Bourbaki

§ 2. Các họ trực giao trong một không gian Hilbert

1. Tổng Hilbert ngoài của các không gian Hilbert

Mệnh đề 1

Cho (Ei)i∈I(E_i)_{i \in I} là một họ các không gian Hilbert, P là không gian vectơ tích ∏i∈IEi\prod_{i \in I} E_i và E là tập con của P gồm tất cả các họ x=(xi)i∈Ix = (x_i)_{i \in I} sao cho ∑i∈I∥xi∥2\sum_{i \in I} \|x_i\|^2 là hữu hạn.

a) E là một không gian con vectơ của P.

b) Với mọi x=(xi)i∈Ix = (x_i)_{i \in I} và y=(yi)i∈Iy = (y_i)_{i \in I} trong E, họ (⟨xi∣yi⟩)i∈I(\langle x_i|y_i \rangle)_{i \in I} là khả tổng. Nếu đặt ⟨x∣y⟩=∑i∈I⟨xi∣yi⟩\langle x|y \rangle = \sum_{i \in I} \langle x_i|y_i \rangle, ta định nghĩa một dạng Hermit dương tách được trên E.

c) Đối với tích vô hướng được định nghĩa như vậy, E là một không gian Hilbert; tổng trực tiếp S của các EiE_i là trù mật trong E.

Với x=(xi)i∈Ix = (x_i)_{i \in I} và y=(yi)i∈Iy = (y_i)_{i \in I} trong E, ta có

∥xi+yi∥2≤2(∥xi∥2+∥yi∥2), \|x_i + y_i\|^2 \leq 2(\|x_i\|^2 + \|y_i\|^2),
suy ra x+y=(xi+yi)i∈Ix + y = (x_i + y_i)_{i \in I} thuộc E. Điều này chứng minh a).

Theo bất đẳng thức Cauchy-Schwarz, ta có

∣⟨xi∣yi⟩∣≤∥xi∥⋅∥yi∥≤12(∥xi∥2+∥yi∥2) |\langle x_i|y_i \rangle| \leq \|x_i\| \cdot \|y_i\| \leq \frac{1}{2}(\|x_i\|^2 + \|y_i\|^2)
suy ra ∑i∈I∣⟨xi∣yi⟩∣<+∞\sum_{i \in I} |\langle x_i|y_i \rangle| < +\infty. Nếu x≠0x \neq 0, ta có ⟨x∣x⟩=∑i∈I∥xi∥2>0\langle x|x \rangle = \sum_{i \in I} \|x_i\|^2 > 0, do đó mệnh đề b) được suy ra.

Ta nhắc lại rằng S là không gian con của P gồm tất cả các họ x=(xi)i∈Ix = (x_i)_{i \in I} sao cho tập hợp tất cả các i∈Ii \in I mà xi≠0x_i \neq 0 là hữu hạn. Suy ra ngay lập tức rằng S trù mật trong E; do đó còn phải chứng minh rằng E là đầy đủ đối với tôpô T1\mathscr{T}_1 nhận được bởi chuẩn ∥x∥=⟨x∣x⟩1/2\|x\| = \langle x|x \rangle^{1/2}. Gọi T2\mathscr{T}_2 là tôpô cảm sinh trên E bởi tôpô tích trên ∏i∈IEi\prod_{i \in I} E_i. Với mọi r>0r > 0, gọi BrB_r là tập hợp tất cả các x∈Ex \in E sao cho ∥x∥≤r\|x\| \leq r. Quan hệ này kéo theo rằng ta có ∑i∈J∥xi∥2≤r2\sum_{i \in J} \|x_i\|^2 \leq r^2 với mọi tập con hữu hạn J của I, và do đó BrB_r là một tập con đóng của ∏i∈IEi\prod_{i \in I} E_i, vì vậy cũng đầy đủ. Sự kiện E đầy đủ đối với T1\mathscr{T}_1 giờ đây suy ra từ GT, III, § 3, No. 5, hệ quả 2 cho mệnh đề 10.

Định nghĩa 1

Cho* (Ei)i∈I(E_i)_{i \in I} là một họ các không gian Hilbert. Không gian Hilbert E được định nghĩa trong mệnh đề 1 được gọi là tổng Hilbert ngoài của họ (Ei)i∈I(E_i)_{i \in I} và được viết là ⨁i∈IEi\bigoplus_{i \in I} E_i hoặc ⨁i∈IEi\bigoplus_{i \in I} E_i^1.

Gọi fif_i là ánh xạ từ EiE_i vào E biến z∈Eiz \in E_i thành một phần tử (xk)∈E(x_k) \in E sao cho xk=0x_k = 0 với mọi k≠ik \neq i và xi=zx_i = z; rõ ràng rằng fif_i là một đẳng cấu từ không gian Hilbert EiE_i lên một không gian con vectơ đóng của E. Ta nói rằng fif_i là ánh xạ chính tắc từ EiE_i vào E và nói chung ta đồng nhất EiE_i với ảnh của nó trong E qua đẳng cấu này. Với quy ước này, EiE_i và EkE_k là trực giao trong E đối với i≠ki \neq k, và E là không gian con vectơ đóng sinh bởi hợp của các không gian con EiE_i.

