Bourbaki

§ 1. Các định lý tồn tại

1. Khái niệm phương trình vi phân

Cho I là một khoảng được chứa trong R\mathbf{R}, không rút gọn thành một điểm duy nhất, E là một không gian vectơ tôpô trên R\mathbf{R}, và A và B là hai tập con mở của E. Cho (x,y,t)↦g(x,y,t)(x, y, t) \mapsto g(x, y, t) là một ánh xạ liên tục từ A×B×IA \times B \times I vào E; với mọi ánh xạ khả vi u từ I vào A mà đạo hàm nhận giá trị trong B, ta gắn cho nó ánh xạ t↦g(u(t),u′(t),t)t \mapsto g(u(t), u'(t), t) từ I vào E, và ký hiệu ánh xạ này bởi g~(u)\tilde{g}(u); do đó g~\tilde{g} được xác định trên tập D(A,B)\mathscr{D}(A, B) gồm các hàm khả vi từ I vào B mà các đạo hàm của chúng nhận giá trị trong B. Ta sẽ nói rằng phương trình g~(u)=0\tilde{g}(u) = 0 là một phương trình vi phân theo u (đối với biến thực t); một nghiệm của phương trình này cũng được gọi là một nguyên hàm của phương trình vi phân (trên khoảng I); đó là một ánh xạ khả vi từ I vào A, mà đạo hàm nhận giá trị trong B, sao cho g(u(t),u′(t),t)=0g(u(t), u'(t), t) = 0 với mọi t∈It \in I. Theo lối nói lạm dụng, ta sẽ viết phương trình vi phân g~(u)=0\tilde{g}(u) = 0 dưới dạng

g(x,x′,t)=0, g(x, x', t) = 0,

với sự hiểu rằng x thuộc tập D(A,B)\mathscr{D}(A, B).

Ví dụ, với I=E=RI = E = \mathbf{R}, các quan hệ

x′=2t,tx′−2x=0,x′2−4x=0,x−t2=0 x' = 2t, \qquad tx' - 2x = 0, \qquad {x'}^2 - 4x = 0, \qquad x - t^2 = 0

đều là các phương trình vi phân, và cả bốn đều nhận hàm x(t)=t2x(t) = t^2 làm một nghiệm

Trong chương này, về nguyên tắc ta chỉ xét trường hợp E là một không gian định chuẩn đầy đủ trên R\mathbf{R}, và các phương trình vi phân có dạng riêng

x′=f(t,x) x' = f(t, x)

("các phương trình tường minh theo x′x'"), trong đó f ký hiệu một hàm xác định trên I×HI \times H nhận giá trị trong E, và H là một tập con mở khác rỗng của E. Hơn nữa, ta mở rộng đôi chút khái niệm nghiệm (hay nguyên hàm) của một phương trình như vậy (trên khoảng I): ta sẽ nói rằng một hàm u, xác định và liên tục trên I, nhận giá trị trong H, là một nghiệm (hay nguyên hàm) của phương trình (I) nếu tồn tại một tập con đếm được A của I sao cho tại mọi điểm t của phần bù của A trong I, hàm u có một đạo hàm u′(t)u'(t) thỏa mãn u′(t)=f(t,u(t))u'(t) = f(t, u(t)). Nếu uu khả vi và thỏa mãn quan hệ trên tại mọi điểm t∈It \in I thì ta sẽ nói rằng đó là một nghiệm ngặt của phương trình (1) trên I.

Trong trường hợp riêng của một phương trình vi phân dạng x′=f(t)x' = f(t), trong đó ff là một ánh xạ từ I vào E, các nghiệm theo nghĩa trên là các nguyên hàm của hàm ff (II, p. 51), và các nghiệm ngặt là các nguyên hàm ngặt.

Khi E là một tích của các không gian định chuẩn đầy đủ EiE_i (1≤i≤n1 \leq i \leq n), ta có thể viết x=(xi)1≤i≤nx = (x_i)_{1 \leq i \leq n} và f=(fi)1≤i≤nf = (f_i)_{1 \leq i \leq n}, trong đó xix_i là một ánh xạ từ I vào EiE_i và fif_i là một ánh xạ từ I×HI \times H vào EiE_i; khi đó phương trình (1) tương đương với hệ phương trình vi phân

xi′=fi(t,x1,x2,…,xn)(1≤i≤n). x'_i = f_i(t, x_1, x_2, \ldots, x_n) \qquad (1 \leq i \leq n).
(2)

Trường hợp quan trọng nhất là trường hợp các EiE_i bằng R\mathbf{R} hoặc C\mathbf{C}; khi đó người ta nói rằng (2) là một hệ phương trình vi phân vô hướng.

Có thể rút gọn việc nghiên cứu các quan hệ dạng

x(n)=f(t,x,x′,…,x(n−1)) x^{(n)} = f(t, x, x', \ldots, x^{(n-1)})
về việc nghiên cứu hệ (2), trong đó xx là một hàm vectơ khả vi nn lần trên I; thật vậy, khi đặt x1=xx_1 = x, và xp=x(p−1)x_p = x^{(p-1)} với 2≤p≤n2 \leq p \leq n, thì quan hệ (3) tương đương với hệ
{xi′=xi+1(1≤i≤n−1)xn′=f(t,x1,x2,…,xn). \begin{cases} x'_i = x_{i+1} & (1 \leq i \leq n-1) \\ x'_n = f(t, x_1, x_2, \ldots, x_n). \end{cases}
(4)

Một quan hệ dạng (3) được gọi là một phương trình vi phân cấp nn (được giải tường minh theo x(n)x^{(n)}); trái lại, các phương trình dạng (1) được gọi là các phương trình vi phân cấp một.

Tương tự, có thể rút gọn mọi "hệ phương trình vi phân" dạng

Dnixi=fi(t,x1,Dx1,…,Dn1x1,…,xp,Dxp,…,Dnp−1xp) D^{n_i} x_i = f_i(t, x_1, Dx_1, \ldots, D^{n_1} x_1, \ldots, x_p, Dx_p, \ldots, D^{n_p-1} x_p)
(1≤i≤p)(1 \leq i \leq p) về một hệ dạng (2), trong đó xix_i là hàm trên I khả vi nin_i lần trên I (với 1≤i≤p1 \leq i \leq p).

2. Các phương trình vi phân có nghiệm là các nguyên hàm của hàm điều hòa

Nhắc lại (II, p. 54, def. 3) rằng một hàm vectơ uu xác định trên một khoảng I⊂RI \subset \mathbf{R} được gọi là điều hòa nếu nó là giới hạn đều của các hàm bậc thang trên mọi tập con compắc của I; một điều kiện tương đương là tại mọi điểm trong của I, hàm uu có giới hạn bên phải và giới hạn bên trái, và cũng có giới hạn bên phải tại đầu mút trái của I và giới hạn bên trái tại đầu mút phải của I, khi hai điểm này thuộc I (II, p. 54, th. 3). Trong chương này ta sẽ chỉ giới hạn ở các phương trình vi phân (1) mà mọi nghiệm đều là nguyên hàm của một hàm điều hòa trên I. Điều kiện này rõ ràng được thỏa mãn nếu, với mọi ánh xạ liên tục uu từ I vào H, hàm f(t,u(t))f(t, u(t)) là điều hòa trên I; bổ đề sau cho một điều kiện đủ cho điều đó:

Bổ đề 1

Cho ff là một ánh xạ từ I×HI \times H vào EE sao cho, khi viết fxf_x (với mọi x∈Hx \in H) cho ánh xạ t↦f(t,x)t \mapsto f(t, x) từ II vào EE, các điều kiện sau được thỏa mãn: 1° fxf_x là được điều chỉnh trên II với mọi x∈Hx \in H; 2° ánh xạ x↦fxx \mapsto f_x từ HH vào tập hợp F(I,E)\mathscr{F}(I, E) các ánh xạ từ II vào EE là liên tục khi trang bị cho F(I,E)\mathscr{F}(I, E) tôpô hội tụ compact (Gen. Top., X, p. 278). Với các điều kiện này:

1° Với mọi ánh xạ liên tục uu từ II vào HH, hàm t↦f(t,u(t))t \mapsto f(t, u(t)) là được điều chỉnh trên II; chính xác hơn, giới hạn phải (tương ứng, trái) của hàm này tại một điểm t0∈It_0 \in I bằng giới hạn phải (tương ứng, trái) của hàm t↦f(t,u(t0))t \mapsto f(t, u(t_0)) tại điểm t0t_0.

2° Nếu (un)(u_n) là một dãy các ánh xạ từ II vào HH hội tụ đều đến một hàm liên tục uu từ II vào HH trên mọi tập con compact của II, thì dãy các hàm t↦f(t,un(t))t \mapsto f(t, u_n(t)) hội tụ đều đến f(t,u(t))f(t, u(t)) trên mọi tập con compact của II.

