Bourbaki

§ 7. Các điểm cực biên và các phần tử sinh cực biên

1. Các điểm cực biên của các tập hợp lồi compắc

Định nghĩa 1

Cho AA là một tập hợp lồi trong một không gian afin EE. Khi đó ta nói rằng một điểm x∈Ax \in A là một điểm cực biên của AA nếu không tồn tại một đoạn thẳng mở nào được chứa trong AA và chứa xx.

Nói cách khác, các quan hệ x=λy+(1−λ)z, y∈A, z∈A, y≠zx = \lambda y + (1 - \lambda)z,\ y \in A,\ z \in A,\ y \neq z và 0≤λ≤10 \leq \lambda \leq 1 suy ra λ=0\lambda = 0 hoặc λ=1\lambda = 1 (do đó x=yx = y hoặc x=zx = z). Điều này suy ra rằng xx không thể là trọng tâm của một tập hợp gồm nn điểm xix_i của AA mang các khối lượng dương, trừ khi xx là một trong các xix_i; vì đó chính là định nghĩa khi n=2n = 2; với nn tùy ý, ta lập luận bằng quy nạp theo nn, vì xx là trọng tâm của x1x_1 và của trọng tâm y1y_1 của các xix_i với 2≤i≤n2 \leq i \leq n, do đó xx đồng nhất với x1x_1 hoặc với y1y_1, và trong trường hợp thứ hai chỉ cần áp dụng giả thiết quy nạp.

Nói rằng xx là một điểm cực biên của AA còn có nghĩa là A−{x}A - \{x\} là lồi.

Ví dụ 1

Trong không gian Rn\mathbf{R}^n, mọi điểm của mặt cầu Sn−1S_{n-1} đều là các điểm cực biên của quả cầu đóng BnB_n. Thật vậy, nếu ∑iyi2≤1, ∑izi2≤1\sum_i y_i^2 \leq 1,\ \sum_i z_i^2 \leq 1 và 0<λ<10 < \lambda < 1, thì quan hệ

λ2∑iyi2+(1−λ)2∑izi2+2λ(1−λ)∑iyizi=1=(λ+(1−λ))2 \lambda^2 \sum_i y_i^2 + (1 - \lambda)^2 \sum_i z_i^2 + 2\lambda(1 - \lambda) \sum_i y_i z_i = 1 = (\lambda + (1 - \lambda))^2
chỉ có thể xảy ra nếu
∑iyi2=∑izi2=∑iyizi=1. \sum_i y_i^2 = \sum_i z_i^2 = \sum_i y_i z_i = 1.
Nhưng điều này suy ra ∑i(yi−zi)2=0\sum_i (y_i - z_i)^2 = 0, do đó yi=ziy_i = z_i với mọi ii, điều đó chứng minh mệnh đề của ta.

Ví dụ 2

Trong không gian chuẩn B(N)\mathscr{B}(\mathbf{N}) của các dãy số thực bị chặn (I, p. 4), các điểm cực biên của quả cầu đơn vị là các điểm x=(ξn)x = (\xi_n) sao cho ∣ξn∣=1|\xi_n| = 1 với mọi nn. Thật vậy, giả sử rằng ta có ∣ξn∣≤1|\xi_n| \leq 1 với mọi nn và ∣ξp∣<1|\xi_p| < 1 đối với một chỉ số pp. Khi đó ta có thể viết

x=1+ξp2y+1−ξp2z x = \frac{1 + \xi_p}{2} y + \frac{1 - \xi_p}{2} z
trong đó yy (tương ứng zz) là điểm mà mọi tọa độ đều bằng tọa độ của xx có cùng chỉ số, trừ trong trường hợp chỉ số pp thì tọa độ bằng 1 (tương ứng −1-1). Điều này cho thấy xx không cực biên, vì ta có ∥y∥≤1\|y\| \leq 1 và ∥z∥≤1\|z\| \leq 1. Ngược lại, nếu ∣ξn∣=1|\xi_n| = 1 với mọi nn, thì xx là cực biên, vì quan hệ ξn=ληn+(1−λ)ζn\xi_n = \lambda \eta_n + (1 - \lambda) \zeta_n với ∣ηn∣≤1, ∣ζn∣≤1|\eta_n| \leq 1,\ |\zeta_n| \leq 1 và 0<λ<10 < \lambda < 1 kéo theo ξn=ηn=ζn\xi_n = \eta_n = \zeta_n.