Khi I là hữu hạn, E là tổng trực tiếp của các EiE_i; vì phép chiếu chính tắc từ E lên EiE_i là liên tục với mọi i∈Ii \in I, E cũng là tổng trực tiếp tôpô của các EiE_i (GT, III, § 6, No. 2, mệnh đề 2). Nếu I={1,n}I = \{1, n\}, ta cũng viết E1⊕E2⊕...⊕EnE_1 \oplus E_2 \oplus ... \oplus E_n thay cho ⨁i=1nEi\bigoplus_{i=1}^n E_i.

Ví dụ

— Cho E là một không gian Hilbert và I là một tập chỉ số. Ký hiệu ℓE2(I)\ell^2_E(I) là tổng Hilbert ngoài của họ (Ei)i∈I(E_i)_{i \in I}, trong đó Ei=EE_i = E với mọi i∈Ii \in I. Nói cách khác, ℓE2(I)\ell^2_E(I) là không gian của mọi họ x=(xi)i∈Ix = (x_i)_{i \in I} gồm các phần tử của E sao cho ∑i∈I∥xi∥2<+∞\sum_{i \in I} \|x_i\|^2 < +\infty, được trang bị tích vô hướng ⟨x∣y⟩=∑i∈I⟨xi∣yi⟩\langle x|y \rangle = \sum_{i \in I} \langle x_i|y_i \rangle (không gian các họ các phần tử của E khả tổng bình phương, được chỉ số hóa bởi I). Ta đặt ℓ2(I)=ℓK2(I)\ell^2(I) = \ell^2_K(I).

2. Tổng Hilbert của các không gian con trực giao của một không gian Hilbert

Định nghĩa 2

Một không gian Hilbert E được gọi là tổng Hilbert của một họ* (Ei)i∈I(E_i)_{i \in I} các không gian con vectơ đóng của E khi :

1) với hai chỉ số phân biệt i,ki, k trong I, các không gian con EiE_i và EkE_k trực giao trong E; 2) không gian con vectơ đóng sinh bởi hợp của các EiE_i là E.

1 Cần chú ý không nhầm lẫn ký hiệu này với ký hiệu của tổng trực tiếp « đại số » của các không gian EiE_i (A, II, § 1, No. 6).

Định lý 1

— Cho E là một không gian Hilbert là tổng Hilbert của một họ (Ei)i∈I(E_i)_{i \in I} các không gian con vectơ đóng của E. Tồn tại một đẳng cấu ff và chỉ một, từ E lên tổng Hilbert ngoài ⨁i∈IEi=F\bigoplus_{i \in I} E_i = F của họ (Ei)(E_i) sao cho, với mọi i∈Ii \in I, hạn chế của ff lên E là ánh xạ chính tắc fif_i từ EiE_i vào F.

Cho S⊂FS \subset F là tổng trực tiếp « đại số » của các EiE_i, và cho gg là ánh xạ tuyến tính (xi)i∈I↦∑i∈Ixi(x_i)_{i \in I} \mapsto \sum_{i \in I} x_i từ S vào E. Ta sẽ chứng minh rằng gg là một đẳng cấu từ không gian tiền Hilbert S lên không gian con (tiền Hilbert) g(S)g(S) của E, được sinh bởi hợp của các EiE_i : vì, với hai phần tử x=(xi)i∈Ix = (x_i)_{i \in I}, y=(yi)i∈Iy = (y_i)_{i \in I}, ta có

⟨g(x)∣g(y)⟩=⟨∑i∈Ixi∣∑i∈Iyi⟩=∑(i,k)∈I×I⟨xi∣yk⟩. \langle g(x)|g(y) \rangle = \langle \sum_{i \in I} x_i|\sum_{i \in I} y_i \rangle = \sum_{(i,k) \in I \times I} \langle x_i|y_k \rangle .

Nhưng nếu i≠ki \neq k, ⟨xi∣yk⟩=0\langle x_i|y_k \rangle = 0 theo giả thiết, suy ra

⟨g(x)∣g(y)⟩=∑i∈I⟨xi∣yi⟩=⟨x∣y⟩; \langle g(x)|g(y) \rangle = \sum_{i \in I} \langle x_i|y_i \rangle = \langle x|y \rangle ;

điều này chứng minh mệnh đề của chúng ta. Vì S trù mật trong F và g(S)g(S) trù mật trong E, đẳng cấu gg được kéo dài thành một đẳng cấu g‾\overline{g} từ F lên E (V, p. 8, hệ quả). Hiển nhiên đẳng cấu nghịch đảo ff của g‾\overline{g} là ánh xạ cần tìm; tính duy nhất của nó suy ra từ việc không gian con đóng của E được sinh bởi hợp của các EiE_i chính là E.

