

2) Khi E là một không gian vectơ có chiều vô hạn, và E' là một không gian con vectơ của E*, thì thế đối ngẫu giữa E và E' xác định bởi hạn chế lên E×E′E \times E' của dạng song tuyến tính chính tắc luôn luôn phân ly trong E' ; nó có thể phân ly trong E ngay cả khi E′≠E∗E' \neq E^*. Trường hợp quan trọng nhất là khi E là một không gian vectơ tôpô.

Định nghĩa 1

— Bởi đối ngẫu của một không gian vectơ tôpô E, ta hiểu không gian con E' của E, đối ngẫu của không gian vectơ E, gồm các dạng tuyến tính liên tục trên E.

Khi E là một không gian Hausdorff lồi địa phương, thế đối ngẫu giữa E và đối ngẫu của nó E' là phân ly : điều này suy ra từ định lý Hahn-Banach (II, p. 24, hệ quả 1) rằng với mọi x≠0x \neq 0 trong E, tồn tại x′∈E′x' \in E' sao cho ⟨x,x′⟩≠0\langle x, x' \rangle \neq 0.

Nhận xét

— 1) Khi E là một không gian vectơ tôpô, đối ngẫu E∗E^* của không gian vectơ E sẽ được gọi là đối ngẫu đại số của E để tránh nhầm lẫn. Cũng chú ý rằng E∗E^* là đối ngẫu của không gian vectơ tôpô thu được bằng cách cho E tôpô lồi địa phương mịn nhất (II, p. 25, Ví dụ 2). 2) Đối ngẫu E' của một không gian vectơ tôpô tự nó không mang một tôpô nào, trừ khi điều đó được nói rõ. 3) Nếu F và G⊂F∗G \subset F^* ở trong thế đối ngẫu phân ly bởi dạng song tuyến tính chính tắc, thì điều đó cũng đúng đối với F và G1G_1, với mọi không gian con G1G_1 của F∗F^* sao cho G⊂G1G \subset G_1.

2. Tôpô yếu

Định nghĩa 2

— Cho F và G là hai không gian vectơ được đặt trong đối ngẫu bởi dạng song tuyến tính B. Tôpô thô nhất trên F làm cho mọi dạng tuyến tính B(.,y):x↦B(x,y)B(., y): x \mapsto B(x, y) liên tục, khi y chạy trong G, được gọi là tôpô yếu trên F được xác định bởi đối ngẫu giữa F và G, và ta ký hiệu nó là σ(F,G)\sigma(F, G)*.

Tương tự, ta định nghĩa tôpô yếu σ(G,F)\sigma(G, F) trên G, bằng cách đổi chỗ F và G trong định nghĩa 1 ; khả năng đổi chỗ F và G này áp dụng cho mọi kết quả và định nghĩa theo sau trong đoạn này.

Ta dùng tính từ « yếu » và trạng từ « yếu » để chỉ các tính chất liên quan đến một tôpô yếu σ(F,G)\sigma(F, G) miễn là không có khả năng nhầm lẫn. Chẳng hạn, ta sẽ nói về « hội tụ yếu » và « các hàm liên tục yếu » v.v.

Khi G⊂F∗G \subset F^*, ký hiệu σ(F,G)\sigma(F, G) sẽ luôn luôn chỉ tôpô yếu được xác định bởi đối ngẫu tương ứng với hạn chế lên F×GF \times G của dạng song tuyến tính chính tắc (x,x∗)↦⟨x,x∗⟩(x, x^*) \mapsto \langle x, x^* \rangle.

Không có giả thiết bổ sung nào trên F và G, ta thường viết ⟨x,y⟩\langle x, y \rangle thay cho giá trị B(x,y)B(x, y) của dạng song tuyến tính B tại (x,y)(x, y), miễn là không có mơ hồ ; ta sẽ chấp nhận quy ước này trong phần còn lại của đoạn này.

Một không gian vectơ F mang một tôpô yếu dạng σ(F,G)\sigma(F, G) sẽ được gọi là một không gian yếu.

Một tôpô yếu σ(F,G)\sigma(F, G) là lồi địa phương (II, p. 26, mệnh đề 4) ; chính xác hơn, nó là ảnh ngược của tôpô tích trên RG\mathbf{R}^G bởi ánh xạ tuyến tính ϕ:x↦(⟨x,y⟩)y∈G\phi : x \mapsto (\langle x, y \rangle)_{y \in G} từ F vào RG\mathbf{R}^G. Nó được xác định bởi tập các nửa chuẩn x↦∣⟨x,y⟩∣x \mapsto |\langle x, y \rangle| khi y chạy trong G (II, p. 5). Với mọi α>0\alpha > 0, và mọi họ hữu hạn (yi)1≤i≤n(y_i)_{1 \leq i \leq n} các điểm của G, gọi W(y1,...,yn;α)W(y_1, ..., y_n; \alpha) là tập hợp các x∈Fx \in F sao cho ∣⟨x,yi⟩∣≤α|\langle x, y_i \rangle| \leq \alpha với 1≤i≤n1 \leq i \leq n; các tập hợp này (khi α,n\alpha, n và yiy_i tùy ý) tạo thành một hệ cơ bản các lân cận của 0 đối với σ(F,G)\sigma(F, G). Chú ý rằng W(y1,...,yn;α)W(y_1, ..., y_n; \alpha) chứa không gian con vectơ của F, có đối chiều hữu hạn, được xác định bởi các phương trình ⟨x,yi⟩=0\langle x, y_i \rangle = 0 với 1≤i≤n1 \leq i \leq n.

Mệnh đề 2

— Tôpô yếu σ(F,G)\sigma(F, G) là Hausdorff khi và chỉ khi đối ngẫu giữa FF và GG là phân ly trên FF.

Đây là một trường hợp riêng của II, p. 3, mệnh đề 2.

Mệnh đề 3

— Cho FF và GG là hai không gian vectơ thực trong đối ngẫu. Mọi dạng tuyến tính trên FF, liên tục đối với σ(F,G)\sigma(F, G), đều có thể viết dưới dạng x↦⟨x,y⟩x \mapsto \langle x, y \rangle với một y∈Gy \in G. Phần tử y∈Gy \in G là duy nhất khi đối ngẫu là phân ly trên GG.

Thật vậy, nói rằng dạng tuyến tính ff trên FF liên tục đối với σ(F,G)\sigma(F, G) có nghĩa là tồn tại một tập hợp hữu hạn các điểm yi∈Gy_i \in G (1≤i≤n1 \leq i \leq n) sao cho, với mọi xx trong FF, ∣f(x)∣≤sup⁡1≤i≤n∣⟨x,yi⟩∣|f(x)| \leq \sup_{1 \leq i \leq n} |\langle x, y_i \rangle| (II, p. 6, mệnh đề 5). Do đó nn hệ thức ⟨x,yi⟩=0\langle x, y_i \rangle = 0 (1≤i≤n1 \leq i \leq n) suy ra f(x)=0f(x) = 0, và vì thế (A, II, § 7.5, hệ quả 1), tồn tại một tổ hợp tuyến tính y=∑i=1nλiyiy = \sum_{i=1}^n \lambda_i y_i sao cho f(x)=⟨x,y⟩f(x) = \langle x, y \rangle với mọi x∈Fx \in F. Tính duy nhất suy ra từ (DII_\text{II}).

Nói cách khác, khi ngẫu đôi là phân ly trên GG, và FF mang tôpô σ(F,G)\sigma(F, G), thì ta có thể đồng nhất GG một cách chính tắc với đối ngẫu của FF đối với tôpô này (II, p. 42, định nghĩa 1).

Hệ quả 1

— Một họ (ai)(a_i) các điểm của FF là toàn phần đối với tôpô σ(F,G)\sigma(F, G) khi và chỉ khi, với mọi y≠0y \neq 0 trong GG, tồn tại một chỉ số ii sao cho ⟨ai,y⟩≠0\langle a_i, y \rangle \neq 0.