Ví dụ 3

Cho u:E→E′u : E \to E' là một ánh xạ afin từ một không gian afin EE vào một không gian afin E′E'; cho C⊂E, C′⊂E′C \subset E,\ C' \subset E' là hai tập hợp lồi sao cho u(C)⊂C′u(C) \subset C'. Nếu x′x' là một điểm cực biên của C′C' và xx là một điểm cực biên của u−1(x′)∩Cu^{-1}(x') \cap C, thì xx là một điểm cực biên của CC, như suy ra từ định nghĩa 1.

Mệnh đề 1

Cho BB là tập hợp các điểm cực biên của AA, trong đó AA là một tập hợp lồi compắc không rỗng trong một không gian lồi địa phương Hausdorff EE, và cho ff là một hàm lồi xác định trên AA và nửa liên tục trên. Khi đó ff đạt cận trên của nó trong AA tại một điểm (ít nhất) của BB.

Dùng F\mathscr{F} để chỉ họ các tập con X của A không rỗng, đóng, và sao cho mọi đoạn thẳng mở được chứa trong A và cắt X thì nhất thiết nằm trong X. Nó có các tính chất sau; (i) A thuộc F\mathscr{F}. (ii) Một điểm a∈Aa \in A là sao cho {a}∈F\{a\} \in \mathscr{F} khi, và chỉ khi, aa là một điểm cực biên của A. (iii) Mọi giao không rỗng X của một họ (Xα)(X_\alpha) các tập hợp thuộc F\mathscr{F} cũng thuộc F\mathscr{F}.

Các tính chất (i), (ii) và (iii) suy ra ngay lập tức từ các định nghĩa.

(iv) Cho X∈FX \in \mathscr{F}, và cho hh là một hàm lồi và nửa liên tục trên trong A; khi đó tập hợp Y các điểm của X tại đó hạn chế h∣Xh|X đạt cận trên của nó trong X là sao cho Y thuộc F\mathscr{F}.

Vì h∣Xh|X là nửa liên tục trên trong X nên đạt cận trên α\alpha của nó trên X tại ít nhất một điểm của X (GT, IV, § 6.2, th. 3); do đó Y không rỗng, và nó cũng đóng (GT, IV, § 6.2, prop. 1). Mặt khác, lấy x,yx, y là hai điểm phân biệt của A và lấy z=λx+(1−λ)yz = \lambda x + (1 - \lambda) y là một điểm của Y sao cho 0<λ<10 < \lambda < 1; vì Y⊂XY \subset X và X∈FX \in \mathscr{F}, ta có x∈Xx \in X và y∈Xy \in X; mặt khác, vì hh là lồi, ta có

h(z)≤λh(x)+(1−λ)h(y) h(z) \leq \lambda h(x) + (1 - \lambda) h(y)

nhưng vì h(x)≤α,h(y)≤αh(x) \leq \alpha, h(y) \leq \alpha và h(z)=αh(z) = \alpha, tất yếu h(x)=h(y)=αh(x) = h(y) = \alpha, nghĩa là x∈Yx \in Y và y∈Yy \in Y. Vậy Y∈FY \in \mathscr{F}.

Sau khi đã thiết lập các tính chất này, gọi M là tập hợp các x∈Ax \in A tại đó ff đạt cận trên của nó trên A; theo (iv), M∈FM \in \mathscr{F}. Mặt khác, theo (iii) và thực tế rằng các tập hợp của F\mathscr{F} là các tập con đóng của tập compact A, suy ra F\mathscr{F} là quy nạp đối với quan hệ thứ tự ⊃\supset. Theo th. 2 của S, III, § 2.4, M chứa một tập con N là một phần tử cực tiểu của F\mathscr{F}. Ta sẽ chỉ ra rằng N chỉ gồm một điểm và điều đó sẽ hoàn tất chứng minh của mệnh đề. Vì E là một không gian lồi địa phương Hausdorff, chỉ cần chỉ ra rằng mọi dạng tuyến tính liên tục uu trên E đều là hằng trên N (II, p. 38, cor. 1). Bây giờ từ (iv) suy ra rằng tập N′N' gồm các x∈Nx \in N tại đó u∣Nu|N đạt cận trên của nó trên N là sao cho N′N' thuộc F\mathscr{F}; vì N là cực tiểu trong F\mathscr{F} nên tất yếu ta có N′=NN' = N.

