Bourbaki

6. Các hàm thực liên tục và nửa liên tục

1. Các hàm thực liên tục

Ngoài các tính chất tổng quát của các hàm liên tục nhận giá trị trong một không gian tôpô tùy ý (Chương I, § 2), các hàm thực liên tục còn có hai tính chất cơ bản sau:

Định lý 1 (Weierstrass)

Cho ff là một hàm thực liên tục xác định trên một không gian quasi-compact rỗng khác XX. Khi đó tồn tại ít nhất một điểm a∈Xa \in X sao cho f(a)=sup⁡x∈X(f(x))f(a) = \sup_{x \in X} (f(x)), và ít nhất một điểm b∈Xb \in X sao cho f(b)=inf⁡x∈Xf(x)f(b) = \inf_{x \in X} f(x). Thật vậy, f(X)f(X) là compact (Chương I, § 9, no. 4, Định lý 2) và do đó đóng trong R‾\overline{\mathbf{R}}; suy ra f(X)f(X) chứa các cận của nó.

Định lý này thường được phát biểu dưới dạng: một hàm thực liên tục trên một không gian quasi-compact rỗng khác đạt các cận của nó.

Hệ quả

Nếu một hàm thực xác định trên một không gian quasi-compact rỗng khác XX liên tục và hữu hạn trên XX, thì nó bị chặn trong XX.

Định lý 2 (Bolzano)

Cho ff là một hàm thực liên tục xác định trên một không gian liên thông XX. Nếu aa và bb là hai điểm bất kỳ của XX, và nếu α\alpha là một số thực thuộc khoảng đóng có hai đầu mút là f(a)f(a) và f(b)f(b), thì tồn tại ít nhất một điểm x∈Xx \in X sao cho f(x)=αf(x) = \alpha.

Vì f(X)f(X) là liên thông (Chương I, § 11, no. 2, Mệnh đề 4) và do đó là một khoảng của R‾\overline{\mathbf{R}} (§ 4, no. 2, Mệnh đề 5); nên nó chứa khoảng đóng có hai đầu mút là f(a)f(a) và f(b)f(b).

Định lý này thường được phát biểu dưới dạng một hàm thực liên tục trên một không gian liên thông không thể chuyển từ một giá trị này sang một giá trị khác mà không chuyển qua mọi giá trị trung gian.

Tính chất này hoàn toàn không phải là đặc trưng của các hàm liên tục; có những ví dụ về các hàm xác định trên một không gian liên thông và gián đoạn tại mọi điểm có tính chất này (Bài tập 2).

2. Hàm nửa liên tục

Cho ff là một hàm nhận giá trị thực được xác định trên một không gian tôpô XX. Để ff liên tục tại một điểm a∈Xa \in X thì điều kiện cần và đủ là: (i) với mọi số thực h<f(a)h < f(a), tồn tại một lân cận VV của aa sao cho tại mỗi điểm x∈Vx \in V ta có h<f(x)h < f(x); (ii) với mọi số thực k>f(a)k > f(a), tồn tại một lân cận WW của aa sao cho tại mỗi điểm x∈Wx \in W ta có k>f(x)k > f(x).

Các hàm thỏa mãn chỉ một trong hai điều kiện này đóng một vai trò quan trọng trong giải tích. Nói chính xác hơn, ta đưa ra định nghĩa sau:

Định nghĩa 1

Một hàm thực ff, xác định trên một không gian tôpô XX, được gọi là nửa liên tục dưới* (tương ứng nửa liên tục trên) *tại một điểm a∈Xa \in X, nếu với mỗi h<f(a)h < f(a) [tương ứng với mỗi k>f(a)k > f(a)] tồn tại một lân cận VV của aa sao cho h<f(x)h < f(x) [tương ứng k>f(x)k > f(x)] với mọi x∈Vx \in V.

Một hàm thực được gọi là nửa liên tục dưới (tương ứng nửa liên tục trên) trên XX nếu nó nửa liên tục dưới (tương ứng nửa liên tục trên) tại mọi điểm của XX.

Do đó, một hàm thực ff liên tục tại một điểm aa khi và chỉ khi nó vừa nửa liên tục trên vừa nửa liên tục dưới tại aa.