Khi dùng mệnh đề 3 và I, p. 13, định lý 1, tính chất này biểu thị sự kiện là đối với σ(F,G)\sigma(F, G) không có siêu phẳng đóng nào chứa tất cả các aia_i; do đó hệ quả suy ra từ hệ quả 3 của II, p. 38.

Hệ quả 2

— Một họ (ai)(a_i) các điểm của FF là độc lập về tôpô đối với tôpô σ(F,G)\sigma(F, G), khi và chỉ khi, với mọi chỉ số ii, tồn tại một phần tử bi∈Gb_i \in G sao cho : ⟨ai,bi⟩≠0\langle a_i, b_i \rangle \neq 0 và ⟨aκ,bi⟩=0\langle a_\kappa, b_i \rangle = 0 với mọi κ≠i\kappa \neq i.

Điều đó có nghĩa là, với mọi ii, tồn tại một siêu phẳng đóng trong σ(F,G)\sigma(F, G), chứa mọi aκa_\kappa có chỉ số κ≠i\kappa \neq i nhưng không chứa aia_i.

Hệ quả 3

— Cho G1G_1 và G2G_2 là hai không gian con vectơ của F∗F^*, ngẫu đôi với FF (đối với hạn chế của dạng song tuyến tính chính tắc). Khi đó σ(F,G2)\sigma(F, G_2) mịn hơn σ(F,G1)\sigma(F, G_1) khi và chỉ khi G1⊂G2G_1 \subset G_2.

Điều kiện này hiển nhiên là đủ; ngược lại, nếu σ(F,G2)\sigma(F, G_2) mịn hơn σ(F,G1)\sigma(F, G_1), thì mọi dạng tuyến tính liên tục đối với σ(F,G1)\sigma(F, G_1) cũng liên tục đối với σ(F,G2)\sigma(F, G_2), do đó G1⊂G2G_1 \subset G_2 theo mệnh đề 3.

Hệ quả 4

— Cho GG là một không gian con vectơ của đối ngẫu F∗F^*, của không gian vectơ FF. Khi đó FF và GG ở trong ngẫu đôi phân ly (đối với dạng song tuyến tính chính tắc) khi và chỉ khi GG trù mật trong F∗F^* đối với tôpô σ(F∗,F)\sigma(F^*, F).

Điều này suy ra từ hệ quả 1.

3. Các tập hợp cực và các không gian con trực giao

Định nghĩa 2

Cho F và G là hai không gian vectơ (thực) ngẫu đôi với nhau. Với mọi tập hợp M của F, ta gọi tập cực của M là tập hợp các y ∈ G sao cho ⟨x,y⟩≥−1\langle x, y \rangle \geq -1 với mọi x∈Mx \in M. (Đối với các không gian vectơ phức, xem II, p. 64.)

Nếu G1,G2G_1, G_2 là hai không gian con của F∗F^* sao cho G1⊂G2G_1 \subset G_2, thì tập cực của M trong G1G_1 là giao của G1G_1 với tập cực của M trong G2G_2.

Khi không có nguy cơ nhầm lẫn, ta dùng M∘M^\circ để chỉ tập cực, trong G, của tập con M của F. Tương tự, ta định nghĩa tập cực trong F của một tập hợp trong G.

Hiển nhiên, với mọi vô hướng λ≠0\lambda \neq 0 và mọi M⊂FM \subset F, ta có (λM)∘=λ−1M∘(\lambda M)^\circ = \lambda^{-1} M^\circ. Quan hệ M⊂N⊂FM \subset N \subset F kéo theo N∘⊂M∘N^\circ \subset M^\circ; nếu N hấp thụ M thì M∘M^\circ hấp thụ N∘N^\circ; với mọi họ (Mα)(M_\alpha) các tập hợp của F, tập cực của ⋃αMα\bigcup \alpha M_\alpha là giao của các tập cực Mα∘M_\alpha^\circ. Vì, với y∈M∘y \in M^\circ, các nửa-không gian đóng được xác định bởi các quan hệ ⟨x,y⟩≥−1\langle x, y \rangle \geq -1 chứa 0 và M, nên ta thấy rằng nếu M1M_1 là bao lồi của M∪{0}M \cup \{0\}, thì M1∘=M∘M_1^\circ = M^\circ.

Rõ ràng M⊂M∘∘M \subset M^{\circ \circ}. Do đó

(M∘∘)∘⊂M∘⊂(M∘)∘∘=(M∘∘)∘ (M^{\circ \circ})^\circ \subset M^\circ \subset (M^\circ)^{\circ \circ} = (M^{\circ \circ})^\circ
tức là M∘∘∘=M∘M^{\circ \circ \circ} = M^\circ (xem S, III, § 1.5, mệnh đề 2).

Nếu M là một tập con đối xứng của F, thì M∘M^\circ là một tập con đối xứng của G; trong trường hợp này M∘M^\circ cũng là tập hợp các y∈Gy \in G sao cho ∣⟨x,y⟩∣≤1|\langle x, y \rangle| \leq 1 với mọi x∈Mx \in M.

Mệnh đề 4

(i) Với mọi tập hợp M của F, tập cực M∘M^\circ là một tập hợp lồi chứa 0 và đóng trong G đối với tôpô σ(G,F)\sigma(G, F).

(ii) Nếu M là một nón đỉnh 0, thì M∘M^\circ là một nón đỉnh 0 và nó cũng là tập hợp các y∈Gy \in G sao cho ⟨x,y⟩≥0\langle x, y \rangle \geq 0 với mọi x∈Mx \in M.

(iii) Nếu M là một không gian con vectơ của F, thì M∘M^\circ là một không gian con vectơ của G, và nó cũng là tập hợp các y∈Gy \in G sao cho ⟨x,y⟩=0\langle x, y \rangle = 0 với mọi x∈Mx \in M.

(i) Vì các dạng tuyến tính y↦⟨x,y⟩y \mapsto \langle x, y \rangle là liên tục đối với σ(G,F)\sigma(G, F) nên mệnh đề suy ra ngay lập tức từ các định nghĩa và từ sự kiện rằng một nửa-không gian được xác định bởi một siêu phẳng là lồi.

(ii) Nếu M là một nón đỉnh 0 và nếu x∈M,y∈M∘x \in M, y \in M^\circ, thì vì λx∈M\lambda x \in M, với mọi λ>0\lambda > 0, ta có ⟨λx,y⟩≥−1\langle \lambda x, y \rangle \geq -1, tức là λ⟨x,y⟩≥−1\lambda \langle x, y \rangle \geq -1. Vì điều này đúng với mọi λ>0\lambda > 0, suy ra ⟨x,y⟩≥0\langle x, y \rangle \geq 0, và (ii) được chứng minh.

(iii) Tương tự, nếu M là một không gian con vectơ của F, thì các quan hệ x∈M,y∈M∘x \in M, y \in M^\circ lần này kéo theo rằng λ⟨x,y⟩≥−1\lambda \langle x, y \rangle \geq -1 với mọi λ\lambda thực, điều này chỉ có thể xảy ra nếu ⟨x,y⟩=0\langle x, y \rangle = 0.

Nếu M là một không gian con vectơ của F, ta nói rằng M∘M^\circ là trực giao của M trong G; nếu G⊂F∗G \subset F^*, thì M∘M^\circ là giao của G và không gian con trực giao với M trong đối ngẫu đại số F∗F^* của F (A, II, § 2.4, định nghĩa 4).

Với một không gian con vectơ M của F và một không gian con vectơ N của G, ta nói rằng M và N trực giao nếu M⊂NoM \subset N^o (hay, tương đương, nếu N⊂M∘N \subset M^\circ).

Định lý 1 (định lý lưỡng cực)

Cho F, G là hai không gian vectơ thực đối ngẫu với nhau. Với mọi tập con M của F, tập cực M∘∘M^{\circ \circ} trong F của tập cực M∘M^\circ của M trong G là bao lồi đóng (đối với σ(F,G)\sigma(F, G)) của M∪{0}M \cup \{0\}.