Hệ quả

Cho A là một tập compact lồi trong một không gian lồi địa phương Hausdorff E. Khi đó mọi siêu phẳng tựa đóng H của A đều chứa ít nhất một điểm cực biên của A.

Thật vậy, nếu f(x)=αf(x) = \alpha là một phương trình của H và f(x)≤αf(x) \leq \alpha trên A, thì chỉ cần áp dụng prop. 1 cho ff.

Định lý 1 (Krein-Milman)

— *Trong một không gian lồi địa phương Hausdorff E, mọi tập compact lồi A là bao lồi đóng của tập hợp các điểm cực biên của nó.

Thật vậy, gọi C là bao lồi đóng của tập hợp các điểm cực biên của A; rõ ràng C⊂AC \subset A. Để thấy rằng A⊂CA \subset C, chỉ cần chứng minh rằng, nếu uu là một hàm tuyến tính afin, liên tục trên E và nếu u(x)≥0u(x) \geq 0 trên C thì cũng có u(x)≥0u(x) \geq 0 trên A (II, p. 39, cor. 4); nhưng điều này suy ra từ prop. 1 áp dụng cho −u-u.

Mệnh đề 2

Cho x là một điểm cực biên của một tập compact lồi A trong một không gian Hausdorff* lồi địa phương E. Khi đó với mọi lân cận mở V của x trong E, tồn tại một nửa không gian mở F trong E sao cho x∈F∩A⊂V∩Ax \in F \cap A \subset V \cap A (nói cách khác, các vết trên A của các nửa không gian mở chứa x lập thành một hệ cơ sở lân cận của x trong A).

Với mọi nửa không gian mở D của E chứa x, tập A∩D‾A \cap \overline{D} là một lân cận compact của x trong A, và giao của mọi lân cận như vậy chính xác là điểm x (hai điểm phân biệt bất kỳ đều có thể được tách chặt bởi một siêu phẳng đóng (II, p. 38, prop. 4). Theo prop. 1 của GT, I, § 9.2, chỉ cần chứng minh rằng các tập A∩D‾A \cap \overline{D} lập thành một cơ sở lọc. Bây giờ nếu ta viết LD=A∩(E−D)L_D = A \cap (E - D), thì tập LDL_D là lồi, compact và được chứa trong tập lồi A−{x}A - \{x\}; nếu D1,D2D_1, D_2 là hai nửa không gian mở của E chứa x, thì bao lồi B của LD1∪LD2L_{D_1} \cup L_{D_2} vì thế được chứa trong A−{x}A - \{x\}; nhưng B là một tập compact (II, p. 14, prop. 15), do đó tồn tại một siêu phẳng đóng H tách chặt x khỏi B (II, p. 38, prop. 4) và nếu nửa không gian mở được xác định bởi H và chứa x là D, thì ta có LD1∪LD2⊂LDL_{D_1} \cup L_{D_2} \subset L_D, do đó A∩D‾⊂(A∩D1‾)∩(A∩D2‾)A \cap \overline{D} \subset (A \cap \overline{D_1}) \cap (A \cap \overline{D_2}).