1 Gọi cc là giới hạn phải của f(t,u(t0))f(t, u(t_0)) tại điểm t0t_0; với mọi ε>0\varepsilon > 0 tồn tại một lân cận compact VV của t0t_0 trong II sao cho ∥f(t,u(t0))−c∥≤ε\|f(t, u(t_0)) - c\| \leq \varepsilon với t∈Vt \in V và t>t0t > t_0. Mặt khác, tồn tại δ>0\delta > 0 sao cho các hệ thức

x∈H,∥x−u(t0)∥≤δ x \in H, \quad \|x - u(t_0)\| \leq \delta

kéo theo ∥f(s,x)−f(s,u(t0))∥≤ε\|f(s, x) - f(s, u(t_0))\| \leq \varepsilon với mọi s∈Vs \in V; nếu W⊂VW \subset V là một lân cận của t0t_0 trong II sao cho ∥u(t)−u(t0)∥≤δ\|u(t) - u(t_0)\| \leq \delta với mọi t∈Wt \in W, thì ∥f(t,u(t))−c∥≤2ε\|f(t, u(t)) - c\| \leq 2\varepsilon với t∈Wt \in W và t>t0t > t_0, điều đó chứng minh rằng cc là giới hạn phải của f(t,u(t))f(t, u(t)) tại điểm t0t_0.

2 Cho KK là một tập con compact của II; vì uu liên tục trên II, nên u(K)u(K) là một tập con compact của HH; với mọi ε>0\varepsilon > 0 và x∈u(K)x \in u(K) tồn tại một số δx\delta_x sao cho, với mọi y∈H,∥y−x∥≤δxy \in H, \|y - x\| \leq \delta_x và mọi t∈Kt \in K, ta có ∥f(t,y)−f(t,x)∥≤ε\|f(t, y) - f(t, x)\| \leq \varepsilon. Có một số hữu hạn các điểm xi∈u(K)x_i \in u(K) sao cho các quả cầu đóng tâm xix_i và bán kính 12δxi\frac{1}{2}\delta_{x_i} tạo thành một phủ của u(K)u(K); đặt δ=Min⁡(δxi)\delta = \operatorname{Min}(\delta_{x_i}). Theo giả thiết tồn tại một số nguyên n0n_0 sao cho với n≥n0n \geq n_0 ta có ∥un(t)−u(t)∥≤12δ\|u_n(t) - u(t)\| \leq \frac{1}{2}\delta với mọi t∈Kt \in K. Bây giờ, với mọi t∈Kt \in K tồn tại một chỉ số ii sao cho

∥u(t)−xi∥≤12δxi; \|u(t) - x_i\| \leq \frac{1}{2}\delta_{x_i};

do đó ta có ∥un(t)−xi∥≤δx\|u_n(t) - x_i\| \leq \delta_x, suy ra ∥f(t,un(t))−f(t,u(t))∥≤2ε\|f(t, u_n(t)) - f(t, u(t))\| \leq 2\varepsilon với mọi t∈Kt \in K và mọi n≥n0n \geq n_0

Trong phần còn lại của tiết diện này, tôi sẽ ký hiệu bởi II một khoảng được chứa trong R\mathbf{R}, không thu về một điểm duy nhất, bởi HH một tập hợp mở khác rỗng được chứa trong không gian định chuẩn EE, và bởi ff một ánh xạ từ I×HI \times H vào EE thỏa mãn các giả thiết của bổ đề 1.

Mệnh đề 1

Cho t0t_0 là một điểm của II và x0x_0 một điểm của HH; để một hàm liên tục uu là một nghiệm của phương trình (1) trên II và nhận giá trị x0x_0 tại điểm t0t_0, điều kiện cần và đủ là nó thỏa mãn quan hệ

u(t)=x0+∫t0tf(s,u(s)) ds u(t) = x_0 + \int_{t_0}^t f(s, u(s))\, ds

với mọi t∈It \in I.

Thật vậy, theo bổ đề 1, nếu uu là một nghiệm của (1) trên II, thì f(t,u(t))f(t, u(t)) là điều hòa, nên vế phải của (6) được xác định và bằng u(t)u(t) với mọi t∈It \in I. Ngược lại, nếu uu là một hàm liên tục thỏa mãn (6) thì f(t,u(t))f(t, u(t)) là điều hòa, theo bổ đề 1, nên uu có đạo hàm bằng f(t,u(t))f(t, u(t)) trừ tại các điểm của một tập con đếm được của II.

Hệ quả

Tại mọi điểm của I khác với đầu mút trái (tương ứng phải) của khoảng này, mọi nghiệm u của (1) trên I đều có đạo hàm trái (tương ứng phải) bằng giới hạn trái (phải) của f(t,u(t))f(t, u(t)) tại điểm này.

Mệnh đề 2

Nếu f là một ánh xạ liên tục từ I×HI \times H vào E, thì mọi nghiệm của (1) trên I đều là một nghiệm ngặt.

Thật vậy, một nghiệm như vậy uu là một nguyên thủy của hàm liên tục f(t,u(t))f(t, u(t)) (II, p. 66, mệnh đề 3).

Hơn nữa, ta chú ý rằng một hàm liên tục ff trên I×HI \times H thỏa mãn các điều kiện của bổ đề 1 (Gen. Top., X, p. 286, hệ quả 3).

Trong phần tiếp theo ta sẽ chọn tùy ý t0∈It_0 \in I và x0∈Hx_0 \in H và khảo sát xem có tồn tại các nghiệm của (1) trên II (hoặc trên một lân cận của t0t_0 trong II) nhận giá trị x0x_0 tại điểm t0t_0 hay không (hay, điều này cũng tương đương, các nghiệm của (6)).

3. Sự tồn tại của các nghiệm xấp xỉ

Cho một số ε>0\varepsilon > 0; ta sẽ nói rằng một ánh xạ liên tục uu từ II vào HH là một nghiệm xấp xỉ sai số không vượt quá ε\varepsilon của phương trình vi phân

x′=f(t,x) x' = f(t, x)

nếu, tại mọi điểm của phần bù của một tập con đếm được của II, hàm uu có đạo hàm thỏa mãn điều kiện

∥u′(t)−f(t,u(t))∥≤ε. \|u'(t) - f(t, u(t))\| \leq \varepsilon.

Cho (t0,x0)(t_0, x_0) là một điểm của I×HI \times H; vì ff thỏa mãn các giả thiết của bổ đề 1 (IV, p. 165) nên tồn tại một lân cận compact JJ của t0t_0 trong II sao cho f(t,x0)f(t, x_0) bị chặn trên JJ, và một quả cầu mở SS tâm x0x_0 được chứa trong HH, sao cho f(t,x)−f(t,x0)f(t, x) - f(t, x_0) bị chặn trên J×SJ \times S; suy ra f(t,x)f(t, x) bị chặn trên J×SJ \times S. Trong suốt tiểu mục này, J sẽ chỉ một khoảng compact là một lân cận của t0 trong I, S sẽ là một quả cầu mở tâm x_0 và bán kính r được chứa trong H, với J và S được chọn sao cho f bị chặn trên J × S; và M sẽ chỉ cận trên đúng của \|f(t, x)\| trên J × S.*

Mệnh đề 3

Trên mọi khoảng compact có đầu mút trái (hoặc phải) t_0 được chứa trong J, có độ dài nhỏ hơn r/(M + ε), tồn tại một nghiệm xấp xỉ sai số không vượt quá ε của phương trình (1), nhận giá trị trong S, và bằng x_0 tại t_0.

Giả sử rằng t0t_0 không phải là đầu mút phải của J, và chứng minh mệnh đề đối với các khoảng có đầu mút trái là t0t_0. Ký hiệu M\mathscr{M} là tập hợp các nghiệm của (1) sai số không vượt quá ε\varepsilon, mỗi nghiệm đều nhận giá trị trong S, bằng x0x_0 tại t0t_0, và được xác định trên một khoảng nửa mở [t0,b[[t_0, b[ được chứa trong J (khoảng này phụ thuộc vào nghiệm xấp xỉ đang xét). Trước hết ta chứng minh rằng M\mathscr{M} không rỗng. Cho c là giới hạn bên phải của f(t,x0)f(t, x_0) tại t0t_0; theo bổ đề 1 (IV, p. 165), hàm f(t,x0+c(t−t0))f(t, x_0 + c(t - t_0)) có giới hạn bên phải bằng c tại t0t_0, do đó hạn chế của hàm x0+c(t−t0)x_0 + c(t - t_0) lên một khoảng nửa mở đủ nhỏ [t0,b[[t_0, b[ sẽ thuộc M\mathscr{M}.