Ta đã thấy rằng chỉ cần xét trường hợp MM là lồi và 0∈M0 \in M. Ký hiệu bao đóng của MM trong tôpô σ(F,G)\sigma(F, G) bởi M‾\overline{M}, khi đó M‾\overline{M} là một tập hợp lồi trong FF; mệnh đề 4 của II, p. 44 cho thấy rằng M∘∘⊇M‾M^{\circ\circ} \supseteq \overline{M}. Mặt khác nếu a∈Fa \in F không thuộc M‾\overline{M} thì tồn tại một siêu phẳng đóng HH trong FF phân tách chặt aa khỏi M‾\overline{M} (II, p. 38, mệnh đề 4); vì HH không chứa 0, nên tồn tại y∈Gy \in G sao cho HH có phương trình ⟨x,y⟩=−1\langle x, y \rangle = -1 (II, p. 43, mệnh đề 3); do đó ⟨x,y⟩>−1\langle x, y \rangle > -1 với mọi x∈M‾x \in \overline{M} và ⟨a,y⟩<−1\langle a, y \rangle < -1. Điều này kéo theo y∈M∘y \in M^\circ và a∉M∘∘a \notin M^{\circ\circ}, và quan hệ M∘∘=M‾M^{\circ\circ} = \overline{M} được suy ra.

Hệ quả 1

Với mọi họ* (Mα)(M_\alpha) các tập hợp lồi đóng của FF (trong tôpô σ(F,G)\sigma(F, G)*), mỗi tập hợp đều chứa* 0, tập hợp đối cực của giao M=⋂αMαM = \bigcap \limits_{\alpha} M_\alpha là bao lồi đóng (đối với σ(G,F)\sigma(G, F)) của hợp các Mα∘M_\alpha^\circ.

Thật vậy, nếu NN là bao lồi đóng này, thì

N∘=⋂αMα∘∘=⋂αMα=M N^\circ = \bigcap \limits_{\alpha} M_\alpha^{\circ\circ} = \bigcap \limits_{\alpha} M_\alpha = M

do đó N=N∘∘=M∘N = N^{\circ\circ} = M^\circ.

Kết luận của hệ quả 1 không nhất thiết còn đúng nếu các MαM_\alpha không lồi.

Hệ quả 2

Với mọi không gian con vectơ* MM của FF, không gian con M∘∘M^{\circ\circ} là bao đóng của MM trong tôpô σ(F,G)\sigma(F, G).

Nhận xét

— Mọi lân cận của 0 trong GG đối với tôpô σ(G,F)\sigma(G, F) đều chứa một lân cận VV được xác định bởi một số hữu hạn bất đẳng thức dạng ∣⟨xi,y⟩∣≤1|\langle x_i, y \rangle| \leq 1 (1≤i≤n1 \leq i \leq n), trong đó các xix_i là những điểm tùy ý của FF. Nếu AA là bao lồi đối xứng của tập hợp các xix_i, thì VV là tập cực A∘A^\circ của AA trong GG. Ta có thể nói rằng các tập cực trong GG của các tập đối xứng hữu hạn trong FF (hoặc của các bao lồi của chúng) tạo thành một hệ cơ bản các lân cận của 0 trong GG đối với σ(G,F)\sigma(G, F). Nếu đối ngẫu tách được trên FF, thì các bao lồi này là compact đối với σ(F,G)\sigma(F, G) (II, p. 14, hệ quả 1 của mệnh đề 15), và có số chiều hữu hạn. Ngược lại, mọi tập compact, lồi, có số chiều hữu hạn CC trong FF (với tôpô σ(F,G)\sigma(F, G)) đều được chứa trong bao lồi của một tập con hữu hạn của FF. Thật vậy, giả sử MM là một không gian con vectơ hữu hạn chiều chứa CC. Nếu (ei)1≤i≤n(e_i)_{1 \leq i \leq n} là một cơ sở của MM, ta có thể giả thiết rằng CC được chứa trong hình hộp đóng tâm 0 và được dựng trên các vectơ của cơ sở eie_i (GT, VI, § 1.3); khi đó rõ ràng hình hộp này là bao lồi của các điểm ∑i=1nεiei\sum \limits_{i=1}^n \varepsilon_i e_i với εi=±1\varepsilon_i = \pm 1.

Do đó ta có thể nói rằng (nếu σ(F,G)\sigma(F, G) là Hausdorff) các tập cực của các tập lồi, compact, hữu hạn chiều trong FF (đối với σ(F,G)\sigma(F, G) hoặc đối với bất kỳ tôpô lồi địa phương Hausdorff nào mịn hơn σ(F,G)\sigma(F, G) trên FF) tạo thành một hệ cơ bản các lân cận của 0 đối với σ(G,F)\sigma(G, F).

Hệ quả 3

Cho* T\mathscr{T} là tôpô của một không gian lồi địa phương EE và E′E' là đối ngẫu của nó (II, p. 42, def. 1).

(i) *Các tập lồi đóng trong E là như nhau đối với tôpô T\mathscr{T} và đối với tôpô yếu σ(E,E′)\sigma(E, E').

(ii) *Với mọi tập con M của E, tập cực M∘∘M^{\circ\circ} trong E của tập cực M∘M^\circ của M trong E′E', là bao lồi đóng của M∪{0}M \cup \{0\} đối với tôpô T\mathscr{T}.

Rõ ràng, (ii) suy ra từ (i) và đ.l. 1. Từ định nghĩa của đối ngẫu E′E', suy ra từ II, p. 43, mệnh đề 3 rằng các dạng tuyến tính liên tục trên E đối với tôpô T\mathscr{T} cũng chính là các dạng tuyến tính liên tục đối với σ(E,E′)\sigma(E, E'). Vì vậy các nửa-không gian đóng trong E là như nhau đối với T\mathscr{T} và đối với σ(E,E′)\sigma(E, E') (II, p. 15, mệnh đề 17) và do đó mệnh đề (i) suy ra từ II, p. 38, hệ quả 1.

4. Phép chuyển vị của một ánh xạ tuyến tính liên tục

Trong No. này, ta giả sử rằng (F,G)(F, G) và (F1,G1)(F_1, G_1) là hai không gian vectơ đối ngẫu với nhau.

Mệnh đề 5

Cho u là một ánh xạ tuyến tính từ F vào F1F_1. Các tính chất sau là tương đương :

a) u liên tục đối với các tôpô yếu σ(F,G)\sigma(F, G) và σ(F1,G1)\sigma(F_1, G_1);

b) tồn tại một ánh xạ v:G1→Gv : G_1 \to G sao cho

⟨u(y),z1⟩=⟨y,v(z1)⟩ \langle u(y), z_1 \rangle = \langle y, v(z_1) \rangle

với mọi y∈Fy \in F và z∈G1z \in G_1.

Nếu các tính chất này đúng và nếu đối ngẫu giữa F và G tách được trên G, thì ánh xạ v thỏa mãn (1) là duy nhất, và v là tuyến tính.

Nếu u liên tục đối với các tôpô yếu, thì với mọi z1∈G1z_1 \in G_1, dạng tuyến tính y↦⟨u(y),z1⟩y \mapsto \langle u(y), z_1 \rangle trên F là liên tục đối với σ(F,G)\sigma(F, G), do đó (II, p. 43, mệnh đề 3) có thể viết dưới dạng y↦⟨y,v(z1)⟩y \mapsto \langle y, v(z_1) \rangle với v(z1)∈Gv(z_1) \in G, điều này cho thấy a) kéo theo b). Ngược lại, nếu b) đúng, thì với mọi z1∈G1z_1 \in G_1, dạng tuyến tính

y↦⟨y,v(z1)⟩=⟨u(y),z1⟩ y \mapsto \langle y, v(z_1) \rangle = \langle u(y), z_1 \rangle

là liên tục đối với σ(F,G)\sigma(F, G): từ định nghĩa của các tôpô yếu suy ra rằng u liên tục đối với σ(F,G)\sigma(F, G) và σ(F1,G1)\sigma(F_1, G_1) (I, p. 10, hệ quả 1). Tính duy nhất của v suy ra từ (D_{II}) và tính duy nhất này kéo theo rằng v là tuyến tính.