Hệ quả

— Trong một không gian lồi địa phương Hausdorff, cho K là một tập con compact của một tập compact lồi A. Khi đó các điều kiện sau là tương đương.

a) A là bao lồi đóng của K.

b) K gặp mọi tập hợp là giao của A với một siêu phẳng tựa của nó.

c) K chứa tập hợp các điểm cực biên của A.

a) ⇒\Rightarrow b). Giả sử rằng tồn tại một siêu phẳng tựa H của A có phương trình là f(x)=αf(x) = \alpha, sao cho (H∩A)∩K=∅(H \cap A) \cap K = \varnothing và giả sử chẳng hạn rằng f(x)≥αf(x) \geq \alpha trên A. Vì f(x)−α>0f(x) - \alpha > 0 với mọi x∈Kx \in K theo giả thiết và vì K compact nên ta có

β=inf⁡x∈Kf(x)>α, \beta = \inf_{x \in K} f(x) > \alpha ,

và do đó K được chứa trong nửa không gian đóng f(x)≥βf(x) \geq \beta; vì thế điều tương tự cũng đúng cho bao lồi đóng A của K và điều này là phi lý.

b) ⇒\Rightarrow c). Giả sử rằng một điểm cực biên x của A không thuộc K; tồn tại một lân cận V của x trong E sao cho V∩A∩K=∅V \cap A \cap K = \varnothing. Nhưng theo mệnh đề 2, ta có thể giả sử rằng V là một nửa-không-gian mở được xác định bởi một siêu phẳng H có phương trình f(z)=αf(z) = \alpha. Chẳng hạn nếu f(x)>αf(x) > \alpha, thì với mọi y∈Ky \in K, ta có f(y)≤αf(y) \leq \alpha, do đó K không cắt giao của A với siêu phẳng tựa f(z)=γ>αf(z) = \gamma > \alpha song song với H (II, p. 37, mệnh đề 2); điều này là vô lý.

c) ⇒\Rightarrow a). Đây là một hệ quả hiển nhiên của định lý Krein-Milman.

Nhận xét 1

Ngay cả khi không gian vectơ E là hữu hạn chiều thì tập hợp các điểm cực biên của một tập lồi compact cũng không nhất thiết đóng (II, p. 89, bài tập 11).

Nhận xét 2

Nếu K là một tập compact trong một không gian lồi địa phương Hausdorff không đầy đủ, và A, bao lồi đóng của K, không compact, thì có thể có những điểm cực biên của A không thuộc K (II, p. 87, bài tập 2).

Nhận xét 3

Trong một không gian Banach E vô hạn chiều, có thể xảy ra trường hợp quả cầu đóng tâm 0 bán kính 1 không có điểm cực biên nào (II, p. 89, bài tập 14).

Nhận xét 4

Nếu A là một tập lồi compact trong một không gian lồi địa phương Hausdorff, thì có thể xảy ra trường hợp một điểm cực biên của A không thuộc bất kỳ siêu phẳng tựa nào của A (II, p. 78, bài tập 11). Chứng minh của định lý 1 (II, p. 56) cho thấy rằng trong mọi trường hợp A là bao lồi đóng của tập hợp các điểm cực biên của A thuộc một siêu phẳng tựa.

2. Các phần tử sinh cực biên của các nón lồi

Cho C là một nón lồi có đỉnh 0 trong một không gian vectơ E; rõ ràng không có điểm nào khác của C ngoài đỉnh có thể là một điểm cực biên; đỉnh là một điểm cực biên của C khi và chỉ khi C là nhọn và thực sự.

Định nghĩa 2

Cho C là một nón lồi có đỉnh 0 trong một không gian vectơ E. Ta nói rằng một nửa đường thẳng D ⊂ C xuất phát từ 0 là một phần tử sinh cực biên của C, nếu mọi đoạn mở chứa trong C, không chứa 0 và cắt D đều được chứa trong D.

Điều này tương đương với việc nói rằng với mọi x ∈ D sao cho x ≠ 0, nếu y ≠ 0, y' ≠ 0 là hai điểm của C sao cho x = y + y', thì nhất thiết y ∈ D và y' ∈ D.

Nhận xét 1

Cho C là một nón lồi nhọn thực sự trong E, và xét trên E cấu trúc thứ tự mà đối với nó C là tập hợp các phần tử ≥ 0 (II, p. 12, mệnh đề 13); để một phần tử của E, chẳng hạn x > 0, thuộc một phần tử sinh cực biên của C, điều kiện cần và đủ là mọi phần tử y ≥ 0 bị chặn trên bởi x đều có dạng λx với 0 ≤ λ ≤ 1 : thật vậy, nói rằng y bị chặn trên bởi x có nghĩa là x = y + y' trong đó y' ∈ C, do đó suy ra kết luận.