Ta sắp thứ tự tập hợp M\mathscr{M} theo quan hệ "u là một hạn chế của v", và chứng minh rằng M\mathscr{M} là quy nạp (Lý thuyết Tập hợp, III, p. 154). Cho (uα)(u_\alpha) là một tập con được sắp thứ tự toàn phần của M\mathscr{M} và [t0,bα[[t_0, b_\alpha[ là khoảng trên đó uαu_\alpha được xác định: nếu bα≤bβb_\alpha \leq b_\beta thì hàm uβu_\beta do đó là một mở rộng của uαu_\alpha. Hợp của các khoảng [t0,bα[[t_0, b_\alpha[ là một khoảng [t0,b[[t_0, b[ được chứa trong J, và tồn tại một và chỉ một hàm u xác định trên [t0,b[[t_0, b[ trùng với uαu_\alpha trên [t0,bα[[t_0, b_\alpha[ với mỗi α\alpha; trong các bαb_\alpha có một dãy tăng (bαn)(b_{\alpha_n}) tiến tới b; vì u trùng với uαnu_{\alpha_n} trên [t0,bαn[[t_0, b_{\alpha_n}[, hàm u có một đạo hàm thỏa mãn (7) tại mọi điểm của phần bù của một tập con đếm được của [t0,b[[t_0, b[, và do đó là cận trên đúng của tập (uα)(u_\alpha) trong M\mathscr{M}.

Theo bổ đề Zorn (Lý thuyết Tập hợp, III, p. 154, đl. 2), M\mathscr{M} có một phần tử cực đại u0u_0; ta sẽ chứng minh rằng nếu [t0,t1[[t_0, t_1[ là khoảng trên đó u0u_0 được xác định, thì hoặc t1t_1 là đầu mút phải của J, hoặc t1−t0≥r/(M+ε)t_1 - t_0 \geq r/(M + \varepsilon). Ta lập luận phản chứng, giả sử rằng không điều kiện nào trong hai điều kiện này được thỏa mãn; trước hết ta chứng minh rằng có thể mở rộng u0u_0 bằng tính liên tục tại điểm t1t_1; thật vậy, với mọi s và t trong [t0,t1[[t_0, t_1[,

∥u0(s)−u0(t)∥≤(M+ε)∣s−t∣ \|u_0(s) - u_0(t)\| \leq (M + \varepsilon)|s - t|

theo định lý giá trị trung bình; tiêu chuẩn Cauchy cho thấy u0u_0 có một giới hạn trái x1∈Sx_1 \in S tại điểm t1t_1. Bây giờ gọi c1c_1 là giới hạn phải tại t1t_1 của hàm f(t,x1)f(t, x_1); ta có ∥c1∥≤M\|c_1\| \leq M; cùng lập luận như ở đầu chứng minh cho thấy có thể mở rộng u0u_0 sang một khoảng nửa mở có đầu mút trái là t1t_1 bằng hàm x1+c1(t−t1)x_1 + c_1(t - t_1), sao cho hàm được mở rộng thuộc M\mathscr{M}, điều này là vô lý. Điều đó chứng minh mệnh đề.

Khi f liên tục đều trên J×SJ \times S thì có thể chứng minh mđ. 3 mà không dùng bổ đề Zorn (IV, p. 199, bt. 1a)).

Mệnh đề 4

Tập hợp các nghiệm gần đúng của (1) đến ε\varepsilon, được xác định trên cùng một khoảng K⊂JK \subset J và nhận giá trị trong S, là đồng liên tục đều.

Thật vậy, nếu u là một hàm bất kỳ trong tập hợp này và s và t là hai điểm của K, thì theo định lý giá trị trung bình

∥u(s)−u(t)∥≤(M+ε)∣s−t∣. \|u(s) - u(t)\| \leq (M + \varepsilon)|s - t|.

Hệ quả (định lý Peano)

Nếu E có số chiều hữu hạn trên R\mathbf{R} thì tồn tại một nghiệm của (1) nhận giá trị trong S và bằng x0x_0 tại t0t_0, trên mọi khoảng compact K có đầu mút trái (hoặc phải) là t0t_0, được chứa trong J và có độ dài <r/M< r/M.

Thật vậy, theo mệnh đề 3, một khi nn đủ lớn thì tồn tại một nghiệm gần đúng unu_n của (1) chính xác đến 1/n1/n, được xác định trên KK, nhận giá trị trong SS, và bằng x0x_0 tại t0t_0. Hơn nữa, kể từ một giá trị nào đó của nn trở đi, un(K)u_n(K) được chứa trong một quả cầu đóng có tâm x0x_0 và bán kính <r< r, không phụ thuộc vào nn. Họ các unu_n là đồng liên tục (mệnh đề 4), và vì EE là hữu hạn chiều nên tập SS là compact tương đối trong EE; do đó với mọi t∈Kt \in K tập các un(t)u_n(t) là compact tương đối trong EE. Theo định lý Ascoli (Gen. Top., X, p. 290, định lý 2), họ các unu_n là compact tương đối trong không gian F(K;E)\mathscr{F}(K; E) các ánh xạ từ KK vào EE được trang bị chuẩn đều. Vì thế tồn tại một dãy trích từ (unk)(u_{n_k}) của (un)(u_n) hội tụ đều trên KK tới một hàm liên tục uu. Ta có u(K)⊂Su(K) \subset S, nên t↦f(t,u(t))t \mapsto f(t, u(t)) được xác định trên KK; theo bổ đề 1 (IV, p. 165), f(t,unk(t))f(t, u_{n_k}(t)) hội tụ đều tới f(t,u(t))f(t, u(t)) trên KK; theo (IV, p. 4, công thức (7)), unku_{n_k} là một nguyên hàm của một hàm hội tụ đều tới f(t,u(t))f(t, u(t)) trên KK, nên (II, p. 52, định lý 1) uu là một nghiệm của (1) trên KK, và bằng x0x_0 tại điểm t0t_0.

Nhận xét 1

Có thể có vô hạn nhiều tích phân của một phương trình vi phân (1) cùng nhận một giá trị tại một điểm cho trước. Chẳng hạn, phương trình vi phân vô hướng x′=2∣x∣x' = 2\sqrt{|x|} có mọi hàm được xác định bởi

u(t)=0khi −β≤t≤αu(t)=−(t+β)2khi t≤−βu(t)=(t−α)2khi t≥α \begin{array}{ll} u(t) = 0 & \text{khi } -\beta \leq t \leq \alpha \\ u(t) = -(t + \beta)^2 & \text{khi } t \leq -\beta \\ u(t) = (t - \alpha)^2 & \text{khi } t \geq \alpha \end{array}

làm tích phân nhận giá trị 0 tại điểm t=0t = 0, với mọi số dương α\alpha và β\beta.

Nhận xét 2

Định lý Peano không còn đúng nữa khi EE là một không gian chuẩn đầy đủ tùy ý có chiều vô hạn (IV, p. 204, bài tập 18).

4. So sánh các nghiệm gần đúng

Trong phần sau, I và HH lần lượt ký hiệu, như trên, một khoảng được chứa trong R\mathbf{R} và một tập mở trong không gian chuẩn EE; t0t_0 là một điểm của I.

Định nghĩa 1

Cho một hàm thực dương* t↦k(t)t \mapsto k(t) xác định trên II, người ta nói rằng một ánh xạ ff từ I×HI \times H vào EE là Lipschitz đối với hàm k(t)k(t) nếu, với mọi x∈Hx \in H, hàm t↦f(t,x)t \mapsto f(t, x) được điều chỉnh trên II, và nếu, với mọi t∈It \in I và mọi cặp điểm x1,x2x_1, x_2 của HH, *ta có ("điều kiện Lipschitz")

∥f(t,x1)−f(t,x2)∥≤k(t)∥x1−x2∥. \| f(t, x_1) - f(t, x_2) \| \leq k(t) \| x_1 - x_2 \|.

(8)

Ta sẽ nói rằng ff là Lipschitz (mà không nói rõ hơn) trên I×HI \times H nếu nó là Lipschitz trên tập này đối với một hằng k≥0k \geq 0 nào đó. Ngay lập tức thấy rằng một hàm Lipschitz trên I×HI \times H thỏa mãn các giả thiết của bổ đề 1 của IV, p. 165 (mệnh đề đảo lại là sai); khi ff là Lipschitz (trên I×HI \times H) người ta nói rằng phương trình vi phân

x′=f(t,x) x' = f(t, x)

(1)

là Lipschitz (trên I×HI \times H).

Ví dụ

Khi E=RE = \mathbf{R} và HH là một khoảng trong R\mathbf{R}, nếu hàm f(t,x)f(t, x) thừa nhận một đạo hàm riêng fx′f'_x (II, p. 74) tại mọi điểm (t,x)(t, x) của I×HI \times H, sao cho ∣fx′(t,x)∣≤k(t)|f'_x(t, x)| \leq k(t) trên I×HI \times H, thì điều kiện (8) được thỏa mãn, theo định lý giá trị trung bình; về sau ta sẽ thấy ví dụ này tổng quát hóa như thế nào sang trường hợp EE là một không gian định chuẩn tùy ý.