Nhận xét

— Giả sử rằng đối ngẫu giữa F và G là phân biệt trên G và rằng đối ngẫu giữa F1F_1 và G1G_1 là phân biệt trên G1G_1. Nếu ta đồng nhất G và G1G_1 tương ứng với các không gian con của F∗F^* và F1∗F_1^*, thì các điều kiện a) và b) tương đương với tu(G1)⊂G^t u(G_1) \subset G; v là hạn chế của chuyển vị tu^t u của u (A, II, § 2.5) lên G1G_1.

Khi đó, ta nói đơn giản (khi không có khả năng nhầm lẫn) rằng v là chuyển vị của u (đối với đối ngẫu một mặt giữa F và G và mặt khác giữa F1F_1 và G1G_1) và ta lại dùng tu^t u để ký hiệu nó.

Hệ quả

Giả sử rằng đối ngẫu giữa F và G là phân biệt trên G. Nếu u là một ánh xạ tuyến tính từ F vào F1F_1, liên tục đối với σ(F,G)\sigma(F, G) và σ(F1,G1)\sigma(F_1, G_1), thì* chuyển vị của nó là một ánh xạ tuyến tính từ G1G_1 vào GG, liên tục đối với σ(G1,F1)\sigma(G_1, F_1) và σ(G,F)\sigma(G, F). Hơn nữa, nếu đối ngẫu giữa F1F_1 và G1G_1 là phân biệt trên F1F_1 thì t(tu)=u{}^t({}^t u) = u.

Chỉ cần hoán đổi FF và F1F_1 với GG và G1G_1 trong mệnh đề 5.

Mệnh đề 6

Giả sử rằng đối ngẫu giữa FF và GG (tương ứng giữa F1F_1 và G1G_1) là phân biệt trên GG (tương ứng trên F1F_1). Cho uu là một ánh xạ tuyến tính từ FF vào F1F_1, liên tục đối với σ(F,G)\sigma(F, G) và σ(F1,G1)\sigma(F_1, G_1). Cho AA là một tập hợp trong FF và A1A_1 là một tập hợp trong F1F_1; khi đó*:

(i) *Ta có (u(A))∘=tu−1(A∘)(u(A))^{\circ} = {}^t u^{-1}(A^{\circ}).

(ii) Ta có tu(A1∘)⊂(u−1(A1))∘{}^t u(A_1^{\circ}) \subset (u^{-1}(A_1))^{\circ}; hơn nữa, nếu AA đóng, lồi (đối với σ(F1,G1)\sigma(F_1, G_1)), và chứa gốc tọa độ, thì ta có tu(A1∘)=(u−1(A1))∘{}^t u(A_1^{\circ}) = (u^{-1}(A_1))^{\circ}.

Cho z1∈G1z_1 \in G_1, quan hệ z1∈(u(A))∘z_1 \in (u(A))^{\circ} tương đương với ⟨u(y),z1⟩≥−1\langle u(y), z_1 \rangle \geq -1 với mọi y∈Ay \in A, và quan hệ tu(z1)∈A∘{}^t u(z_1) \in A^{\circ} tương đương với ⟨y,tu(z1)⟩≥−1\langle y, {}^t u(z_1) \rangle \geq -1 với mọi y∈Ay \in A và mệnh đề (i) của chúng ta suy ra bằng cách dùng (1). Tiếp theo, đổi chỗ uu và tu{}^t u và áp dụng (i) cho tập hợp A1∘A_1^{\circ} của G1G_1 ta được

(tu(A1∘))∘=u−1(A1∘∘)⊃u−1(A1) ({}^t u(A_1^{\circ}))^{\circ} = u^{-1}(A_1^{\circ \circ}) \supset u^{-1}(A_1)

từ đó, khi lấy cực,

(tu(A1∘))∘∘⊂(u−1(A1))∘. ({}^t u(A_1^{\circ}))^{\circ \circ} \subset (u^{-1}(A_1))^{\circ} .

Ta có tu(A1∘)⊂(tu(A1∘))∘∘{}^t u(A_1^{\circ}) \subset ({}^t u(A_1^{\circ}))^{\circ \circ} theo định lý lưỡng cực (II, p. 44, định lý 1); mệnh đề cuối cùng suy ra từ (2) và định lý lưỡng cực vì khi đó A1∘∘=A1A_1^{\circ \circ} = A_1 và tu(A1∘){}^t u(A_1^{\circ}) là lồi và chứa gốc.

Hệ quả 1

Với các ký hiệu của mệnh đề 6, quan hệ u(A)⊂A1u(A) \subset A_1 kéo theo tu(A1∘)⊂A∘{}^t u(A_1^{\circ}) \subset A^{\circ}; nếu thêm nữa A1A_1 là lồi, đóng (đối với σ(F1,G1)\sigma(F_1, G_1)) và chứa gốc, thì hai quan hệ này là tương đương.

Thật vậy, quan hệ u(A)⊂A1u(A) \subset A_1 tương đương với A⊂u−1(A1)A \subset u^{-1}(A_1), do đó kéo theo

tu(A1∘)⊂tu(A1∘)⊂(u−1(A1))∘⊂A∘ {}^t u(A_1^{\circ}) \subset {}^t u(A_1^{\circ}) \subset (u^{-1}(A_1))^{\circ} \subset A^{\circ}

và ngược lại quan hệ tu(A1∘)⊂A∘{}^t u(A_1^{\circ}) \subset A^{\circ} kéo theo

A∘∘⊂(tu(A1∘))∘=u−1(A1∘∘) A^{\circ \circ} \subset ({}^t u(A_1^{\circ}))^{\circ} = u^{-1}(A_1^{\circ \circ})

theo (2). Khi A1=A1∘∘A_1 = A_1^{\circ \circ}, ta suy ra rằng A⊂u−1(A1)A \subset u^{-1}(A_1).

Hệ quả 2

Cho uu là một ánh xạ tuyến tính từ FF vào F1F_1 liên tục đối với σ(F,G)\sigma(F, G) và σ(F1,G1)\sigma(F_1, G_1). Khi đó ta có

(3)

Ker⁡(tu)=(Im⁡(u))∘, \operatorname{Ker}({}^t u) = (\operatorname{Im}(u))^{\circ} ,

(4)

Im⁡(tu)‾=(Ker⁡(u))∘. \overline{\operatorname{Im}({}^t u)} = (\operatorname{Ker}(u))^{\circ} .

Giả sử rằng các đối ngẫu giữa FF và GG và giữa F1F_1 và G1G_1 là phân ly; khi đó u(F)u(F) trù mật trong F1F_1 (đối với σ(F1,G1)\sigma(F_1, G_1)), khi và chỉ khi tu{}^t u là đơn ánh.

Áp dụng mệnh đề 6 với A=FA = F và A1={0}A_1 = \{0\}, dùng thực tế rằng các tôpô yếu σ(G,F)\sigma(G, F) và σ(F1,G1)\sigma(F_1, G_1) là Hausdorff. Khẳng định cuối cùng suy ra từ (4), bằng cách đổi chỗ uu và tu^t u.

5. Không gian thương và không gian con của một không gian yếu

Cho F,GF, G là hai không gian vectơ thực đối ngẫu với nhau. Cho MM là một không gian con vectơ của FF, và xét không gian con NN của trực giao M∘M^\circ trong GG; nếu y1,y2y_1, y_2 là hai điểm của GG đồng dư mod. NN thì ⟨x,y1⟩=⟨x,y2⟩\langle x, y_1 \rangle = \langle x, y_2 \rangle với mọi x∈Mx \in M. Với mỗi lớp y˙\dot{y} mod. NN, ký hiệu giá trị chung của ⟨x,y⟩\langle x, y \rangle khi yy chạy trong y˙\dot{y} là ⟨x,y˙⟩\langle x, \dot{y} \rangle; rõ ràng (x,y˙)↦⟨x,y˙⟩(x, \dot{y}) \mapsto \langle x, \dot{y} \rangle là một dạng song tuyến tính trên M×(G/N)M \times (G/N).

