Tích phân, V, p. 117
Bourbaki marks this one as harder than the rest.
Cho Ti (1≤i≤n) là n không gian compact địa phương, μi là một độ đo dương trên Ti với 1≤i≤n. Với mỗi chỉ số i, ký hiệu Ei là tích ∏j=iTj; cho fi là một hàm ≥0 trên T=∏i=1nTi, đo được đối với μ=⨂i=1nμi và không phụ thuộc vào ti; chứng minh rằng nếu, với 1≤k≤n, hàm fkn−1 là khả tích đối với độ đo μ1⊗⋯⊗μk−1⊗μk+1⊗⋯⊗μn, thì f1f2⋯fn là μ-khả tích, và
∫f1f2⋯fndμ1dμ2⋯dμn≤(k=1∏nJk)1/(n−1)
trong đó, với mỗi chỉ số k, đặt Jk=∫fkn−1dμ1⋯dμk−1dμk+1⋯dμn (tiến hành bằng quy nạp theo n, áp dụng định lý Lebesgue–Fubini và bất đẳng thức Hölder).
Suy ra từ điều này rằng nếu A là một tập con μ-đo được của T, Ai là phép chiếu của nó trên Ei, và nếu Ai là khả tích và có độ đo mi (đối với độ đo ⨂j=iμj trên Ei), thì A là μ-khả tích và
μ(A)≤(m1m2⋯mn)1/(n−1).
Xét trường hợp xảy ra đẳng thức trong hai bất đẳng thức này.
Tổng quát hóa cho trường hợp mà, thay vì xét n tích của n−1 trong các Ti, ta xét (pn) tích của p trong các Ti, và trong đó ta lấy tích phân trên T một tích của (pn) hàm ≥0, mỗi hàm chỉ phụ thuộc vào p trong các biến ti. Ví dụ, nếu Fij=Ti×Tj (i<j) và nếu fij chỉ phụ thuộc vào các biến ti và tj, chứng minh rằng
∫(i<j∏fij)dμ1dμ2⋯dμn≤(i<j∏∫fijn−1dμidμj)1/(n−1).