Khi E là tổng Hilbert của một họ (Ei)i∈I(E_i)_{i \in I} các không gian con, ta thường đồng nhất E với tổng Hilbert ngoài F của các EiE_i nhờ đẳng cấu ff. Nếu tập I hữu hạn, nói rằng E là tổng Hilbert của họ (Ei)i∈I(E_i)_{i \in I} có nghĩa là các EiE_i từng đôi một trực giao và không gian vectơ E là tổng trực tiếp của họ (Ei)i∈I(E_i)_{i \in I} các không gian con.

Hệ quả 1

— Cho E là một không gian Hilbert, là tổng Hilbert của một họ (Ei)i∈I(E_i)_{i \in I} các không gian con vectơ đóng của E; với mọi i∈Ii \in I, ký hiệu pEip_{E_i} là phép chiếu trực giao (V, p. 13) từ E lên EiE_i.

a) Với mọi x∈Ex \in E, họ (∥pEi(x)∥2)i∈I(\|p_{E_i}(x)\|^2)_{i \in I} khả tổng trong R\mathbf{R}, họ (pEi(x))i∈I(p_{E_i}(x))_{i \in I} khả tổng trong E, và ta có

∥x∥2=∑i∈I∥pEi(x)∥2,x=∑i∈IpEi(x). \|x\|^2 = \sum_{i \in I} \|p_{E_i}(x)\|^2 , \quad x = \sum_{i \in I} p_{E_i}(x) .

b) Ngược lại, nếu (xi)i∈I(x_i)_{i \in I} là một họ các phần tử của E sao cho xi∈Eix_i \in E_i với mọi i∈Ii \in I và ∑i∈I∥xi∥2<+∞\sum_{i \in I} \|x_i\|^2 < + \infty, thì họ này là khả tổng, và tổng xx là điểm duy nhất của E sao cho pEi(x)=xip_{E_i}(x) = x_i với mọi i∈Ii \in I.

c) Với mọi cặp điểm x,yx, y của E, ta có

⟨x∣y⟩=∑i∈I⟨pEi(x)∣pEi(y)⟩. \langle x|y \rangle = \sum_{i \in I} \langle p_{E_i}(x)|p_{E_i}(y) \rangle .

Các tính chất này thực ra là hiển nhiên đối với tổng hilbert ngoài của các EiE_i, và có thể được chuyển sang E bởi đẳng cấu.

Hệ quả 2

— Cho E là một không gian tiềnhilbert Hausdorff, (Ei)i∈I(E_i)_{i \in I} là một họ các không gian con vectơ đầy đủ của E sao cho, với mọi cặp chỉ số phân biệt i,ki, k trong I, các không gian con EiE_i và EkE_k là trực giao. Gọi V là không gian con vectơ đóng của E sinh bởi hợp của các EiE_i. Với mọi i∈Ii \in I, gọi pEip_{E_i} là phép chiếu trực giao từ E lên EiE_i. Gọi x∈Ex \in E.

1) Ta có ∑i∈I∥pEi(x)∥2≤∥x∥2\sum_{i \in I} \|p_{E_i}(x)\|^2 \leq \|x\|^2.

2) Các điều kiện sau là tương đương : a) x∈Vx \in V; b) ∑i∈I∥pEi(x)∥2=∥x∥2\sum_{i \in I} \|p_{E_i}(x)\|^2 = \|x\|^2; c) họ (pEi(x))i∈I(p_{E_i}(x))_{i \in I} là khả tổng trong E, và ta có x=∑i∈IpEi(x)x = \sum_{i \in I} p_{E_i}(x).

3) Giả sử V là đầy đủ. Khi đó họ (pEi(x))i∈I(p_{E_i}(x))_{i \in I} là khả tổng trong E, và

pV(x)=∑i∈IpEi(x),∥pV(x)∥2=∑i∈I∥pEi(x)∥2, p_V(x) = \sum_{i \in I} p_{E_i}(x), \quad \|p_V(x)\|^2 = \sum_{i \in I} \|p_{E_i}(x)\|^2,
trong đó pVp_V ký hiệu phép chiếu trực giao từ E lên V.