Nếu ff là Lipschitz trên I×HI \times H thì ff bị chặn trên J×SJ \times S với mọi khoảng con compắc J⊂IJ \subset I và mọi quả cầu mở S⊂HS \subset H. Vì thế mệnh đề 3 (IV, p. 166) có thể được áp dụng, và chứng minh sự tồn tại của các nghiệm gần đúng của phương trình (1). Nhưng ta còn có mệnh đề sau đây, cho phép ta so sánh hai nghiệm gần đúng:

Mệnh đề 5

Cho k(t)k(t) là một hàm thực được điều chỉnh và >0> 0 trên II, và cho f(t,x)f(t, x) là một hàm được xác định và Lipschitz đối với k(t)k(t) trên I×HI \times H. Nếu uu và vv là hai nghiệm gần đúng của (1), lần lượt chính xác đến ε1\varepsilon_1 và ε2\varepsilon_2, được xác định trên II với giá trị trong HH, thì, với mọi t∈It \in I sao cho t≥t0t \geq t_0,

∥u(t)−v(t)∥≤∥u(t0)−v(t0)∥Φ(t)+(ε1+ε2)Ψ(t) \|u(t) - v(t)\| \leq \|u(t_0) - v(t_0)\| \Phi(t) + (\varepsilon_1 + \varepsilon_2)\Psi(t)

trong đó

{Φ(t)=1+∫t0tk(s)exp⁡(∫stk(τ)dτ)dsΨ(t)=t−t0+∫t0t(s−t0)k(s)exp⁡(∫stk(τ)dτ)ds. \begin{cases} \Phi(t) = 1 + \int_{t_0}^t k(s) \exp \left( \int_s^t k(\tau) d\tau \right) ds \\ \Psi(t) = t - t_0 + \int_{t_0}^t (s - t_0)k(s) \exp \left( \int_s^t k(\tau) d\tau \right) ds. \end{cases}

Từ quan hệ ∥u′(t)−f(t,u(t))∥≤ε1\|u'(t) - f(t, u(t))\| \leq \varepsilon_1, đúng trên phần bù của một tập đếm được, theo định lý giá trị trung bình suy ra rằng

∥u(t)−u(t0)−∫t0tf(s,u(s)) ds∥≤ε1(t−t0) \left\| u(t) - u(t_0) - \int_{t_0}^t f(s, u(s))\, ds \right\| \leq \varepsilon_1 (t - t_0)

và tương tự

∥v(t)−v(t0)−∫t0tf(s,v(s)) ds∥≤ε2(t−t0) \left\| v(t) - v(t_0) - \int_{t_0}^t f(s, v(s))\, ds \right\| \leq \varepsilon_2 (t - t_0)

do đó

∥u(t)−v(t)∥≤∥u(t0)−v(t0)∥ \|u(t) - v(t)\| \leq \|u(t_0) - v(t_0)\|
+∥∫t0t(f(s,u(s))−f(s,v(s))) ds∥+(ε1+ε2)(t−t0). + \left\| \int_{t_0}^t (f(s, u(s)) - f(s, v(s)))\, ds \right\| + (\varepsilon_1 + \varepsilon_2)(t - t_0).

Theo điều kiện Lipschitz (8) ta có

∥∫t0t(f(s,u(s))−f(s,v(s))) ds∥≤∫t0t∥f(s,u(s))−f(s,v(s))∥ ds \left\| \int_{t_0}^t (f(s, u(s)) - f(s, v(s)))\, ds \right\| \leq \int_{t_0}^t \|f(s, u(s)) - f(s, v(s))\|\, ds
≤∫t0tk(s)∥u(s)−v(s)∥ ds \leq \int_{t_0}^t k(s) \|u(s) - v(s)\|\, ds

do đó, đặt w(t)=∥u(t)−v(t)∥w(t) = \|u(t) - v(t)\|,

w(t)≤w(t0)+(ε1+ε2)(t−t0)+∫t0tk(s)w(s) ds. w(t) \leq w(t_0) + (\varepsilon_1 + \varepsilon_2)(t - t_0) + \int_{t_0}^t k(s)w(s)\, ds.

Mệnh đề do đó là một hệ quả của bổ đề sau:

Bổ đề 2

Nếu w là một hàm thực liên tục trên khoảng [t_0, t_1] và thỏa mãn bất đẳng thức

w(t)≤φ(t)+∫t0tk(s)w(s) ds w(t) \leq \varphi(t) + \int_{t_0}^{t} k(s) w(s) \, ds
(12)

trong đó φ\varphi là một hàm điều chỉnh ≥0\geq 0 trên [t0,t1][t_0, t_1], thì, với t0≤t≤t1t_0 \leq t \leq t_1,

w(t)≤φ(t)+∫t0tφ(s)k(s)exp⁡(∫stk(τ) dτ) ds. w(t) \leq \varphi(t) + \int_{t_0}^{t} \varphi(s) k(s) \exp \left( \int_s^t k(\tau) \, d\tau \right) \, ds.
(13)

Đặt y(t)=∫t0tk(s)w(s) dsy(t) = \int_{t_0}^t k(s) w(s) \, ds; quan hệ (12) kéo theo rằng

y′(t)−k(t)y(t)≤φ(t)k(t) y'(t) - k(t) y(t) \leq \varphi(t) k(t)
(14)

trên phần bù của một tập đếm được.

Đặt z(t)=y(t)exp⁡(−∫t0tk(s) ds)z(t) = y(t) \exp \left( - \int_{t_0}^t k(s) \, ds \right); khi đó (14) tương đương với

z′(t)≤φ(t)k(t)exp⁡(−∫t0tk(s) ds). z'(t) \leq \varphi(t) k(t) \exp \left( - \int_{t_0}^t k(s) \, ds \right).

Khi áp dụng định lý giá trị trung bình (I, p. 15, định lý 2) cho bất đẳng thức này, và nhận thấy rằng z(t0)=0z(t_0) = 0, ta thu được

z(t)≤∫t0tφ(s)k(s)exp⁡(−∫t0sk(τ) dτ) ds z(t) \leq \int_{t_0}^t \varphi(s) k(s) \exp \left( - \int_{t_0}^s k(\tau) \, d\tau \right) \, ds

do đó

y(t)≤∫t0tφ(s)k(s)exp⁡(∫stk(τ) dτ) ds y(t) \leq \int_{t_0}^t \varphi(s) k(s) \exp \left( \int_s^t k(\tau) \, d\tau \right) \, ds

và vì w(t)≤φ(t)+y(t)w(t) \leq \varphi(t) + y(t) nên do đó ta thu được (13).

Hệ quả

Cho f\mathbf{f} là một hàm Lipschitz với hằng k>0k > 0, xác định trên I×H\mathbf{I} \times \mathbf{H}. Nếu u\mathbf{u} và v\mathbf{v} là hai nghiệm xấp xỉ của (1) với sai số không vượt quá ε1\varepsilon_1 và ε2\varepsilon_2, tương ứng, xác định trên I\mathbf{I} và nhận giá trị trong H\mathbf{H}, thì, với mọi t∈It \in \mathbf{I},

∥u(t)−v(t)∥≤∥u(t0)−v(t0)∥ek∣t−t0∣+(ε1+ε2)ek∣t−t0∣−1k. \| \mathbf{u}(t) - \mathbf{v}(t) \| \leq \| \mathbf{u}(t_0) - \mathbf{v}(t_0) \| e^{k |t - t_0|} + (\varepsilon_1 + \varepsilon_2) \frac{e^{k |t - t_0|} - 1}{k}.
(15)

Bất đẳng thức này thực ra là một hệ quả ngay lập tức của (9) khi t≥t0t \geq t_0; để chứng minh nó với t≤t0t \leq t_0 chỉ cần áp dụng nó cho phương trình

dxds=−f(−s,x) \frac{d \mathbf{x}}{ds} = -\mathbf{f}(-s, \mathbf{x})

thu được từ (1) bằng phép thay đổi biến t=−st = -s.

Nhận xét 1

Khi k=0k = 0 thì bất đẳng thức (15) được thay bằng bất đẳng thức

∥u(t)−v(t)∥≤∥u(t0)−v(t0)∥+(ε1+ε2)∣t−t0∣ \| \mathbf{u}(t) - \mathbf{v}(t) \| \leq \| \mathbf{u}(t_0) - \mathbf{v}(t_0) \| + (\varepsilon_1 + \varepsilon_2) |t - t_0|
mà chứng minh là ngay lập tức.

Nhận xét 2

Khi E có số chiều hữu hạn, và f\mathbf{f} là Lipschitz trên I×HI \times H, người ta có thể chứng minh sự tồn tại của các nghiệm xấp xỉ của (1) (IV, p. 166, mệnh đề 3) mà không dùng tiên đề lựa chọn (IV, p. 199, bài tập 1 b)).