Mệnh đề 7

— Cho MM là một không gian con vectơ của FF và NN là một không gian con vectơ của GG, trong đó FF và GG là hai không gian vectơ đối ngẫu với nhau. Giả sử rằng MM và NN trực giao với nhau (điều này tương đương với việc nói rằng N⊂M∘N \subset M^\circ, hoặc M⊂N∘M \subset N^\circ). Khi đó các không gian vectơ MM và G/NG/N đối ngẫu với nhau qua dạng song tuyến tính (x,y˙)↦⟨x,y˙⟩(x, \dot{y}) \mapsto \langle x, \dot{y} \rangle.

(i) *Tôpô σ(M,G/N)\sigma(M, G/N) đối với đối ngẫu này được cảm sinh bởi σ(F,G)\sigma(F, G) (và đặc biệt ta có σ(F,G)=σ(F,G/F∘)\sigma(F, G) = \sigma(F, G/F^\circ)).

(ii) *Tôpô σ(G/N,M)\sigma(G/N, M) đối với đối ngẫu này thô hơn tôpô thương của σ(G,F)\sigma(G, F) theo NN; các tôpô này đồng nhất khi và chỉ khi M+G∘=N∘M + G^\circ = N^\circ.

(i) Mọi phần tử của G/NG/N là một lớp mod. NN của một phần tử của GG; nếu zi(1≤i≤n)z_i (1 \leq i \leq n) là các phần tử của GG và z˙i(1≤i≤n)\dot{z}_i (1 \leq i \leq n) là lớp của ziz_i trong G/NG/N thì tập các y∈My \in M sao cho ∣⟨y,z˙i⟩∣≤α|\langle y, \dot{z}_i \rangle| \leq \alpha với 1≤i≤n1 \leq i \leq n là vết trên MM của tập các x∈Fx \in F sao cho ∣⟨x,zi⟩∣≤α|\langle x, z_i \rangle| \leq \alpha với 1≤i≤n1 \leq i \leq n; kết luận suy ra từ định nghĩa các lân cận của 0 đối với tôpô yếu.

(ii) Cho p:G→G/Np : G \to G/N là toàn cấu chính tắc. Ta chỉ ra rằng tôpô thương T\mathscr{T} của σ(G,F)\sigma(G, F) theo NN trùng với σ(G/N,N∘)\sigma(G/N, N^\circ). Vì với z∈G,y∈N∘z \in G, y \in N^\circ, ta có ⟨y,p(z)⟩=⟨y,z⟩\langle y, p(z) \rangle = \langle y, z \rangle, nên suy ra mọi lân cận của 0 đối với σ(G/N,N∘)\sigma(G/N, N^\circ) đều có dạng p(V)p(V), trong đó VV là một lân cận của 0 đối với σ(G,F)\sigma(G, F) bão hòa theo quan hệ z−z′∈Nz - z' \in N, do đó T\mathscr{T} mịn hơn σ(G/N,N∘)\sigma(G/N, N^\circ). Ngược lại, cho U=W(y1,...,yn;α)U = W(y_1, ..., y_n; \alpha) là một lân cận của 0 trong GG đối với σ(G,F)\sigma(G, F), trong đó yi∈Fy_i \in F với 1≤i≤n1 \leq i \leq n và α>0\alpha > 0; ta sẽ thấy rằng với 1≤i≤n1 \leq i \leq n, tồn tại các phần tử ti∈N∘t_i \in N^\circ sao cho nếu đặt U′=W(t1,...,tn;α)U' = W(t_1, ..., t_n; \alpha), thì p(U′)⊂p(U)p(U') \subset p(U); điều này sẽ chỉ ra rằng σ(G/N,N∘)\sigma(G/N, N^\circ) mịn hơn T\mathscr{T} và do đó thực ra trùng với T\mathscr{T}. Bây giờ, gọi LL là không gian con vectơ của FF sinh bởi N∘N^\circ và các yiy_i, và ký hiệu bởi PP không gian con bù của N∘N^\circ trong LL; nó có số chiều hữu hạn, giả sử bằng mm. Gọi (xj)1≤j≤m(x_j)_{1 \leq j \leq m} là một cơ sở của PP; các hạn chế lên NN của các dạng tuyến tính x↦⟨xj,z⟩x \mapsto \langle x_j, z \rangle là độc lập tuyến tính, vì nếu không thì tồn tại x≠0x \neq 0 trong PP sao cho ⟨x,z⟩=0\langle x, z \rangle = 0 với mọi z∈Nz \in N, nghĩa là x∈N∘x \in N^\circ, điều này mâu thuẫn với định nghĩa của PP. Vậy ta kết luận rằng với mọi z′∈Gz' \in G, tồn tại s∈Ns \in N sao cho ⟨xj,z′⟩=⟨xj,s⟩\langle x_j, z' \rangle = \langle x_j, s \rangle với mọi jj; nếu z′=z+sz' = z + s, ta có ⟨x,z⟩=0\langle x, z \rangle = 0 với mọi x∈Px \in P. Như vậy, đặt yi=ti+wiy_i = t_i + w_i, trong đó ti∈N∘t_i \in N^\circ và wi∈Pw_i \in P; ta có ⟨yi,z⟩=⟨ti,z⟩=⟨ti,z′⟩\langle y_i, z \rangle = \langle t_i, z \rangle = \langle t_i, z' \rangle với 1≤i≤n1 \leq i \leq n; do đó, với mọi z′∈U′z' \in U', tồn tại z∈Uz \in U sao cho z′−z∈Nz' - z \in N, nghĩa là ta có p(U′)⊂p(U)p(U') \subset p(U).

Trở lại trường hợp M là một không gian con bất kỳ của N∘N^\circ, chú ý rằng hiển nhiên σ(G/N,M)=σ(G/N,M+G∘)\sigma(G/N, M) = \sigma(G/N, M + G^\circ); hơn nữa, từ mệnh đề 3 của II, p. 43, ta thấy rằng, nếu y∈N∘y \in N^\circ sao cho dạng tuyến tính z˙↦⟨y,z˙⟩\dot{z} \mapsto \langle y, \dot{z} \rangle liên tục đối với σ(G/N,M)\sigma(G/N, M), thì tất yếu y∈M+G∘y \in M + G^\circ. Ta kết luận rằng điều kiện M+G∘=N∘M + G^\circ = N^\circ là cần và đủ để tôpô thương T\mathscr{T} bằng σ(G/N,M)\sigma(G/N, M).

Nhận xét

— Đối ngẫu giữa M và G/N (trong đó M và N là hai không gian con trực giao) là phân ly trên M khi và chỉ khi M∩G∘={0}M \cap G^\circ = \{0\}; nó là phân ly trên G/N khi và chỉ khi N=M∘N = M^\circ.

Hệ quả 1

— Giả sử rằng đối ngẫu giữa F và G là phân ly trên F. Với một không gian con vectơ M của F, tôpô σ(G/M∘,M)\sigma(G/M^\circ, M) đồng nhất với tôpô thương của σ(G,F)\sigma(G, F) theo M∘M^\circ, khi và chỉ khi M đóng đối với tôpô σ(F,G)\sigma(F, G).

Điều này suy ra từ mệnh đề 7 khi đặt N=M∘N = M^\circ, và nhớ lại rằng M∘∘M^{\circ \circ} là bao đóng của M đối với σ(F,G)\sigma(F, G) (II, p. 45, hệ quả 2).

Hệ quả 2

— Nếu M có chiều hữu hạn n và đối ngẫu là phân ly trên F, thì M∘M^\circ có đối chiều hữu hạn n trong G. Nếu M đóng đối với σ(F,G)\sigma(F, G) và có đối chiều hữu hạn n và nếu đối ngẫu là phân ly trên G, thì M∘M^\circ có số chiều hữu hạn n.