Mệnh đề 3

Trong một không gian vectơ E, cho C là một nón lồi có đỉnh 0, và cho x₀ ≠ 0 là một điểm của C, và D là một nửa đường thẳng chứa trong C, xuất phát từ 0 và chứa x₀. Cho H là một siêu phẳng chứa x₀ và không đi qua 0. Khi đó D là một phần tử sinh cực biên của C nếu và chỉ nếu x₀ là một điểm cực biên của H ∩ C.

Điều kiện này rõ ràng là cần thiết. Ngược lại, giả sử nó được thỏa mãn; giả sử rằng tồn tại một đường thẳng D' không chứa D, đi qua x₀ và sao cho D' ∩ C chứa một đoạn mở mà x₀ thuộc vào. Cho y ≠ 0 là một vectơ chỉ phương của D'; các giả thiết suy ra rằng điểm (1 + λ)x₀ + μy thuộc C với |λ| và |μ| đủ nhỏ. Nhưng khi đó, trong mặt phẳng P được xác định bởi D và D' và mang tôpô chính tắc, x₀ là một điểm trong của P ∩ C, và suy ra đường thẳng P ∩ H chứa một đoạn mở nằm trong H ∩ C và mà x₀ thuộc vào. Điều này mâu thuẫn với giả thiết.

Định nghĩa 3

Cho C là một tập lồi trong một không gian vectơ tôpô Hausdorff E. Một tập lồi compact không rỗng A của C được gọi là một mũ của C nếu phần bù C − A của A trong C là lồi.

Cho C là một nón lồi nhọn có đỉnh 0 trong E và cho A là một mũ của C. Đặt B = C − A. Với mọi nửa đường thẳng đóng L ⊂ C xuất phát từ 0, các tập L ∩ A và L ∩ B là các tập lồi bù nhau trong L, hợp của chúng là L, và sao cho L ∩ A là compact. Vì L ∩ A là không rỗng đối với ít nhất một nửa đường thẳng L, ta thấy rằng 0 ∈ A, do đó L ∩ A là một đoạn đóng với một đầu mút tại 0. Nếu A tồn tại thì C là thực sự.

Mệnh đề 4

— Cho C là một nón lồi nhọn có đỉnh 0 trong E, một không gian lồi địa phương Hausdorff.

a) Cho A là một mũ của C. Cho p là hạn chế lên C của hàm Minkowski của A (II, p. 20). Tập hợp các x ∈ C sao cho p(x) ≤ 1 là tập A. Hàm p là nửa liên tục dưới và có các tính chất sau: (i) Với mọi x, y trong C, ta có p(x + y) = p(x) + p(y). (ii) Với mọi x ∈ C và λ ∈ R_+^*, ta có p(λx) = λp(x). (iii) Nếu x ∈ C, hệ thức p(x) = 0 tương đương với x = 0.

b) Ngược lại, cho p là một hàm xác định trên C với giá trị trong [0, +∞], thỏa mãn các điều kiện (i), (ii) của a). Cho A là tập hợp các x ∈ C sao cho p(x) ≤ 1. Khi đó A và C − A là lồi. A là một mũ khi và chỉ khi A compact và không rỗng.

Mệnh đề b) là hiển nhiên. Các tính chất được phát biểu trong a) là các hệ quả của các nhận xét đứng trước mệnh đề 4 và của mệnh đề 22 của II, p. 20 và mệnh đề 23 của II, p. 20, trừ

p(x+y)≥p(x)+p(y). p(x + y) \geq p(x) + p(y).

Chỉ cần chứng minh điều sau cùng này khi x ≠ 0 và y ≠ 0; do đó ta có p(x) > 0, p(y) > 0. Cho μ, λ là hai số > 0 sao cho λ < p(x), μ < p(y), và ký hiệu phần bù của A trong C là B. Ta có x ∈ λB, y ∈ μB, do đó x + y ∈ λB + μB; theo tính lồi của B, ta có λB + μB ⊂ (λ + μ)B, do đó p(x + y) > λ + μ, điều này suy ra bất đẳng thức đã nêu ở trên.