Mệnh đề 6

Cho f\mathbf{f} và g\mathbf{g} là hai hàm xác định trên I×HI \times H, thỏa mãn các giả thiết của bổ đề 1 ở IV, p. 165, và sao cho, trên I×HI \times H,

∥f(t,x)−g(t,x)∥≤α. \| \mathbf{f}(t, \mathbf{x}) - \mathbf{g}(t, \mathbf{x}) \| \leq \alpha.
(16)

Giả sử thêm rằng g\mathbf{g} là Lipschitz với hằng k>0k > 0 trên I×HI \times H. Trong những điều kiện đó, nếu u\mathbf{u} là một nghiệm xấp xỉ của x′=f(t,x)\mathbf{x}' = \mathbf{f}(t, \mathbf{x}) với sai số không vượt quá ε1\varepsilon_1, xác định trên II, nhận giá trị trong HH, và v\mathbf{v} là một nghiệm xấp xỉ của x′=g(t,x)\mathbf{x}' = \mathbf{g}(t, \mathbf{x}) với sai số không vượt quá ε2\varepsilon_2, xác định trên II, nhận giá trị trong HH, thì, với mọi t∈It \in I

∥u(t)−v(t)∥≤∥u(t0)−v(t0)∥ek∣t−t0∣+(α+ε1+ε2)ek∣t−t0∣−1k. \| \mathbf{u}(t) - \mathbf{v}(t) \| \leq \| \mathbf{u}(t_0) - \mathbf{v}(t_0) \| e^{k|t-t_0|} + (\alpha + \varepsilon_1 + \varepsilon_2) \frac{e^{k|t-t_0|} - 1}{k}.
(17)

Thật vậy

∥u′(t)−g(t,u(t))∥≤α+ε1 \left\| \mathbf{u}'(t) - \mathbf{g}(t, \mathbf{u}(t)) \right\| \leq \alpha + \varepsilon_1
với mọi tt thuộc phần bù trong II của một tập con đếm được của II; nói cách khác, u\mathbf{u} là một nghiệm gần đúng của x′=g(t,x)\mathbf{x}' = \mathbf{g}(t, \mathbf{x}) sai khác không quá α+ε1\alpha + \varepsilon_1, nên bất đẳng thức (17) suy ra bằng cách áp dụng mệnh đề 5 của IV, p. 169.

5. Sự tồn tại và tính duy nhất của nghiệm của các phương trình lipschitz và lipschitz địa phương

Định lý 1 (Cauchy)

Cho f\mathbf{f} là một hàm Lipschitz trên I×HI \times H, J là một khoảng con compact của II, không rút gọn thành một điểm, t0t_0 là một điểm của J, S là một quả cầu mở tâm x0\mathbf{x}_0 bán kính r, được chứa trong H, và M là cận trên bé nhất của ∥f(t,x)∥\| \mathbf{f}(t, \mathbf{x}) \| trên J×SJ \times S. Trong các điều kiện ấy, với mọi khoảng compact K không rút gọn thành một điểm, được chứa trong giao của J với ]t0−r/M,t0+r/M[]t_0 - r/M, t_0 + r/M[, và chứa t0t_0, tồn tại một và chỉ một nghiệm của phương trình vi phân x′=f(t,x)\mathbf{x}' = \mathbf{f}(t, \mathbf{x}) được xác định trên K, nhận giá trị trong S, và bằng x0\mathbf{x}_0 tại điểm t0t_0.

Thật vậy, với ε>0\varepsilon > 0 đủ nhỏ, tập FεF_\varepsilon các nghiệm gần đúng của (1) sai khác không quá ε\varepsilon, được xác định trên K, nhận giá trị trong S, và bằng x0\mathbf{x}_0 tại điểm t0t_0, là khác rỗng (IV, p. 166, mệnh đề 3); hơn nữa, nếu u\mathbf{u} và v\mathbf{v} thuộc FεF_\varepsilon thì, theo (15) (IV. p. 170)

∥u(t)−v(t)∥≤2εek∣t−t0∣−1k \| \mathbf{u}(t) - \mathbf{v}(t) \| \leq 2\varepsilon \frac{e^{k|t-t_0|} - 1}{k}

với mọi t∈Kt \in K, nên các tập hợp FεF_\varepsilon tạo thành một cơ sở lọc G\mathscr{G} hội tụ đều trên KK tới một hàm liên tục ww, bằng x0x_0 tại t0t_0; hơn nữa ww nhận giá trị trong SS, vì, với ε\varepsilon đủ nhỏ, các hàm u∈Fεu \in F_\varepsilon nhận giá trị trong một quả cầu đóng được chứa trong SS. Vì f(t,u(t))f(t, u(t)) hội tụ đều trên KK tới f(t,w(t))f(t, w(t)) theo G\mathscr{G}, ww thỏa mãn phương trình (6) của IV, p. 165, nên là một nghiệm của (1). Tính duy nhất của nghiệm suy ra ngay lập tức từ bất đẳng thức (15) của IV, p. 170 khi lấy ε1=ε2=0\varepsilon_1 = \varepsilon_2 = 0 và u(t0)=v(t0)u(t_0) = v(t_0).

Ta sẽ nói rằng một hàm ff xác định trên I×HI \times H là Lipschitz địa phương nếu, với mọi điểm (t,x)(t, x) của I×HI \times H, tồn tại một lân cận VV của tt (đối với II) và một lân cận SS của xx sao cho ff là Lipschitz trên V×SV \times S (với một hằng số kk phụ thuộc vào VV và SS). Theo định lý Borel-Lebesgue, với mọi đoạn compact J⊂IJ \subset I và mọi điểm x0∈Hx_0 \in H tồn tại một quả cầu mở SS có tâm x0x_0, được chứa trong HH, sao cho ff là Lipschitz trên J×SJ \times S; do đó ff thỏa mãn các giả thiết của bổ đề 1 của IV, p. 3. Khi ff là Lipschitz địa phương trên I×HI \times H ta sẽ nói rằng phương trình x′=f(t,x)x' = f(t, x) là Lipschitz địa phương trên I×HI \times H.

Ta sẽ tổng quát hóa và làm sáng tỏ đl. 1 của IV, p. 10 đối với các phương trình Lipschitz địa phương; ta chỉ xét trường hợp t0t_0 là đầu mút trái của khoảng II; người ta dễ dàng chuyển sang trường hợp t0t_0 là một điểm tùy ý của II (x. IV, §IV ??, p. 9, hệ quả).

Định lý 2

Cho I⊂RI \subset \mathbf{R} là một khoảng (không thu về một điểm duy nhất) có đầu mút trái là t0∈It_0 \in I, cho HH là một tập hợp mở khác rỗng trong EE, và ff là một hàm Lipschitz địa phương trên I×HI \times H.

1∘1^\circ Với x0∈Hx_0 \in H tồn tại một khoảng lớn nhất J⊂IJ \subset I, có đầu mút trái là t0∈Jt_0 \in J, trên đó tồn tại một nghiệm uu của phương trình x′=f(t,x)x' = f(t, x) nhận giá trị trong HH và bằng x0x_0 tại điểm t0t_0; nghiệm này là duy nhất.

2∘2^\circ Nếu J≠IJ \neq I thì JJ là một khoảng nửa mở [t0,β[[t_0, \beta[ có độ dài hữu hạn; hơn nữa, với mọi tập con compact K⊂HK \subset H, tập u‾(K)\overline{u}(K) là một tập con compact của R\mathbf{R}.

3∘3^\circ Nếu JJ bị chặn, và nếu f(t,u(t))f(t, u(t)) bị chặn trên JJ, thì u(t)u(t) có một giới hạn trái cc tại đầu mút phải của JJ; hơn nữa, nếu J≠IJ \neq I thì cc là một điểm biên của HH trong EE.

