Cho G là một nhóm, gọi K[G] là đại số của nó trên K và gọi I là iđêan tăng cường của nó (§ 4, Bài tập 6). Gọi ε là đồng cấu chính tắc từ K[G] lên K; khi đó Ker(ε)=I. (a) Cho M là một K[G]-môđun trái và gọi Z(G,M) là nhóm các đồng cấu chéo từ G vào M (Algebra, Chương I, § 6, Bài tập 7). Nếu f∈HomK[G](I,M), gọi f1 là ánh xạ g↦f(g−1) từ G vào M. Hãy chỉ ra rằng f1 là một đồng cấu chéo (dùng đẳng thức
gg′−1=g(g′−1)+g−1
để chỉ ra rằng f1(gg′)=g.f1(g′)+f1(g)) và rằng f↦f1 là một đẳng cấu từ HomK[G](I,M) lên Z(G,M).
(b) Lấy G là nhóm tự do F=F(X). Hãy chỉ ra rằng, với mọi ánh xạ θ:X→M, tồn tại một và chỉ một phần tử fθ của Z(M,F) mở rộng θ. (Dùng cách giải thích của Z(F,M) theo tích nửa trực tiếp của F bởi M, xem Algebra, Chương I, loc. cit.) Suy ra, dùng (a), rằng họ (x−1)x∈X là một cơ sở của I như một K[F]-môđun trái.
(c) Theo (b), mọi phần tử u∈K[F] đều có thể được viết duy nhất dưới dạng
u=ε(u)+x∈X∑Dx(u)(x−1),
trong đó Dx(u)∈K[F] và các Dx(u) bằng không trừ một số hữu hạn. Ánh xạ u↦Dx(u) được gọi là đạo hàm riêng theo x. Nó được đặc trưng bởi các tính chất sau: (i) Dx là một ánh xạ K-tuyến tính từ K[F] vào K[F]. (ii) Dx(uv)=u.Dx(v)+ε(v).Dx(u) với u, v thuộc K[F]. (iii) Dx(x)=1 và Dx(y)=0 nếu y∈X−{x}. Nếu n⩾1, thì
Dx(xn)=1+x+⋯+xn−1
Dx(x−n)=−x−n−x−n+1−⋯−x−1.
(d) Gọi εA là đồng cấu chính tắc từ A(X) lên K. Hãy chỉ ra rằng mọi phần tử u của A(X) đều có thể được viết duy nhất dưới dạng
u=εA(u)+x∈X∑dx(u).x,
trong đó dx(u)∈A(X) và các dx(u) bằng không trừ một số hữu hạn. Hãy chỉ ra rằng dx:u↦dx(u) là một tự đồng cấu của A(X), có thể được mở rộng bằng tính liên tục lên A^(X) và có các tính chất tương tự như (i), (ii), (iii) ở trên. Hãy chỉ ra dx∘g~=g~∘Dx, trong đó g~ là đồng cấu từ K[F] vào A^(X) mở rộng g (xem Bài tập 1).†