Cho E^\hat{E} là sự hoàn thành không gian hilbert của E; ta đồng nhất E với một không gian con trù mật của E^\hat{E}; các EiE_i, vì đầy đủ, là các không gian con đóng của E^\hat{E}. Bao đóng V‾\overline{V} của V trong E^\hat{E} là không gian con vectơ đóng của E^\hat{E} sinh bởi hợp của các EiE_i, và V=V‾∩EV = \overline{V} \cap E. Không gian E^\hat{E} là tổng hilbert của các EiE_i và của không gian con W, phần bù trực giao của V‾\overline{V} trong E^\hat{E}; đặt x0=pW(x)x_0 = p_W(x) và xi=pEi(x)x_i = p_{E_i}(x) với mọi i∈Ii \in I. Theo hệ quả 1, ta có ∥x∥2=∥x0∥2+∑i∈I∥xi∥2\|x\|^2 = \|x_0\|^2 + \sum_{i \in I} \|x_i\|^2, và x=x0+∑i∈Ixix = x_0 + \sum_{i \in I} x_i trong E^\hat{E}. Điều này kéo theo mệnh đề 1), và sự kiện rằng các điều kiện b) và c) của 2) tương đương với điều kiện x0=0x_0 = 0, do đó tương đương với điều kiện x∈Vx \in V. Cuối cùng, nếu V là đầy đủ, và nếu đặt x′=pV(x)x' = p_V(x), ta có x′−xi=(x−xi)−(x−pV(x))x' - x_i = (x - x_i) - (x - p_V(x)), do đó x′−xix' - x_i trực giao với EiE_i, và vì vậy xi=pEi(x′)x_i = p_{E_i}(x') với mọi i∈Ii \in I; bây giờ chỉ cần áp dụng tính chất 2) cho vectơ x′x'.

Nhận xét

Cho E là một không gian tiền Hilbert Hausdorff, (Vi)i∈I(V_i)_{i \in I} là một họ các không gian con vectơ của E sao cho với mọi cặp chỉ số phân biệt i,ki, k, các không gian con ViV_i và VkV_k trực giao với nhau. Khi đó, với mọi k∈Ik \in I, giao của VkV_k và không gian con vectơ đóng WkW_k sinh bởi hợp của các ViV_i với mọi i≠ki \neq k bằng 00 vì nếu xx thuộc VkV_k và đồng thời thuộc WkW_k, thì xx trực giao với mọi ViV_i với i≠ki \neq k, suy ra trực giao với WkW_k. Đặc biệt, xx trực giao với chính nó, nên bằng không.

Mệnh đề 2

— Cho E là một không gian Hilbert và (Vλ)λ∈L(V_\lambda)_{\lambda \in L} là một họ các không gian con vectơ đóng của E; với mọi λ∈L\lambda \in L, cho (Wλμ)μ∈Mλ(W_{\lambda \mu})_{\mu \in M_\lambda} là một họ các không gian con vectơ đóng của VλV_\lambda sao cho VλV_\lambda là không gian con vectơ đóng sinh bởi hợp của họ này. Để E là tổng Hilbert của họ (Wλμ)λ∈L,μ∈Mλ(W_{\lambda \mu})_{\lambda \in L, \mu \in M_\lambda}, cần và đủ rằng E là tổng Hilbert của họ (Vλ)λ∈L(V_\lambda)_{\lambda \in L} và rằng, với mỗi λ∈L\lambda \in L, VλV_\lambda là tổng Hilbert của họ (Wλμ)μ∈Mλ(W_{\lambda \mu})_{\mu \in M_\lambda} ("tính kết hợp của tổng Hilbert").

Để chứng minh điều kiện này là cần thiết, chỉ cần thấy rằng VαV_\alpha và VβV_\beta trực giao nếu α≠β\alpha \neq \beta. Thật vậy, mọi phần tử của WαμW_{\alpha \mu} (μ∈Mα\mu \in M_\alpha) đều trực giao với mọi WβvW_{\beta v} (v∈Mβv \in M_\beta), suy ra trực giao với không gian con vectơ đóng VβV_\beta do chúng sinh ra; cùng một lập luận cho thấy mọi phần tử của VβV_\beta đều trực giao với VαV_\alpha, vì nó trực giao với mọi WαμW_{\alpha \mu} (μ∈Mα\mu \in M_\alpha).

Để chứng minh điều kiện này là đủ, chỉ cần kiểm tra rằng, nếu điều kiện ấy được thỏa mãn, thì E bằng không gian con vectơ đóng F sinh bởi hợp của các WλμW_{\lambda \mu} (λ∈L\lambda \in L, μ ∈ M_λ); nhưng, với mỗi λ∈L\lambda \in L, F chứa không gian con vectơ đóng sinh bởi hợp các WλμW_{\lambda\mu} sao cho μ∈Mλ\mu \in M_\lambda, tức là F chứa VλV_\lambda; do đó F là không gian con vectơ đóng sinh bởi hợp của các VλV_\lambda, mà theo giả thiết thì bằng E.

3. Các họ trực chuẩn

Định nghĩa 3

Trong một không gian tiền Hilbert, một họ (ei)i∈I(e_i)_{i\in I} các vectơ được gọi là trực giao nếu eie_i và eke_k trực giao với nhau với mọi i≠ki \neq k, và được gọi là trực chuẩn nếu thêm nữa ∥ei∥=1\|e_i\| = 1 với mọi i∈Ii \in I.