1∘1^\circ Gọi M\mathfrak{M} là tập hợp các khoảng LL (không thu về một điểm duy nhất) có đầu mút trái t0∈Lt_0 \in L, được chứa trong II, và sao cho trên LL có một nghiệm của (1) (IV, p. 163) nhận giá trị trong HH và bằng x0x_0 tại t0t_0; theo đl. 1 (IV, p. 171), tập hợp M\mathfrak{M} là không rỗng. Cho LL và L′L' là hai khoảng thuộc M\mathfrak{M}, và giả sử, chẳng hạn, rằng L⊂L′L \subset L'; nếu uu và vv là hai nghiệm của (1) được xác định tương ứng trên LL và L′L', nhận giá trị trong HH, và bằng x0x_0 tại t0t_0, thì ta sẽ thấy rằng vv là một mở rộng của uu. Thật vậy, gọi t1t_1 là cận trên đúng của tập hợp các t∈Lt \in L sao cho u(s)=v(s)u(s) = v(s) với t0≤s≤tt_0 \leq s \leq t; ta sẽ chứng minh rằng t1t_1 là đầu mút phải của LL. Nếu không phải như vậy, ta sẽ có u(t1)=v(t1)u(t_1) = v(t_1) theo tính liên tục, và x1=u(t1)x_1 = u(t_1) sẽ thuộc HH; vì ff địa phương Lipschitz, đl. 1 cho thấy chỉ có thể tồn tại một nghiệm duy nhất của (1) được xác định trên một lân cận của t1t_1, nhận giá trị trong HH và bằng x1x_1 tại t1t_1; do đó mâu thuẫn nếu giả sử rằng t1t_1 không phải là đầu mút phải của LL. Bây giờ ta thấy rằng nếu JJ là hợp của các khoảng L∈ML \in \mathfrak{M} thì tồn tại một và chỉ một nghiệm uu của (1), được xác định trên JJ, nhận giá trị trong HH và bằng x0x_0 tại t0t_0.

2) Giả sử rằng J ≠ I và gọi β là đầu mút phải của J; nếu β là đầu mút phải của I thì β ∈ I (do đó β là hữu hạn) và J = [t_0, β[ theo giả thiết. Vậy giả sử rằng β không phải là đầu mút phải của I; nếu β ∈ J thì u(β) = c thuộc H; theo đl. 1 tồn tại một nghiệm của (1) nhận giá trị trong H, được xác định trên một khoảng

[β,β1[⊂I [\beta, \beta_1[ \subset I

và bằng c tại β; khi đó J sẽ không phải là lớn nhất trong các khoảng của M\mathfrak{M}, điều đó là vô lý; do đó J = [t_0, β[.

Nếu K là một tập con compact của H thì uˉ−1(K)\bar{u}^{-1}(K) đóng trong J; ta sẽ thấy rằng tồn tại một γ ∈ J sao cho uˉ−1(K)\bar{u}^{-1}(K) được chứa trong [t_0, γ ], điều đó sẽ chứng minh rằng uˉ−1(K)\bar{u}^{-1}(K) là compact. Nếu không, sẽ tồn tại một điểm c ∈ K sao cho (β, c) là một điểm tụ của tập các điểm (t, u(t)) sao cho t < β và u(t) ∈ K. Vì β ∈ I và c ∈ H nên tồn tại một lân cận V của β trong I, và một quả cầu mở S tâm c bán kính r chứa trong H, sao cho f là Lipschitz và bị chặn trên V × S; gọi M là cận trên đúng của ∥f(t,x)∥\|f(t, x)\| trên tập này. Theo giả thiết, tồn tại một t_1 ∈ J sao cho β−t1<r/2M\beta - t_1 < r/2M, t1∈Vt_1 \in V và ∥u(t1)−c∥≤r/2\|u(t_1) - c\| \leq r/2; đ.l. 1 cho thấy rằng tồn tại một và chỉ một nghiệm của (1), nhận giá trị trong H, xác định trên một khoảng [t_1, t_2] chứa β, và bằng u(t_1) tại t_1; vì nghiệm này trùng với u trên khoảng [t_1, β[ nên suy ra J = [t_0, β[ không phải là khoảng lớn nhất trong M\mathfrak{M}, điều này vô lý.

3 Giả sử rằng J bị chặn và ∥f(t,u(t))∥≤M\|f(t, u(t))\| \leq M trên J; khi đó ∥u′(t)∥≤M\|u'(t)\| \leq M trên phần bù của một tập con đếm được của J; do đó, theo định lý giá trị trung bình, ∥u(s)−u(t)∥≤M∣s−t∣\|u(s) - u(t)\| \leq M |s - t| với mọi s và t trong J; theo tiêu chuẩn Cauchy, u có giới hạn bên trái c tại đầu mút phải β của J. Nếu J ≠ I thì c không thể thuộc H, vì khi kéo dài u bằng tính liên tục tại β, u sẽ là một nghiệm của (1) nhận giá trị trong H, xác định trên một khoảng [t_0, β] và bằng x_0 tại t_0; khi đó sẽ có J = [t_0, β], trái với điều ta đã thấy ở 2 .

Hệ quả 1

Nếu H = E và J ≠ I thì f(t, u(t)) không bị chặn trên J; hơn nữa, nếu E hữu hạn chiều thì ∥u(t)∥\|u(t)\| có giới hạn bên trái +∞+\infty tại đầu mút phải của J.

Phần thứ nhất là một hệ quả ngay lập tức của phần thứ ba của đ.l. 2 Nếu E hữu hạn chiều thì mọi quả cầu đóng S ⊂ E đều compact, nên phần thứ hai của đ.l. 2 cho thấy rằng tồn tại một γ ∈ J sao cho u(t) ∉ S với t > γ.

Nếu E hữu hạn chiều thì có thể xảy ra J ≠ I nhưng ∥u(t)∥\|u(t)\| vẫn bị chặn khi t tiến tới đầu mút phải của J (IV, p. 200, exerc. 5).

Hệ quả 2

Nếu, trên I × H, hàm f là Lipschitz đối với một hàm regulated k(t), và nếu đầu mút phải β của J thuộc I, thì u có một giới hạn bên trái tại β; nếu H = E và nếu f là Lipschitz đối với một hàm regulated k(t) trên I × E, thì J = I.

Thật vậy, nếu β ∈ I thì tồn tại một lân cận compact V của β trong I, sao cho f(t, x_0) và k(t) bị chặn trên V; khi đó ∥f(t,x)∥≤m∥x∥+h\|f(t, x)\| \leq m \|x\| + h (m và h hằng) trên V×HV \times H, do đó ∥u′(t)∥≤m∥u(t)∥+h\|u'(t)\| \leq m \|u(t)\| + h trên phần bù của một tập con đếm được của V∩JV \cap J, nên ∥u(t)∥≤m∫t0t∥u(s)∥ ds+q\|u(t)\| \leq m \int_{t_0}^t \|u(s)\|\ ds + q (qq hằng) trên V∩JV \cap J; bổ đề 2 (IV, p. 170) cho thấy rằng ∥u(t)∥≤c emt+d\|u(t)\| \leq c\ e^{mt} + d (cc và dd hằng) trên V∩JV \cap J, và do đó f(t,u(t))f(t, u(t)) vẫn bị chặn trên JJ, và hệ quả suy ra từ đ.l. 2 của IV, p. 172.

Ví dụ 1

Đối với một phương trình vi phân dạng x′=g(t)x' = g(t), trong đó gg là regulated trên II, mọi nghiệm uu hiển nhiên đều được xác định trên toàn bộ II. Cần chú ý rằng uu có thể bị chặn trên II mà g(t)g(t) thì không.

Ví dụ 2

Đối với phương trình vô hướng x′=1−x2x' = \sqrt{1 - x^2} ta có I=R, H=]−1,+1[I = \mathbf{R},\ H = ] - 1, +1[. Nếu lấy t0=x0=0t_0 = x_0 = 0 thì nghiệm tương ứng là sin⁡t\sin t trên khoảng lớn nhất chứa 0 mà ở đó đạo hàm của sin⁡t\sin t là dương, nghĩa là trên ]−π/2,+π/2[] - \pi/2, +\pi/2[; tại các đầu mút của khoảng này, nghiệm tiến tới một đầu mút của HH.

Ví dụ 3

Đối với phương trình vô hướng x′=1+x2x' = 1 + x^2 ta có I=H=RI = H = \mathbf{R}: nghiệm triệt tiêu tại t=0t = 0 là tan⁡t\tan t, và khoảng lớn nhất chứa 0 mà trên đó hàm này liên tục là J=]−π/2,+π/2[J = ] - \pi/2, +\pi/2[; và ∣tan⁡t∣|\tan t| tiến tới +∞+\infty tại các đầu mút của JJ (xem IV, p. 173, hệ quả 1).

Ví dụ 4

Đối với phương trình vô hướng x′=sin⁡txx' = \sin tx ta có I=H=RI = H = \mathbf{R} và vế phải bị chặn trên I×HI \times H, nên theo (IV, p. 173, hệ quả 1) mọi nghiệm đều được xác định trên toàn bộ R\mathbf{R}.

6. Tính liên tục của các nghiệm như những hàm của một tham số

Mệnh đề 6 (IV, p. 171) cho thấy rằng khi một phương trình vi phân

x′=f(t,x) x' = f(t, x)

"gần" với một phương trình Lipschitz x′=g(t,x)x' = g(t, x) và khi ta giả sử rằng cả hai phương trình đều có một nghiệm gần đúng trên cùng một khoảng, thì các nghiệm gần đúng này là "gần" nhau; ta sẽ làm sáng tỏ kết quả này bằng cách chỉ ra rằng sự tồn tại của các nghiệm của phương trình Lipschitz x′=g(t,x)x' = g(t, x) trên một khoảng suy ra sự tồn tại của các nghiệm gần đúng của x′=f(t,x)x' = f(t, x) trên cùng khoảng đó, miễn là trên khoảng sau, các giá trị của nghiệm của x′=g(t,x)x' = g(t, x) không "quá gần" với biên của HH.