Thật vậy, G/M0G/M^0 ở trong đối ngẫu phân ly với M; do đó nếu M có số chiều n thì G/M∘G/M^\circ cũng vậy (II, p. 41, ví dụ 1). Nếu M đóng, F/M=F/M∘∘F/M = F/M^{\circ \circ} ở trong đối ngẫu phân ly với M∘M^\circ; do đó nếu F/M có số chiều n thì M∘M^\circ cũng vậy (II, p. 41, ví dụ 1).

Hệ quả 3

— Cho (F, G), (F_1, G_1) là hai cặp không gian ở trong đối ngẫu phân ly và cho u là một ánh xạ tuyến tính từ F vào F_1, liên tục đối với σ(F,G)\sigma(F, G) và σ(F1,G1)\sigma(F_1, G_1). Khi đó u là một cấu xạ ngặt từ F vào F_1, khi và chỉ khi Im(tu^t u) là một không gian con đóng trong G đối với σ(G,F)\sigma(G, F).

Đặt N=Im⁡(tu)⊂GN = \operatorname{Im}(^t u) \subset G; ta biết rằng N0=Ker⁡(u)N^0 = \operatorname{Ker}(u) trong F (II, p. 47, công thức (3)). Cho p:F→F/N∘p : F \to F/N^\circ là ánh xạ chính tắc để u phân tích thành

u:F→pF/N∘→wF1, u : F \xrightarrow{p} F/N^\circ \xrightarrow{w} F_1,

trong đó w là đơn ánh. Các không gian F/N∘F/N^\circ và N ở trong đối ngẫu phân ly và theo công thức (1) của II, p. 48, ta có ⟨w(y˙),z1⟩=⟨y˙,tu(z1)⟩\langle w(\dot{y}), z_1 \rangle = \langle \dot{y}, ^t u(z_1) \rangle với mọi y˙∈F/N∘\dot{y} \in F/N^\circ và z1∈G1z_1 \in G_1. Quan hệ này cho thấy rằng w là một đẳng cấu của F/N∘F/N^\circ, mang tôpô σ(F/N∘,N)\sigma(F/N^\circ, N), lên u(F)u(F) với tôpô cảm sinh bởi σ(F1,G1)\sigma(F_1, G_1). Do đó kết luận suy ra từ hệ quả 1 và định nghĩa của một cấu xạ ngặt.

Hệ quả 4

— Cho (F, G), (F_1, G_1) là hai cặp ở trong đối ngẫu phân ly, và cho u là một ánh xạ tuyến tính từ F vào F_1 liên tục đối với σ(F,G)\sigma(F, G) và σ(F1,G1)\sigma(F_1, G_1). Khi đó u là toàn ánh, khi và chỉ khi tu^t u là một đẳng cấu của G1G_1 (với tôpô σ(G1,F1)\sigma(G_1, F_1)) lên tu(G1)^t u(G_1) với tôpô cảm sinh bởi σ(G,F)\sigma(G, F).

Thật vậy, nói rằng u(F)=F1u(F) = F_1 tương đương với nói rằng u(F)u(F) là đóng và trù mật khắp nơi trong F1F_1 đối với σ(F1,G1)\sigma(F_1, G_1); khi đó hệ quả 4 suy ra từ hệ quả 3 áp dụng cho tu^t u và từ II, p. 47, hệ quả 2.

Nhận xét

— 1) Cho (F1,G1),(F2,G2),(F3,G3)(F_1, G_1), (F_2, G_2), (F_3, G_3) là ba cặp không gian ở trong đối ngẫu phân ly và xét một dãy gồm hai ánh xạ tuyến tính

F1→uF2→vF3 F_1 \xrightarrow{u} F_2 \xrightarrow{v} F_3

liên tục đối với các tôpô yếu tương ứng với G1,G2,G3G_1, G_2, G_3; ta xét dãy các ánh xạ chuyển vị

G3→tvG2→tuG1. G_3 \xrightarrow{^tv} G_2 \xrightarrow{^tu} G_1 .

Rõ ràng t(v∘u)=tu∘tv^t(v \circ u) = ^t u \circ ^t v, do đó quan hệ v∘u=0v \circ u = 0 tương đương với tu∘tv=0^t u \circ ^t v = 0. Dãy (5) là khớp nếu, và chỉ nếu, ba điều kiện sau đây được thỏa mãn

a) tu∘tv=0^t u \circ ^t v = 0; b) Im⁡(tv)\operatorname{Im}(^t v) trù mật trong Ker⁡(tu)\operatorname{Ker}(^t u); c) tu^t u là một cấu xạ ngặt của G2G_2 vào G1G_1.

Điều này thực ra suy ra từ hệ quả 3 của II, p. 49 và các công thức (3) và (4) của II, p. 47.

2) Không được nghĩ rằng khi uu là một cấu xạ ngặt của FF vào F1F_1, thì tu^t u tất yếu là một cấu xạ ngặt của G1G_1 vào GG; nói cách khác uu có thể là một cấu xạ ngặt mà không phải u(F)u(F) đóng trong F1F_1 đối với σ(F1,G1)\sigma(F_1, G_1). Điều này được chỉ ra bởi ví dụ trong đó FF là một không gian con không đóng của F1F_1 và G=G1/F∘G = G_1 / F^\circ, còn uu là đơn ánh chính tắc. Tương tự, việc dãy (5) là khớp không nhất thiết kéo theo rằng (6) là khớp, tuy nhiên, nếu dãy (5) là khớp và nếu vv là một cấu xạ ngặt, thì dãy (6) là khớp, theo nhận xét 1 và theo II, p. 49, hệ quả 3.

6. Tích của các tôpô yếu

Mệnh đề 8

— Cho (Fi,Gi)i∈I(F_i, G_i)_{i \in I} là một họ các cặp không gian đối ngẫu. Cho F=∏i∈IFiF = \prod_{i \in I} F_i là không gian tích của các FiF_i và G=⨁i∈IGiG = \bigoplus_{i \in I} G_i là tổng trực tiếp của các GiG_i. Nếu, với mọi x=(xi)∈Fx = (x_i) \in F và mọi y=(yi)∈Gy = (y_i) \in G, ta đặt ⟨x,y⟩=∑i∈I⟨xi,yi⟩\langle x, y \rangle = \sum_{i \in I} \langle x_i, y_i \rangle (một tổng chỉ có hữu hạn số hạng khác không) thì tôpô σ(F,G)\sigma(F, G) (ứng với dạng song tuyến tính (x,y)↦⟨x,y⟩(x, y) \mapsto \langle x, y \rangle) là tích của các tôpô σ(Fi,Gi)\sigma(F_i, G_i).

Thật vậy, cho một tôpô T\mathscr{T} trên FF; để với mọi y∈Gy \in G, dạng tuyến tính x↦⟨x,y⟩x \mapsto \langle x, y \rangle liên tục đối với T\mathscr{T}, thì điều kiện cần và đủ, theo định nghĩa của ⟨x,y⟩\langle x, y \rangle, là mỗi ánh xạ x↦⟨pr⁡ix,yi⟩x \mapsto \langle \operatorname{pr}_i x, y_i \rangle đều liên tục đối với T\mathscr{T}, trong đó ii tùy ý trong II và yiy_i trong GiG_i; nhưng điều đó có nghĩa là mỗi ánh xạ pr⁡i\operatorname{pr}_i của FF vào FiF_i là liên tục đối với T\mathscr{T} và đối với σ(Fi,Gi)\sigma(F_i, G_i) (I, p. 10, hệ quả 1); điều này hoàn tất chứng minh.

Nhận xét

— Đối ngẫu giữa FF và GG là tách biệt trên FF (tương ứng trên GG) khi và chỉ khi với mọi i∈Ii \in I, đối ngẫu giữa FiF_i và GiG_i là tách biệt trên FiF_i (tương ứng trên GiG_i). Nếu đối ngẫu giữa FF và GG là tách biệt trên FF (tương ứng GG), thì, trong FF (tương ứng GG), không gian con trực giao với một GiG_i (tương ứng FiF_i), được đồng nhất một cách chính tắc với một không gian con của GG (tương ứng FF), là không gian con của tích của các FκF_\kappa với κ≠i\kappa \neq i (tương ứng tổng trực tiếp của các GκG_\kappa sao cho κ≠i\kappa \neq i).