Một tập con S của E sao cho họ do ánh xạ đồng nhất từ S lên chính nó xác định là trực chuẩn được gọi là một tập trực chuẩn. Nếu (ei)i∈I(e_i)_{i\in I} là một họ trực chuẩn, thì ánh xạ i↦eii \mapsto e_i là đơn ánh; khi đó ta có thể nói không phân biệt về một họ trực chuẩn hay một tập trực chuẩn.

Nếu (ei)i∈I(e_i)_{i\in I} là một họ trực chuẩn, thì các không gian con vectơ một chiều đầy đủ Di=KeiD_i = Ke_i đôi một trực giao. Với mọi x∈Ex \in E, phép chiếu trực giao của xx lên DiD_i là λiei\lambda_i e_i với ⟨ei∣x−λiei⟩=0⟨e_i|x - \lambda_i e_i⟩ = 0, suy ra ⟨ei∣x⟩=λi⟨ei∣ei⟩=λi⟨e_i|x⟩ = \lambda_i ⟨e_i|e_i⟩ = \lambda_i. Các kết quả của No. 2 áp dụng cho các không gian con DiD_i suy ra các mệnh đề sau:

Mệnh đề 3

Trong một không gian tiền Hilbert Hausdorff E, mọi họ trực chuẩn đều độc lập về mặt tôpô.

Ta lưu ý rằng tính chất này suy ra ngay lập tức từ đặc trưng hóa của các họ độc lập tôpô (IV, p. 1 and II, p. 43, cor. 2), do sự đồng nhất của đối ngẫu của E với sự hoàn tất của E hoặc với không gian liên hợp của E tùy theo K bằng R hay C (V, p. 17, Nhận xét).

Mệnh đề 4

Cho E là một không gian tiền Hilbert Hausdorff, (ei)i∈I(e_i)_{i\in I} là một họ trực chuẩn trong E, V là không gian con vectơ đóng của E sinh bởi các eie_i.

1) Với mọi x∈Ex \in E, ta có

∑i∈I∣⟨ei∣x⟩∣2≤∥x∥2 \sum_{i\in I} |⟨e_i|x⟩|^2 \leq \|x\|^2

(bất đẳng thức Bessel); ở đây tập hợp tất cả các i∈Ii \in I sao cho ⟨ei∣x⟩≠0⟨e_i|x⟩ \neq 0 là đếm được. Hơn nữa, các điều kiện sau là tương đương : a) x∈Vx \in V; b) ∥x∥2=∑i∈I∣⟨ei∣x⟩∣2\|x\|^2 = \sum_{i\in I} |⟨e_i|x⟩|^2; c) họ ⟨ei∣x⟩.ei⟨e_i|x⟩.e_i là khả tổng trong E, và x=∑i∈I⟨ei∣x⟩.eix = \sum_{i\in I} ⟨e_i|x⟩.e_i.

2) Nếu V đầy đủ, thì họ tất cả các ⟨ei∣x⟩.ei⟨e_i|x⟩.e_i là khả tổng trong E với mọi x∈Ex \in E, và ∑i∈I⟨ei∣x⟩.ei=pV(x),∑i∈I∣⟨ei∣x⟩∣2=∥pV(x)∥2\sum_{i\in I} ⟨e_i|x⟩.e_i = p_V(x), \sum_{i\in I} |⟨e_i|x⟩|^2 = \|p_V(x)\|^2.

3) Giả sử V đầy đủ. Với mọi họ (λi)i∈I(\lambda_i)_{i\in I} của các số vô hướng sao cho ∑i∈I∣λi∣2<+∞\sum_{i\in I} |\lambda_i|^2 < +\infty, tồn tại duy nhất một điểm x∈Vx \in V sao cho ⟨ei∣x⟩=λi⟨e_i|x⟩ = \lambda_i với mọi i∈Ii \in I. Nếu (μi)i∈I(\mu_i)_{i\in I} là một họ thứ hai các số vô hướng sao cho ∑i∈I∣μi∣2<+∞\sum_{i\in I} |\mu_i|^2 < +\infty, và nếu y∈Vy \in V sao cho ⟨ei∣y⟩=μi⟨e_i|y⟩ = \mu_i với mọi i∈Ii \in I, thì ⟨x∣y⟩=∑i∈Iλi‾μi⟨x|y⟩ = \sum_{i\in I} \overline{\lambda_i} \mu_i.