Mệnh đề 7

Cho ff và gg là hai hàm số xác định trên I×HI \times H, thỏa mãn các giả thiết của bổ đề 1 của IV. p. 165, và sao cho, trên I×HI \times H

∥f(t,x)−g(t,x)∥≤α. \|f(t, x) - g(t, x)\| \leq \alpha .
(16)

Giả sử thêm rằng gg là Lipschitz đối với một hằng số k>0k > 0 trên I×HI \times H và rằng ff là Lipschitz địa phương trên I×HI \times H, hoặc rằng EE là hữu hạn chiều. Cho (t0,x0)(t_0, x_0) là một điểm của I×HI \times H, μ\mu một số >0> 0, và

φ(t)=μ ek(t−t0)+α ek(t−t0)−1k. \varphi(t) = \mu\ e^{k(t-t_0)} + \alpha\ \frac{e^{k(t-t_0)} - 1}{k} .

Cho uu là một nghiệm của phương trình x′=g(t,x)x' = g(t, x) xác định trên một khoảng K=[t0,b[K = [t_0, b[ được chứa trong II, bằng x0x_0 tại điểm t0t_0, và sao cho với mọi t∈Kt \in K quả cầu đóng tâm u(t)u(t) và bán kính φ(t)\varphi(t) được chứa trong HH. Trong các điều kiện ấy, với mọi y∈Hy \in H sao cho ∥y−x0∥≤μ\|y - x_0\| \leq \mu tồn tại một nghiệm vv của x′=f(t,x)x' = f(t, x), xác định trên KK, nhận giá trị trong HH, và bằng yy tại điểm t0t_0; hơn nữa, ∥u(t)−v(t)∥≤φ(t)\|u(t) - v(t)\| \leq \varphi(t) trên KK.

Gọi M\mathscr{M} là họ các nghiệm của x′=f(t,x)x' = f(t, x) mà mỗi nghiệm nhận giá trị trong HH, bằng yy tại t0t_0, và được xác định trên một khoảng nửa mở [t0,τ[[t_0, \tau[ được chứa trong II (phụ thuộc vào khoảng đang xét). Theo định lý 1 của IV, p. 171 (khi ff là Lipschitz địa phương) hoặc hệ quả của IV, p. 167 (khi EE là hữu hạn chiều), M\mathscr{M} không rỗng, và cùng một lập luận như trong mệnh đề 3 của IV, p. 166 cho thấy rằng M\mathscr{M} là quy nạp đối với thứ tự "v là một hạn chế của w". Cho v0v_0 là một phần tử cực đại của M\mathscr{M} và [t0,t1[[t_0, t_1[ là khoảng xác định của v0v_0; theo mệnh đề 6 của IV, p. 171, tất cả quy về việc chứng minh rằng t1≥bt_1 \geq b. Nếu không, ta sẽ có

∥u(t)−v0(t)∥≤φ(t) \| u(t) - v_0(t) \| \leq \varphi(t)

trên khoảng [t0,t1[[t_0, t_1[ theo mệnh đề 6; bây giờ trên khoảng compact [t0,t1][t_0, t_1] hàm điều chỉnh g(t,u(t))g(t, u(t)) bị chặn, do đó hàm g(t,v0(t))g(t, v_0(t)) bị chặn trên khoảng [t0,t1[[t_0, t_1[, vì ∥g(t,v0(t))∥≤∥g(t,u(t))∥+kφ(t)\| g(t, v_0(t)) \| \leq \| g(t, u(t)) \| + k \varphi(t) trên khoảng này. Vì v0v_0 là một nghiệm xấp xỉ của x′=g(t,x)x' = g(t, x) với sai số không vượt quá α\alpha trên [t0,t1[[t_0, t_1[ nên tồn tại một số M>0M > 0 sao cho ∥v0′(t)∥≤M\| v_0'(t) \| \leq M trên khoảng này, trừ tại các điểm của một tập hợp đếm được; định lý giá trị trung bình khi đó cho thấy rằng ∥v0(s)−v0(t)∥≤M∣s−t∣\| v_0(s) - v_0(t) \| \leq M |s - t| đối với mọi cặp điểm s,ts, t của [t0,t1[[t_0, t_1[, vì vậy (theo tiêu chuẩn Cauchy) v0(t)v_0(t) có một giới hạn trái cc tại điểm t1t_1, và, theo tính liên tục, ta có ∥c−u(t1)∥≤φ(t1)\| c - u(t_1) \| \leq \varphi(t_1), và do đó c∈Hc \in H. Bây giờ suy ra từ IV, p. 171, định lý 1 hoặc IV, p. 167, hệ quả, rằng tồn tại một nguyên của x′=f(t,x)x' = f(t, x) được xác định trên một khoảng [t1,t2[[t_1, t_2[ và bằng cc tại t1t_1, điều này mâu thuẫn với định nghĩa của v0v_0.

Định lý 3

Cho F là một không gian tôpô và cho f là một ánh xạ từ I × H × F vào E sao cho, với mọi ξ∈F\xi \in F, hàm (t,x)↦f(t,x,ξ)(t, x) \mapsto f(t, x, \xi) là Lipschitz trên I × H, và sao cho, khi ξ\xi tiến tới ξ0\xi_0, f(t,x,ξ)f(t, x, \xi) tiến đều tới f(t,x,ξ0)f(t, x, \xi_0) trên I × H. Cho u0(t)u_0(t) là một nguyên của x′=f(t,x,ξ0)x' = f(t, x, \xi_0) được xác định trên một khoảng J=[t0,b[J = [t_0, b[ được chứa trong I, nhận giá trị trong H, và bằng x0x_0 tại t0t_0. Với mọi khoảng compact [t0,t1][t_0, t_1] được chứa trong J, tồn tại một lân cận V của ξ0\xi_0 trong F sao cho, với mọi ξ∈V\xi \in V, phương trình x′=f(t,x,ξ)x' = f(t, x, \xi) có một nguyên (và chỉ một) u(t,ξ)u(t, \xi) được xác định trên [t0,t1][t_0, t_1], nhận giá trị trong H và bằng x0x_0 tại t0t_0; hơn nữa, khi ξ\xi tiến tới ξ0\xi_0 thì nghiệm u(t,ξ)u(t, \xi) tiến đều tới u0(t)u_0(t) trên [t0,t1][t_0, t_1].

Thật vậy, cho r>0r > 0 sao cho với t0≤t≤t1t_0 \leq t \leq t_1 quả cầu đóng có tâm u0(t)u_0(t) và bán kính rr được chứa trong HH; nếu f(t,x,ξ)f(t, x, \xi) là Lipschitz đối với hằng số k>0k > 0 trên I×HI \times H thì ta lấy α\alpha đủ nhỏ để αek(t1−t0)−1k<r\alpha \frac{e^{k(t_1-t_0)} - 1}{k} < r; lấy VV sao cho, với mọi ξ∈V\xi \in V, ta có ∥f(t,x,ξ)−f(t,x,ξ0)∥≤α\| f(t, x, \xi) - f(t, x, \xi_0) \| \leq \alpha trên I×HI \times H, khi đó có thể áp dụng mệnh đề 7 của IV, p. 174; hơn nữa,

∥u(t,ξ)−u0(t)∥≤αek(t1−t0)−1k \| u(t, \xi) - u_0(t) \| \leq \alpha \frac{e^{k(t_1-t_0)} - 1}{k}

trên [t0,t1][t_0, t_1], điều này hoàn tất chứng minh của định lý.

Nhận xét

Khi H=EH = E và điều kiện (16) của IV, p. 174 được thỏa mãn trên I×EI \times E, mệnh đề 7 của IV, p. 174 áp dụng được cho mọi nghiệm uu của x′=g(t,x)x' = g(t, x) trên bất kỳ khoảng nào mà nghiệm này được xác định; thậm chí còn có thể giả thiết rằng g(t,x)g(t, x) là Lipschitz đối với một hàm bị điều tiết k(t)k(t) tuy không nhất thiết bị chặn trên khoảng này.

7. Sự phụ thuộc vào điều kiện ban đầu

Cho x′=f(t,x)x' = f(t, x) là một phương trình Lipschitz địa phương trên I×HI \times H; theo định lý 2 (IV, p. 172), với mọi điểm (t0,x0)(t_0, x_0) của I×HI \times H tồn tại một khoảng lớn nhất J(t0,x0)⊂IJ(t_0, x_0) \subset I, không thu về một điểm duy nhất, chứa t0t_0, và trên đó tồn tại một nghiệm (và chỉ một) của phương trình này, bằng x0x_0 tại t0t_0; ta sẽ làm sáng tỏ cách thức mà nghiệm này, cũng như khoảng J(t0,x0)J(t_0, x_0) nơi nó được xác định, phụ thuộc vào điểm (t0,x0)(t_0, x_0).