Hệ quả 1

— Cho C là một nón lồi nhọn có đỉnh 0 trong E, một không gian lồi địa phương Hausdorff, và p là chuẩn Minkowski của A, một thiết diện của C. Khi đó các điểm cực biên của A là điểm 0, và các điểm x trên các tia sinh cực biên của C sao cho p(x) = 1.

Hiển nhiên 0 là một điểm cực biên của A. Cho x là một điểm trên L, một tia sinh cực biên của C, và sao cho p(x) = 1. Cho y, z là hai điểm của A sao cho x = 12(y+z)\frac{1}{2}(y + z). Vì L là cực biên, ta có y = λx và z = μx, trong đó λ và μ là các số ≥ 0 sao cho 12(λ+μ)=1\frac{1}{2}(\lambda + \mu) = 1, λ=λp(x)=p(y)≤1\lambda = \lambda p(x) = p(y) \leq 1 và μ=μp(x)=p(z)≤1\mu = \mu p(x) = p(z) \leq 1, từ đó suy ra λ=μ=1\lambda = \mu = 1 và do đó y = z = x; vậy x là một điểm cực biên của A. Ngược lại, cho x ≠ 0 là một điểm cực biên của A. Hiển nhiên p(x) = 1. Cho y, y' là hai điểm của C sao cho x = y + y', và ta sẽ chứng minh rằng y, y' tỉ lệ với x. Không mất tính tổng quát, ta có thể giả sử rằng các số λ=p(y)\lambda = p(y) và λ′=p(y′)\lambda' = p(y') là hữu hạn và > 0. Khi đó λ−1y∈A,λ′−1y′∈A,λ+λ′=1\lambda^{-1}y \in A, {\lambda'}^{-1}y' \in A, \lambda + \lambda' = 1 theo mệnh đề 4, (i), và đẳng thức x=λ(λ−1y)+λ′(λ′−1y′)x = \lambda(\lambda^{-1}y) + \lambda'({\lambda'}^{-1}y') suy ra, theo giả thiết, rằng

x=λ−1y=λ′−1y′. x = \lambda^{-1}y = {\lambda'}^{-1}y'.

Hệ quả 2

— Mọi điểm của C thuộc về một thiết diện của C cũng thuộc bao lồi đóng của hợp các tia sinh cực biên của C.

Điều này suy ra ngay lập tức từ hệ quả 1 và định lý Krein-Milman (II, p. 55, đl. 1).

\* Ví dụ. — Cho X là một không gian compact địa phương và σ-compact. Cho C là một nón lồi đóng có đỉnh 0 trong M+(X)\mathscr{M}_+(X) với tôpô mơ hồ. Ta sẽ chứng minh rằng C là hợp của các thiết diện của nó. Cho (Xn)(X_n) là một dãy tăng các tập mở, compact tương đối của X mà hợp là X. Cho μ là một phần tử ≠0\neq 0 của C. Tồn tại các αn>0\alpha_n > 0 sao cho ∑nαnμ(Xn)=1\sum_n \alpha_n \mu(X_n) = 1.

Với mọi độ đo v∈Cv \in C, đặt p(v)=∑nαnv(Xn)∈[0,+∞]p(v) = \sum_n \alpha_n v(X_n) \in [0, +\infty]. Hàm p trên C thỏa mãn các điều kiện (i) và (ii) của mệnh đề 4. Nó nửa liên tục dưới đối với tôpô mơ hồ (INT, IV, 2nd ed., § 1, No. 1, prop. 4). Do đó tập A gồm các γ∈C\gamma \in C sao cho p(γ)≤1p(\gamma) \leq 1 là đóng và khác rỗng. Mặt khác, mọi tập compact của X đều được chứa trong một trong các XnX_n, vì vậy A bị chặn theo tôpô mơ hồ nên cũng compact theo tôpô mơ hồ (INT, III, 2nd ed., § 1, No. 9, prop. 15). Vậy A là một thiết diện của C chứa μ. \*

Mệnh đề 5

Cho C là một nón lồi thực sự có đỉnh 0 trong E, một không gian yếu Hausdorff; giả sử rằng C là đầy đủ đối với cấu trúc đều cảm sinh bởi cấu trúc đều của E, và rằng tồn tại một hệ cơ bản đếm được các lân cận của 0 trong C. Khi đó C là hợp của các thiết diện của nó và là bao lồi đóng của hợp các tia sinh cực biên của nó.