Mệnh đề 5

— Cho (ei)i∈I(e_i)_{i \in I} là một họ trực chuẩn trong một không gian tiền Hilbert Hausdorff E. Các tính chất sau là tương đương : a) họ (ei)(e_i) là toàn thể ; b) với mọi x∈Ex \in E, họ ⟨ei∣x⟩⋅ei\langle e_i | x \rangle \cdot e_i là khả tổng trong E, và ta có x=∑i∈I⟨ei∣x⟩⋅eix = \sum_{i \in I} \langle e_i | x \rangle \cdot e_i; c) với mọi x∈Ex \in E,

∥x∥2=∑i∈I∣⟨ei∣x⟩∣2 \|x\|^2 = \sum_{i \in I} |\langle e_i | x \rangle|^2

(quan hệ Parseval).

Khi E là một không gian hilbert thì các điều kiện này cũng tương đương với : d) các quan hệ ⟨ei∣x⟩=0\langle e_i | x \rangle = 0 với mọi i∈Ii \in I suy ra rằng x=0x = 0.

Sự tương đương của các điều kiện a), b), c) suy ra ngay lập tức từ mệnh đề 4. Khi E là một không gian hilbert, sự tương đương của các điều kiện a) và d) suy ra từ hệ quả 1 của V, p. 16.

Định nghĩa 4

— Một họ trực chuẩn và đầy đủ trong một không gian tiền Hilbert Hausdorff E được gọi là một cơ sở trực chuẩn của E.

Một cơ sở trực chuẩn của một không gian tiền Hilbert Hausdorff E cũng là một cơ sở trực chuẩn của phần hoàn thiện của E.

Cho (ei)i∈I(e_i)_{i \in I} là một cơ sở trực chuẩn của E; với mọi x∈Ex \in E, các số ⟨ei∣x⟩⟨e_i | x⟩ được gọi, lạm dụng ngôn ngữ, là các tọa độ của xx đối với cơ sở (ei)(e_i). Với mọi xx và yy trong E, ta có

⟨x∣y⟩=∑i∈I⟨ei∣x⟩‾⟨ei∣y⟩. \langle x | y \rangle = \sum_{i \in I} \overline{\langle e_i | x \rangle} \langle e_i | y \rangle .

Một cơ sở trực chuẩn của E nói chung không phải là một cơ sở của E trên trường K theo nghĩa đã định trong A, II, p. 25; để tránh mọi lẫn lộn, ta sẽ luôn nói rằng một cơ sở của một không gian tiền Hilbert E theo nghĩa của chỗ dẫn trên là một cơ sở đại số của E trên K.

Cho E và F là hai không gian tiền Hilbert Hausdorff và uu là một ánh xạ tuyến tính liên tục từ E vào F. Cho (ei)i∈I(e_i)_{i \in I} (tương ứng (fj)j∈J(f_j)_{j \in J}) là một cơ sở trực chuẩn của E (tương ứng F). Đặt

uji=⟨fj∣u(ei)⟩ u_{ji} = \langle f_j | u(e_i) \rangle

với i∈I, j∈Ji \in I,\ j \in J. Họ (uji)(i,j)∈I×J(u_{ji})_{(i,j) \in I \times J} được gọi là ma trận của uu đối với các cơ sở trực chuẩn (ei)(e_i) và (fj)(f_j). Cho x∈Ex \in E và y=u(x)y = u(x); nếu ta viết ξi=⟨ei∣x⟩\xi_i = \langle e_i | x \rangle và ηj=⟨fj∣y⟩\eta_j = \langle f_j | y \rangle cho các tọa độ tương ứng của xx và yy, ta được ηj=∑i∈Iujiξi\eta_j = \sum_{i \in I} u_{ji} \xi_i với mọi j∈Jj \in J. Khi (ei)(e_i) là một cơ sở đại số của E và (fj)(f_j) là một cơ sở đại số của F, định nghĩa của chúng tôi phù hợp với định nghĩa ở A, II, § 10, No. 4.

Ví dụ

Cho E là không gian của mọi hàm liên tục nhận giá trị phức trên R\mathbf{R}, sao cho f(x+n)=f(x)f(x + n) = f(x) với x∈Rx \in \mathbf{R} và n∈Zn \in \mathbf{Z}. Ta gán cho E tích vô hướng được xác định bởi

⟨f∣g⟩=∫01f(t)‾ g(t) dt. \langle f | g \rangle = \int_0^1 \overline{f(t)}\ g(t)\ dt .

Khi đó E là một không gian tiền Hilbert Hausdorff, nhưng không đầy đủ. Với mỗi số nguyên n∈Zn \in \mathbf{Z}, cho en(x)∈e(nx)e_n(x) \in \mathbf{e}(nx). Hiển nhiên họ (en)n∈Z(e_n)_{n \in \mathbf{Z}} là trực chuẩn trong E. Hơn nữa, tôpô hội tụ đều trên E mịn hơn tôpô suy ra từ chuẩn ∥f∥2=⟨f∣f⟩1/2\|f\|_2 = \langle f|f \rangle^{1/2}. Họ (en)n∈Z(e_n)_{n \in \mathbf{Z}} là toàn thể trong E đối với sự hội tụ đều (GT, X, § 4, No. 4), và a fortiori trong không gian tiền Hilbert E. Do đó (en)n∈Z(e_n)_{n \in \mathbf{Z}} là một cơ sở trực chuẩn của E.