Định lý 4

Cho ff là một hàm Lipschitz địa phương trên I×HI \times H và (a,b)(a, b) là một điểm tùy ý của I×HI \times H.

1. Tồn tại một khoảng K⊂IK \subset I, một lân cận của aa trong II, và một lân cận VV của bb trong HH sao cho, với mọi điểm (t0,x0)(t_0, x_0) của K×VK \times V, tồn tại một nghiệm (và chỉ một) u(t,t0,x0)u(t, t_0, x_0) được xác định trên KK, nhận giá trị trong HH và bằng x0x_0 tại điểm t0t_0 (nói cách khác, J(t0,x0)⊃KJ(t_0, x_0) \supset K với mọi (t0,x0)∈K×V(t_0, x_0) \in K \times V).

2. Ánh xạ (t,t0,x0)↦u(t,t0,x0)(t, t_0, x_0) \mapsto u(t, t_0, x_0) từ K×K×VK \times K \times V vào HH là liên tục đều.

3 Tồn tại một lân cận W⊂VW \subset V của bb trong HH sao cho, với mọi điểm

(t,t0,x0)∈K×K×W, (t, t_0, x_0) \in K \times K \times W,
phương trình x0=u(t0,t,x)x_0 = u(t_0, t, x) có một nghiệm duy nhất xx trên VV bằng u(t,t0,x0)u(t, t_0, x_0) ("giải nguyên theo hằng số nguyên").

1 Cho SS là một quả cầu có tâm bb và bán kính rr được chứa trong HH, và J0J_0 là một khoảng được chứa trong II, một lân cận của aa trong II, sao cho ff bị chặn và Lipschitz (đối với một hằng số nào đó kk) trên J0×SJ_0 \times S; ký hiệu MM là cận trên đúng của ∥f(t,x)∥\|f(t, x)\| trên J0×SJ_0 \times S. Khi đó tồn tại (IV, p. 171, đl. 1) một khoảng J⊂J0J \subset J_0, một lân cận của aa trong II, và một nguyên vv của x′=f(t,x)x' = f(t, x) xác định trên JJ, nhận giá trị trong SS và bằng bb tại aa. Ta sẽ thấy rằng quả cầu mở VV có tâm bb và bán kính r/2r/2, và giao KK của JJ với một khoảng ]a−l,a+l[]a - l, a + l[, trong đó ll là đủ nhỏ, là thích hợp như yêu cầu. Thật vậy, mệnh đề 7 của IV, p. 174 (áp dụng cho tập hợp J0×SJ_0 \times S và trường hợp α=0\alpha = 0) cho thấy rằng tồn tại một nguyên của x′=f(t,x)x' = f(t, x) xác định trên KK, nhận giá trị trong SS, và bằng x0x_0 tại một điểm t0∈Kt_0 \in K, với điều kiện là

∥v(t)−b∥+∥v(t0)−x0∥ek∣t−t0∣<r \|v(t) - b\| + \|v(t_0) - x_0\| e^{k|t-t_0|} < r
với mọi t∈Kt \in K. Bây giờ, theo định lý giá trị trung bình, ta có
∥v(t)−b∥≤M∣t−a∣≤Ml \|v(t) - b\| \leq M |t - a| \leq Ml
với mọi t∈Kt \in K; vì ∥x0−b∥<r/2\|x_0 - b\| < r/2 nên ta thấy rằng chỉ cần lấy ll sao cho
Ml+(Ml+r/2)e2kl<r Ml + (Ml + r/2)e^{2kl} < r
hay quan hệ (18) được thỏa mãn với mọi (t,t0,x0)(t, t_0, x_0) của K×K×VK \times K \times V.

2) Theo định lý giá trị trung bình ta có

∥u(t1,t0,x0)−u(t2,t0,x0)∥≤M∣t2−t1∣ \| \mathbf{u}(t_1, t_0, \mathbf{x}_0) - \mathbf{u}(t_2, t_0, \mathbf{x}_0) \| \leq M |t_2 - t_1|

(20)

với mọi t0,t1,t2t_0, t_1, t_2 trong K và x0\mathbf{x}_0 trong V. Bây giờ mệnh đề 5 (IV, p. 169) cho thấy rằng

∥u(t,t0,x1)−u(t,t0,x2)∥≤e2kt ∥x2−x1∥ \| \mathbf{u}(t, t_0, \mathbf{x}_1) - \mathbf{u}(t, t_0, \mathbf{x}_2) \| \leq e^{2kt} \ \| \mathbf{x}_2 - \mathbf{x}_1 \|

(21)

đối với mọi tt và t0t_0 trong K, và x1\mathbf{x}_1 và x2\mathbf{x}_2 trong V. Cuối cùng, nếu t1t_1 và t2t_2 là hai điểm bất kỳ trong K,

∥u(t1,t2,x0)−u(t2,t2,x0)∥≤M∣t2−t1∣ \| \mathbf{u}(t_1, t_2, \mathbf{x}_0) - \mathbf{u}(t_2, t_2, \mathbf{x}_0) \| \leq M |t_2 - t_1|

theo định lý giá trị trung bình, nghĩa là

∥u(t1,t2,x0)−x0∥≤M∣t2−t1∣; \| \mathbf{u}(t_1, t_2, \mathbf{x}_0) - \mathbf{x}_0 \| \leq M |t_2 - t_1| ;

vì u(t,t2,x0)\mathbf{u}(t, t_2, \mathbf{x}_0) đồng nhất với tích phân nhận giá trị u(t1,t2,x0)\mathbf{u}(t_1, t_2, \mathbf{x}_0) tại điểm t1t_1, mệnh đề 5 (IV, p. 169) cho thấy rằng

∥u(t,t1,x0)−u(t,t2,x0)∥≤Me2kl∣t2−t1∣ \| \mathbf{u}(t, t_1, \mathbf{x}_0) - \mathbf{u}(t, t_2, \mathbf{x}_0) \| \leq Me^{2kl} |t_2 - t_1|

(22)

đối với mọi t,t1,t2t, t_1, t_2 trong K và x0\mathbf{x}_0 trong V. Ba bất đẳng thức (20), (21) và (22) do đó chứng minh tính liên tục đều của ánh xạ (t,t0,x0)↦u(t,t0,x0)(t, t_0, \mathbf{x}_0) \mapsto \mathbf{u}(t, t_0, \mathbf{x}_0) trên K×K×VK \times K \times V.

3 Theo (20), ta có ∥u(t,t0,x0)−x0∥≤M∣t−t0∣≤2Ml\| \mathbf{u}(t, t_0, \mathbf{x}_0) - \mathbf{x}_0 \| \leq M |t - t_0| \leq 2Ml trên

K×K×V. K \times K \times V.

Nếu chọn ll đủ nhỏ để 2Ml<r/42Ml < r/4, khi đó ta thấy rằng nếu x0\mathbf{x}_0 là một điểm bất kỳ của quả cầu mở W có tâm b\mathbf{b} và bán kính r/4r/4, thì u(t,t0,x0)∈V\mathbf{u}(t, t_0, \mathbf{x}_0) \in V với mọi tt và t0t_0 trong K. Nếu x=u(t,t0,x0)\mathbf{x} = \mathbf{u}(t, t_0, \mathbf{x}_0), thì hàm s↦u(s,t,x)s \mapsto \mathbf{u}(s, t, \mathbf{x}) khi đó được xác định trên K và bằng tích phân của (1) nhận giá trị x\mathbf{x} tại điểm tt, tức là bằng u(s,t0,x0)\mathbf{u}(s, t_0, \mathbf{x}_0); đặc biệt

x0=u(t0,t0,x0)=u(t0,t,x). \mathbf{x}_0 = \mathbf{u}(t_0, t_0, \mathbf{x}_0) = \mathbf{u}(t_0, t, \mathbf{x}).

Hơn nữa, nếu y∈Vy \in V sao cho x0=u(t0,t,y)\mathbf{x}_0 = \mathbf{u}(t_0, t, y), thì tích phân s↦u(s,t,y)s \mapsto \mathbf{u}(s, t, y) nhận giá trị x0\mathbf{x}_0 tại t0t_0 nên đồng nhất với s↦u(s,t0,x0)s \mapsto \mathbf{u}(s, t_0, \mathbf{x}_0), vì vậy hàm này nhận giá trị x\mathbf{x} tại tt, điều đó cho thấy y=xy = \mathbf{x} và kết thúc chứng minh.

Bài tập

Xem các bài tập của § 1.

Machine translation of the English, by gpt-5.4, against glossary version 34. Not checked by a person.