Mệnh đề thứ hai suy ra từ mệnh đề thứ nhất và từ hệ quả 2 ở trên. Dùng mệnh đề 11 của II, p. 52 đưa mệnh đề này về trường hợp E=RlE = \mathbf{R}^l và C⊂R+lC \subset \mathbf{R}_+^l. Với mọi α∈I\alpha \in I, ký hiệu phép chiếu prαpr_\alpha trong E bởi fαf_\alpha; khi đó fαf_\alpha là một dạng tuyến tính liên tục. Mặt khác, cho (Vn)n∈N(V_n)_{n \in \mathbf{N}} là một hệ cơ bản đếm được các lân cận của 0 trong C. Theo định nghĩa của tôpô của E, với mỗi n∈Nn \in \mathbf{N}, tồn tại một tập con hữu hạn JnJ_n của I và một số εn>0\varepsilon_n > 0 sao cho VnV_n chứa tập WnW_n gồm các x∈Cx \in C sao cho fα(x)≤εnf_\alpha(x) \leq \varepsilon_n với mọi α∈Jn\alpha \in J_n; đặt J=⋃n∈NJnJ = \bigcup_{n \in \mathbf{N}} J_n. Cho y≠0y \neq 0 là một điểm của C, và p là hàm ∑α∈Jλα(fα∣C)\sum_{\alpha \in J} \lambda_\alpha (f_\alpha|C) trong đó các λα>0\lambda_\alpha > 0 được chọn sao cho p(y)=1p(y) = 1; điều này là có thể, vì nếu fα(y)=0f_\alpha(y) = 0 với mọi α∈J\alpha \in J, thì y∈Vny \in V_n với mọi nn, kéo theo y=0y = 0, trái với giả thiết. Bây giờ ta nhận thấy rằng với mọi α∈I\alpha \in I, hàm fα∣Cf_\alpha|C liên tục tại điểm 0, do đó tồn tại một n∈Nn \in \mathbf{N} sao cho fαf_\alpha bị chặn trên một WnW_n, vì thế bị chặn trên trong C bởi một tổ hợp tuyến tính của một số hữu hạn các hàm fβ∣Cf_\beta|C, với β∈J\beta \in J. Suy ra rằng nếu A là tập các x∈Cx \in C sao cho p(x)≤1p(x) \leq 1, thì fαf_\alpha bị chặn trong A với mọi α∈I\alpha \in I. Vì p nửa liên tục dưới trong C, suy ra A là đóng và khác rỗng trong C và do đó là compact. Vì hiển nhiên p kiểm tra các điều kiện (i) và (ii) của mệnh đề 4 của II, p. 58, ta thấy rằng A là một thiết diện trong C và chứa y.

Nhận xét 2

Tồn tại các nón lồi thực sự đầy đủ yếu mà không có tia sinh cực biên nào (II, p. 92, bài tập 31).

3. Các nón lồi với đáy compact

Mệnh đề 6

Cho E là một không gian lồi địa phương Hausdorff và K là một tập compact lồi trong E không chứa 0. Khi đó nón nhọn nhỏ nhất có đỉnh 0 chứa KK là một nón lồi thực sự trong EE và là một không gian con địa phương compact và đầy đủ của EE; hơn nữa, tồn tại một siêu phẳng đóng HH trong EE không chứa 0 và sao cho HH cắt mọi nửa đường thẳng xuất phát từ 0 được chứa trong CC và sao cho H∩CH \cap C là compact. Hơn nữa, nếu DD là nửa không gian chứa 0 được xác định bởi HH, một siêu phẳng đóng có các tính chất ấy, thì C∩DC \cap D là một chỏm của CC và CC là hợp của các λ(C∩D)\lambda(C \cap D) với λ>0\lambda > 0.