Hệ quả 1

— Cho F và G là hai không gian vectơ đối ngẫu tách biệt. Nếu không gian F (với σ(F,G)\sigma(F, G)) là tổng tôpô trực tiếp của hai không gian con M, N thì không gian G (với σ(G,F)\sigma(G, F)) là tổng tôpô trực tiếp của các không gian con M∘,N∘M^\circ, N^\circ trực giao tương ứng với M và N.

Thật vậy, cho p:F→M,q:F→Np : F \to M, q : F \to N là các phép chiếu tương ứng với phân tích của F thành tổng trực tiếp của M và N; trong các điều kiện ấy ánh xạ (p,q):F→M×N(p, q) : F \to M \times N là một đẳng cấu tôpô. Nếu M1=G/M∘,N1=G/N∘M_1 = G/M^\circ, N_1 = G/N^\circ, thì các tôpô trên M và N (cảm sinh bởi tôpô của F) lần lượt đồng nhất với σ(M,M1)\sigma(M, M_1), σ(N,N1)\sigma(N, N_1) (II, p. 48, mệnh đề 7). Ánh xạ t(p,q):M1×N1→G^t(p, q) : M_1 \times N_1 \to G là một đẳng cấu tôpô khi ta trang bị cho M1,N1M_1, N_1 và G các tôpô σ(M1,M)\sigma(M_1, M), σ(N1,N)\sigma(N_1, N) và σ(G,F)\sigma(G, F), theo mệnh đề 8. Qua ánh xạ này, ảnh của M1M_1 (tương ứng N1N_1) trong G là không gian con N∘N^\circ (tương ứng M∘M^\circ), và ảnh của tôpô σ(M1,M)\sigma(M_1, M) (tương ứng σ(N1,N)\sigma(N_1, N)) là tôpô cảm sinh trên N∘N^\circ (tương ứng M∘M^\circ) bởi σ(G,F)\sigma(G, F), từ đó suy ra hệ quả.

Hệ quả 2

— Cho (ei)i∈J(e_i)_{i \in J} là một cơ sở của không gian vectơ F với đối ngẫu F∗F^*, và cho u:R(I)→Fu : \mathbf{R}^{(I)} \to F là một đẳng cấu (đại số) được xác định bởi cơ sở này. Khi đó ánh xạ chuyển vị tu:F∗→RI^t u : F^* \to \mathbf{R}^I là một đẳng cấu tôpô khi F∗F^* mang tôpô σ(F∗,F)\sigma(F^*, F) và RI\mathbf{R}^I mang tôpô tích.

Ta biết (A, II, § 2.6, prop. 10) rằng tu^t u là một song ánh, và rằng nếu với một x∗∈F∗x^* \in F^*, ta đặt ⟨ei,x∗⟩=ξi∗\langle e_i, x^* \rangle = \xi_i^* với mọi i∈Ii \in I, thì ảnh tu(x∗)^t u(x^*) là vectơ (ξi∗)(\xi_i^*) của RI\mathbf{R}^I, sao cho, với mọi x=∑iξieix = \sum_i \xi_i e_i trong F, ta có ⟨x,x∗⟩=∑iξiξi∗\langle x, x^* \rangle = \sum_i \xi_i \xi_i^*. Khi đó hệ quả suy ra từ công thức này và prop. 8.

7. Không gian yếu đầy đủ

Mệnh đề 9

— Cho F, G là hai không gian vectơ đối ngẫu phân ly. Nếu F^\hat{F} là không gian đầy đủ hóa của không gian F đối với tôpô σ(F,G)\sigma(F, G) và nếu ta xét đơn ánh chính tắc j:F→G∗j : F \to G^*, trong đó G∗G^* có tôpô σ(G∗,G)\sigma(G^*, G), thì mở rộng liên tục j^:F^→G∗\hat{j} : \hat{F} \to G^* của j là một đẳng cấu của các không gian vectơ tôpô.

Thật vậy, ta thấy rằng G∗G^*, được trang bị σ(G∗,G)\sigma(G^*, G), là Hausdorff và đầy đủ (II, p. 51, cor. 2); nếu ta đồng nhất F qua j với một không gian con vectơ của G∗G^* thì tôpô cảm sinh trên F bởi σ(G∗,G)\sigma(G^*, G) là σ(F,G)\sigma(F, G), và F trù mật trong G∗G^* đối với tôpô σ(G∗,G)\sigma(G^*, G) (II, p. 43, cor. 4); từ đó mệnh đề được chứng minh.

Do đó, các không gian vectơ đầy đủ đối với một tôpô yếu là các đối ngẫu G∗G^* của những không gian vectơ G tùy ý được trang bị σ(G∗,G)\sigma(G^*, G); theo II, p. 51, cor. 2, chúng (về mặt tôpô) đẳng cấu với các tích RI\mathbf{R}^I của các đường thẳng thực. Để đơn giản hóa ngôn ngữ, ta sẽ gọi chúng là các tích của đường thẳng (để có một đặc trưng nội tại của các không gian này, xem II, p. 85, exerc. 13 và II, p. 81, exerc. 1).

Ta chú ý rằng trên G∗G^*, tôpô σ(G∗,G)\sigma(G^*, G) là cực tiểu trong số các tôpô yếu là Hausdorff; thật vậy, một tôpô yếu thô hơn σ(G∗,G)\sigma(G^*, G) tất yếu có dạng σ(G∗,H)\sigma(G^*, H) với H⊂GH \subset G (II, p. 43, cor. 3); nhưng nếu H≠GH \neq G, thì tồn tại một dạng tuyến tính x∗∈G∗x^* \in G^* khác không và trực giao với HH (A, II, § 7.3, prop. 8), do đó σ(G∗,H)\sigma(G^*, H) không phải là Hausdorff.

Từ nhận xét này ta suy ra rằng, nếu F,GF, G là hai không gian vectơ, thì một song ánh tuyến tính u:G∗→F∗u : G^* \to F^*, liên tục đối với các tôpô σ(G∗,G)\sigma(G^*, G) và σ(F∗,F)\sigma(F^*, F), tất yếu là song liên tục.

Mệnh đề 10

Cho GG là một không gian vectơ thực và F=G∗F = G^* là đối ngẫu của nó với tôpô σ(G∗,G)\sigma(G^*, G).

(i) Ánh xạ V↦V∘V \mapsto V^\circ là một song ánh từ tập hợp các không gian con vectơ của GG lên tập hợp các không gian con vectơ đóng của FF.

(ii) Mọi không gian con vectơ đóng của FF đều là một tích của các đường thẳng và có một phần bù tôpô.

Theo định lý lưỡng cực (II, p. 45, cor. 2) V↦V∘V \mapsto V^\circ là một song ánh từ tập hợp các không gian con vectơ VV của GG, đóng đối với σ(G,G∗)\sigma(G, G^*) lên tập hợp các không gian con vectơ đóng của FF. Nhưng, theo định nghĩa, mọi dạng tuyến tính trên GG đều liên tục đối với σ(G,G∗)\sigma(G, G^*), do đó mọi không gian con vectơ trong GG đều đóng, vì được xác định bởi một hệ các phương trình ⟨y,yλ∗⟩=0\langle y, y_\lambda^* \rangle = 0 (trong đó yλ∗∈G∗y_\lambda^* \in G^*); điều này chứng minh (i).

Bây giờ cho WW là một không gian con đóng của FF; khi đó ta có W=V∘W = V^\circ với V=W∘V = W^\circ trong GG. Cho V′V' là một phần bù của VV trong GG. Ta biết rằng F=G∗F = G^* có thể được đồng nhất một cách chính tắc với V∗⊕V′∗V^* \oplus {V'}^*, và V′∗{V'}^* được đồng nhất với V∘=WV^\circ = W (A, II, § 2.6, hệ quả của mệnh đề 10); hơn nữa (II, p. 50, mệnh đề 8) tôpô σ(G∗,G)\sigma(G^*, G) có thể được đồng nhất với tích của các tôpô σ(V∗,V)\sigma(V^*, V) và σ(V′∗,V′)\sigma({V'}^*, V'); điều này chứng minh mệnh đề (ii).