4. Trực chuẩn hóa

Định lý 2

Mọi tập trực chuẩn L trong một không gian hilbert E đều được chứa trong một cơ sở trực chuẩn B của E.

Thật vậy, cho D\mathfrak{D} là họ tất cả các tập hợp trực chuẩn của E, được sắp thứ tự tuyến tính bởi phép bao hàm; hiển nhiên họ này có đặc trưng hữu hạn (S, III, § 4, No. 5). Do đó tồn tại một họ cực đại B trong D\mathfrak{D} chứa L, theo đl. 1 của S, III, § 4, No. 5. Còn phải chứng minh rằng B là một tập hợp toàn phần. Nếu không, sẽ tồn tại một vectơ y≠0y \neq 0 trực giao với mọi vectơ của B (V, p. 22, mệnh đề 5), và nhân y với một vô hướng thích hợp, ta có thể giả sử rằng ∥y∥=1\|y\| = 1; khi đó, B∪{y}B \cup \{y\} sẽ là một tập hợp trực chuẩn khác B và chứa B; điều này mâu thuẫn với định nghĩa của B; vậy là định lý.

Hệ quả 1

Trong mọi không gian Hilbert, tồn tại một cơ sở trực chuẩn.

Chỉ cần áp dụng định lý 2 cho trường hợp L=∅L = \varnothing.

Hệ quả 2

Mọi không gian Hilbert đều đẳng cấu với một không gian ℓ2(I)\ell^2(I).

Chính xác hơn, cho (ei)i∈I(e_i)_{i \in I} là một cơ sở trực chuẩn của một không gian Hilbert E. Theo các mệnh đề 4 (V, p. 21) và 5 (V, p. 22), ánh xạ ϕ\phi được xác định bởi

ϕ(x)=(⟨ei∣x⟩)i∈I \phi(x) = (\langle e_i|x \rangle)_{i \in I}
là một đẳng cấu giữa các không gian Hilbert từ E lên ℓ2(I)\ell^2(I). Đẳng cấu nghịch đảo ψ\psi được xác định bởi
ψ((λi)i∈I)=∑i∈Iλiei. \psi((\lambda_i)_{i \in I}) = \sum_{i \in I} \lambda_i e_i .

Mệnh đề 6

Cho E là một không gian tiền Hilbert Hausdorff, và cho (an)n∈I(a_n)_{n \in I} (I là một khoảng của N\mathbf{N} có gốc 1) là một họ đếm được (hữu hạn hoặc không) độc lập các vectơ của E. Tồn tại một họ trực chuẩn (en)n∈I(e_n)_{n \in I}, và chỉ một, trong E, có các tính chất sau:

1) với mọi số nguyên p∈Ip \in I, không gian con vectơ của E do e1,e2,...,epe_1, e_2, ..., e_p sinh ra trùng với không gian con vectơ của E do a1,a2,...,apa_1, a_2, ..., a_p sinh ra; 2) với mọi số nguyên p∈Ip \in I, số ⟨ap∣ep⟩\langle a_p|e_p \rangle là thực và >0> 0.

Thật vậy, cho VnV_n là không gian con (có chiều n) do a1,a2,...,ana_1, a_2, ..., a_n sinh ra. Nếu n+1∈In + 1 \in I và bn+1=an+1−pVn(an+1)b_{n+1} = a_{n+1} - p_{V_n}(a_{n+1}) (trong đó pVnp_{V_n} là phép chiếu trực giao lên không gian con đầy đủ VnV_n), thì đường thẳng Kbn+1K b_{n+1} là phần trực giao của VnV_n trong Vn+1V_{n+1}. Nếu các ene_n thỏa mãn điều kiện 1) của mệnh đề, ta phải có en+1=λbn+1e_{n+1} = \lambda b_{n+1}; điều kiện ∥en+1∥=1\|e_{n+1}\| = 1 khi đó suy ra ∣λ∣2∥bn+1∥2=1|\lambda|^2 \|b_{n+1}\|^2 = 1 và điều kiện ⟨an+1∣en+1⟩>0\langle a_{n+1}|e_{n+1} \rangle > 0 suy ra λ⟨an+1∣bn+1⟩>0\lambda \langle a_{n+1}|b_{n+1} \rangle > 0; điều này xác định hoàn toàn λ\lambda, và ta đã chứng minh rằng ta có thể xác định, bằng quy nạp, một họ trực chuẩn (en)n∈I(e_n)_{n \in I}, và chỉ một, sao cho thỏa mãn các điều kiện 1) và 2) của mệnh đề.