Theo mệnh đề 4 của II, p. 38, tồn tại một siêu phẳng đóng HH tách 0 ra khỏi KK một cách nghiêm ngặt. Bây giờ, bao lồi AA của hợp của {0}\{0\} và của KK là compact (II, p. 14, mệnh đề 15) và là hợp của các λK\lambda K với 0≤λ≤10 \leq \lambda \leq 1. Vì 0 và KK nằm hẳn ở hai phía đối của HH, với mọi x∈Kx \in K tồn tại λ\lambda sao cho 0<λ<10 < \lambda < 1 và λx∈H\lambda x \in H. Vì CC là hợp của các λA\lambda A với λ≥1\lambda \geq 1, ta thấy rằng HH cắt mọi nửa đường thẳng gốc 0 được chứa trong CC và rằng H∩A=H∩CH \cap A = H \cap C là compact. Hơn nữa, CC cũng là hợp của các λ(H∩C)\lambda(H \cap C) với λ≥0\lambda \geq 0; gọi CnC_n là hợp của các λ(H∩C)\lambda(H \cap C) với 0≤λ≤n0 \leq \lambda \leq n. Rõ ràng CnC_n là bao lồi của hợp của {0}\{0\} và của n(H∩C)n(H \cap C), do đó nó là compact. Mặt khác, với mọi x∈Ex \in E, tồn tại một lân cận đóng VV của xx trong EE và một số nguyên nn sao cho V∩C⊂CnV \cap C \subset C_n; thật vậy, nếu HH được xác định bởi phương trình f(z)=αf(z) = \alpha, trong đó α>0\alpha > 0, thì chỉ cần lấy VV là nửa không gian đóng được xác định bởi nHnH và chứa 0, với nn đủ lớn để nα>f(x)n\alpha > f(x). Điều này cho thấy rằng CC là compact địa phương (lấy x∈Cx \in C), và rằng nó đóng trong EE. Ta cũng có thể xem KK như một tập con của không gian đầy đủ hóa E^\hat{E}, do đó CC cũng đóng trong E^\hat{E} và vì vậy đầy đủ.

Cho một nón CC và một siêu phẳng đóng HH trong một không gian vectơ tôpô Hausdorff EE, sao cho HH không chứa đỉnh ss của CC và CC là nón nhỏ nhất có đỉnh ss chứa H∩CH \cap C, thì ta gọi giao H∩CH \cap C là một « đáy » của nón CC. Mệnh đề 6 cho thấy rằng trong một không gian lồi địa phương Hausdorff EE, nón nhỏ nhất có đỉnh 0, chứa một tập lồi compắc KK mà 0 không thuộc, là một nón có đáy compắc, và mọi nón lồi có một đáy compắc SS đều là compact địa phương và đầy đủ.

Ví dụ 1

Mọi nón lồi đóng thực sự trong EE, một không gian vectơ có số chiều hữu hạn, đều có một đáy compắc. Thật vậy, theo II, p. 52, prop. 11, ta chỉ cần xét trường hợp E=RnE = \mathbf{R}^n và C=R+nC = \mathbf{R}_+^n. Nếu (ei)1≤i≤n(e_i)_{1 \leq i \leq n} là cơ sở chính tắc của Rn\mathbf{R}^n, thì rõ ràng tập lồi compắc là bao lồi của các eie_i (1≤i≤n1 \leq i \leq n) là một đáy compắc của R+n\mathbf{R}_+^n.

Ví dụ 2

Nếu XX là một không gian compắc, thì nón M+(X)\mathscr{M}_+(X) các độ đo dương trên XX, với tôpô vague, là một nón có đáy compắc (INT, III, 2nd ed., § 1, No. 9, cor. 3 of prop. 15). \

Bài tập

Xem các bài tập cho § 7.

Machine translation of the English, by gpt-5.4, against glossary version 34. Not checked by a person.