Mặc dù, đối với tôpô σ(G,G∗)\sigma(G, G^*), mọi không gian con vectơ của GG đều đóng, ta chú ý rằng nếu GG có chiều vô hạn thì tôpô σ(G,G∗)\sigma(G, G^*) không phải là tôpô lồi địa phương mịn nhất trên GG, mọi lân cận của 0 đối với σ(G,G∗)\sigma(G, G^*) đều chứa một không gian con vectơ có chiều vô hạn: tuy nhiên đó là tôpô mịn nhất trong các tôpô yếu trên GG (II, p. 43, hệ quả 3).

8. Các nón lồi đầy đủ trong các không gian yếu

Bổ đề 1

Cho EE là một không gian yếu Hausdorff và CC là một nón thực sự có đỉnh 0 trong EE, đầy đủ đối với cấu trúc đều cảm sinh bởi cấu trúc đều của EE. Khi đó mọi dạng tuyến tính liên tục trên EE đều là hiệu của hai dạng tuyến tính liên tục trên EE dương trên CC.

Cho E′E' là đối ngẫu của EE và FF là đối ngẫu đại số của E′E', với tôpô σ(F,E′)\sigma(F, E'). Cho H=C∘−C∘H = C^\circ - C^\circ là không gian con vectơ của E′E' gồm các hiệu của các dạng tuyến tính liên tục trên EE và dương trên CC (II, p. 44, mệnh đề 4). Chỉ cần chứng minh rằng trực giao của HH trong FF là {0}\{0\} (II, p. 41, Ví dụ 1). Vậy cho a∈Fa \in F trực giao với HH; vì aa trực giao với C∘C^\circ, nên nó phải thuộc lưỡng cực của CC trong FF. Nhưng EE có thể được đồng nhất như một không gian con của FF, và vì CC đầy đủ, nên đóng trong FF, ta có a∈Ca \in C (II, p. 44, định lý 1). Tương tự, aa trực giao với −C∘-C^\circ và do đó a∈−Ca \in -C. Vì CC là thực sự, nên ta có a=0a = 0.

Mệnh đề 11

Cho EE là một không gian yếu Hausdorff, và CC là một nón lồi thực sự có đỉnh 0 trong EE và đầy đủ đối với cấu trúc đều cảm sinh bởi cấu trúc đều của EE.

Khi đó tồn tại một tập hợp I và một ánh xạ tuyến tính liên tục u từ E vào không gian tích RI\mathbf{R}^I có các tính chất sau:

a) u là một đẳng cấu của C lên u(C)u(C) đối với các cấu trúc đều lần lượt cảm sinh bởi các cấu trúc đều của E và của RI\mathbf{R}^I.

b) Ta có u(C)⊂R+Iu(C) \subset \mathbf{R}_+^I.

Hơn nữa, nếu cấu trúc đều cảm sinh trên C bởi cấu trúc đều của E là khả mêtric, thì ta có thể lấy I=NI = \mathbf{N}.

Cho (fi)i∈I(f_i)_{i \in I} là một họ các dạng tuyến tính liên tục trên E sao cho các tổng hữu hạn của các giả khoảng cách dạng (x,y)↦∣fi(x−y)∣(x, y) \mapsto |f_i(x - y)| trên C×CC \times C định nghĩa cấu trúc đều của C. (Nếu cấu trúc là khả mêtric thì ta có thể lấy I=NI = \mathbf{N}.) Theo bổ đề 1 ta còn có thể giả sử rằng mỗi fif_i là dương trên C. Cho u là ánh xạ tuyến tính x↦(fi(x))i∈Ix \mapsto (f_i(x))_{i \in I} từ E vào RI\mathbf{R}^I. Hiển nhiên u liên tục và u(C)⊂R+Iu(C) \subset \mathbf{R}_+^I. Hạn chế u∣Cu|C là một ánh xạ liên tục đều toàn ánh từ C lên u(C)u(C). Hơn nữa nếu x,yx, y trong C sao cho fi(x)=fi(y)f_i(x) = f_i(y) với mọi i∈Ii \in I, thì x=yx = y vì cấu trúc đều của C là Hausdorff; do đó u∣Cu|C là song ánh. Cuối cùng, nếu W là một lân cận của cấu trúc đều của C, thì tồn tại một tập hợp hữu hạn J của I và một số ε>0\varepsilon > 0 sao cho các quan hệ ∣fi(x)−fi(y)∣≤ε|f_i(x) - f_i(y)| \leq \varepsilon với i∈Ji \in J suy ra (x,y)∈W(x, y) \in W; do đó u∣Cu|C là một đẳng cấu của C lên u(C)u(C) đối với các cấu trúc đều đang xét.

Hệ quả 1

— Cho E là một không gian yếu Hausdorff và C là một nón lồi thực sự có đỉnh 0 trong E, đầy đủ đối với cấu trúc đều cảm sinh bởi cấu trúc đều của E. Khi đó ánh xạ (x,y)↦x+y(x, y) \mapsto x + y từ C×CC \times C vào C là thực sự.

Do mệnh đề 11, ta có thể giả sử rằng E=RIE = \mathbf{R}^I và C=R+IC = \mathbf{R}_+^I (GT, I, § 10.1, hệ quả 1 và 4). Nhưng khi đó ánh xạ (x,y)↦x+y(x, y) \mapsto x + y từ C×CC \times C vào C được viết thành ((ξi),(ηi))↦(ξi+ηi)((\xi_i), (\eta_i)) \mapsto (\xi_i + \eta_i), và ta có thể quy về việc chứng minh rằng ánh xạ liên tục f:(ξ,η)↦ξ+ηf : (\xi, \eta) \mapsto \xi + \eta từ R+×R+\mathbf{R}_+ \times \mathbf{R}_+ vào R+\mathbf{R}_+ là thực sự (GT, I, § 10.1, hệ quả 3), Bây giờ, với mọi ζ∈R+\zeta \in \mathbf{R}_+, ta thấy rằng f(ζ)f(\zeta) là tập hợp các cặp (ξ,ζ−ξ)(\xi, \zeta - \xi) sao cho 0≤ξ≤ζ0 \leq \xi \leq \zeta, do đó ảnh ngược bởi f của khoảng [0,ζ][0, \zeta] là tập hợp các (ξ,η)∈R+×R+(\xi, \eta) \in \mathbf{R}_+ \times \mathbf{R}_+ sao cho ξ+η≤ζ\xi + \eta \leq \zeta, tập hợp này là compact. Kết luận suy ra khi áp dụng (GT, I, § 10.3, mệnh đề 7).

Hệ quả 2

— Cho E là một không gian yếu Hausdorff, và C là một nón lồi thực sự có đỉnh 0 trong E, đầy đủ đối với cấu trúc đều cảm sinh bởi cấu trúc đều của E.

(i) Với mọi điểm a của E, giao C∩(a−C)C \cap (a - C) là compact.

(ii) Cho A, B là hai tập hợp đóng trong C. Khi đó A+BA + B là một tập hợp đóng trong C.

(i) Tập hợp các (x,y)∈C×C(x, y) \in C \times C sao cho x+y=ax + y = a là compact theo hệ quả 1 và GT, I, § 10.2, định lý 1, b). Mặt khác tập hợp này cũng là tập hợp các (x,a−x)(x, a - x) với x∈C∩(a−C)x \in C \cap (a - C), điều đó chứng minh (i).

(ii) Nếu A và B đóng trong C, thì A×BA \times B đóng trong C×CC \times C, do đó A+BA + B đóng trong C theo hệ quả 1 và GT, I, § 10.1, mệnh đề 1.

Bài tập

Xem bài tập của § 6.

Machine translation of the English, by gpt-5.4, against glossary version 34. Not checked by a person.