Dãy (en)n∈I(e_n)_{n \in I} được gọi là thu được bằng phép trực chuẩn hóa từ họ độc lập (an)n∈I(a_n)_{n \in I}. Rõ ràng không gian con vectơ do họ (en)(e_n) sinh ra trùng với không gian con vectơ do họ (an)(a_n) sinh ra. Đặc biệt, nếu (an)(a_n) là một dãy toàn phần, thì (en)(e_n) cũng vậy, và khi đó nó là một cơ sở trực chuẩn của E; do đó ta có:

Hệ quả

Trong mọi không gian tiền Hilbert Hausdorff E thỏa mãn tiên đề đếm được thứ nhất, tồn tại một cơ sở trực chuẩn đếm được.

Nếu E thỏa mãn tiên đề đếm được thứ nhất, thì tồn tại một dãy toàn phần trong E, và ta luôn luôn có thể trích ra một họ độc lập toàn phần từ một dãy như vậy (A, II, § 7, No. 1, đl. 2).

Ta có thể nêu các ví dụ về những không gian tiền Hilbert Hausdorff không có cơ sở trực chuẩn nào (V, p. 70, bài tập 2). Ví dụ. — Cho I là khoảng (−1,1)(-1, 1) của R\mathbf{R} và E là không gian vectơ các hàm liên tục nhận giá trị thực trên I. Cho xx ký hiệu đơn ánh chính tắc từ I vào R\mathbf{R}, xét như một phần tử của E. Theo định lý Stone-Weierstrass, dãy (xn)n∈N(x^n)_{n \in \mathbf{N}} là toàn phần trong E đối với tôpô hội tụ đều GT, X, § 4, No. 2). Xét E như một không gian tiền Hilbert Hausdorff thực trong đó tích vô hướng được cho bởi

⟨f∣g⟩=∫−11f(t) g(t) dt. \langle f | g \rangle = \int_{-1}^{1} f(t) \, g(t) \, dt .
Khi đó dãy (xn)n∈N(x^n)_{n \in \mathbf{N}} là toàn phần trong không gian tiền Hilbert E. Cho (Πn)n∈N(\Pi_n)_{n \in \mathbf{N}} là dãy thu được bằng phép trực chuẩn hóa của dãy (xn)n∈N(x^n)_{n \in \mathbf{N}}. Ta có thể chứng minh rằng Πn=(n+12)1/2Pn\Pi_n = (n + \frac{1}{2})^{1/2} P_n, trong đó đa thức Legendre PnP_n được xác định bởi
Pn(x)=12nn!(ddx)n(x2−1)n. P_n(x) = \frac{1}{2^n n!} \left( \frac{d}{dx} \right)^n (x^2 - 1)^n .

Mệnh đề 7

Trong một không gian Hilbert E, hai cơ sở trực chuẩn là tương đương lực lượng.

Let B và C là hai cơ sở trực chuẩn của E. Trường hợp một trong hai tập B, C hữu hạn là tầm thường, vì một cơ sở trực chuẩn hữu hạn là một cơ sở đại số của không gian. Vì vậy giả sử rằng B và C đều vô hạn. Với mọi x∈Bx \in B, gọi CxC_x là tập con của C gồm tất cả các y∈Cy \in C sao cho ⟨x∣y⟩≠0\langle x | y \rangle \neq 0. Tập CxC_x là đếm được (V, p. 21, mệnh đề 4). Với mọi y∈Cy \in C, tồn tại x∈Bx \in B sao cho y∈Cxy \in C_x, vì B là một cơ sở trực chuẩn và y≠0y \neq 0; nói cách khác C là hợp của các tập đếm được CxC_x khi xx chạy trong B. Do đó lực lượng của C nhỏ hơn lực lượng của N×B\mathbf{N} \times B, suy ra nhỏ hơn lực lượng của B (S, III, § 6, No. 3, hệ quả 4); tương tự, lực lượng của B nhỏ hơn lực lượng của C; điều này hoàn tất chứng minh.

Lực lượng của một cơ sở trực chuẩn tùy ý của một không gian Hilbert E được gọi là chiều Hilbert của E.

Hệ quả 1

Cho hai cơ sở trực chuẩn trong một không gian Hilbert E, tồn tại một tự đẳng cấu của E biến cơ sở thứ nhất thành cơ sở thứ hai.

Hệ quả 2

— Để cho các không gian Hilbert ℓ2(I)\ell^2(I) và ℓ2(J)\ell^2(J) đẳng cấu với nhau, điều kiện cần và đủ là I và J là hai tập có cùng lực lượng.

Bài tập

Xem các bài tập cho § 2.

Machine translation of the English, by gpt-5-6, gpt-5.4-mini, gpt-5-6-mini, against glossary version 34. Not checked by a person. That model is a cut down version of the one the rest of this language was written by.