Nếu ff nửa liên tục dưới tại một điểm, thì −f-f nửa liên tục trên tại điểm đó, và ngược lại; do đó trong phần sau, ta có thể hạn chế việc xét các tính chất của các hàm nửa liên tục dưới.

Rõ ràng một hàm nửa liên tục dưới trên XX cũng nửa liên tục dưới trên mọi không gian con của XX.

Ví dụ 1

Nếu ff đạt cực tiểu tương đối tại một điểm aa, nghĩa là nếu tồn tại một lân cận VV của aa sao cho, với mỗi x∈Vx \in V, ta có f(a)≤f(x)f(a) \leq f(x), thì ff nửa liên tục dưới tại aa. Đặc biệt, nếu f(a)=−∞f(a) = -\infty, thì ff nửa liên tục dưới tại aa.

Ví dụ 2

Định nghĩa một hàm thực ff trên R\mathbf{R} bằng cách đặt f(x)=0f(x) = 0 nếu xx là vô tỉ, và f(x)=1/qf(x) = 1/q nếu xx là hữu tỉ và bằng phân số bất khả quy p/qp/q (q>0q > 0). Với mỗi số nguyên n>0n > 0, tập hợp các số hữu tỉ p/qp/q sao cho q<nq < n là đóng, và các điểm của nó là cô lập; do đó với mọi xx vô tỉ, tồn tại một lân cận VV của xx sao cho f(y)≤1/nf(y) \leq 1/n với mọi y∈Vy \in V, điều này cho thấy ff liên tục tại xx; mặt khác, ff đạt một cực đại tương đối tại mọi điểm hữu tỉ xx. Do đó ff là nửa liên tục trên trên R\mathbf{R}.

Điều kiện để ff nửa liên tục dưới tại aa có thể được phát biểu bằng cách nói rằng, với mỗi h<f(a)h < f(a), tập hợp f‾([h,+∞])\overline{f}([h, +\infty]) phải là một lân cận của aa.

Chỉ cần điều kiện này được thỏa mãn đối với một dãy (hn)(h_n) tăng gồm các số thực <f(a)< f(a) tiến tới f(a)f(a).

Trang bị cho R‾\overline{\mathbf{R}} tôpô trong đó các tập mở là ∅\varnothing và mọi khoảng mở của R‾\overline{\mathbf{R}} không bị chặn về phải (nghĩa là, mọi khoảng ]a,+∞[]a, +\infty[ với aa hữu hạn, và khoảng [−−∞,+∞]=]←,→[][--\infty, +\infty] = ]\leftarrow, \rightarrow[]). Khi đó hàm thực ff nửa liên tục dưới tại aa khi và chỉ khi nó liên tục tại aa khi được xem như một ánh xạ vào R‾\overline{\mathbf{R}} được trang bị tôpô này.

Mệnh đề 1

Một hàm thực ff trên một không gian tôpô XX là nửa liên tục dưới khi và chỉ khi, với mỗi số thực hữu hạn kk, f‾([k,+∞])\overline{f}([k, +\infty]) [tập hợp mọi x∈Xx \in X sao cho f(x)>kf(x) > k] là một tập hợp mở trong XX [hay, tương đương, f‾([−∞,k])\overline{f}([-\infty, k]) là một tập hợp đóng trong XX].

Vì điều kiện này cho thấy rằng f‾([k,+∞])\overline{f}([k, +\infty]) là một lân cận của mỗi điểm của nó.

Để ff nửa liên tục dưới trên XX thì điều kiện đủ là f−1([k,+∞])f^{-1}([k, +\infty]) mở trong XX với mọi số thực kk thuộc một tập con trù mật của R\mathbf{R}.

Hệ quả

Một tập con AA của một không gian tôpô XX là mở (resp. đóng) trong XX khi và chỉ khi hàm đặc số (*) của nó φA\varphi_A là nửa liên tục dưới (resp. trên) trên XX.

Vì f‾A([k,+∞])\overline{f}_A([k, +\infty]) rỗng với k≥1k \geq 1, bằng AA với 0≤k<10 \leq k < 1 và bằng XX với k<0k < 0.

Định lý 3

Cho ff là một hàm nửa liên tục dưới trên một không gian quasi-compact không rỗng XX. Khi đó có ít nhất một điểm a∈Ea \in E sao cho f(a)=inf⁡x∈Xf(x)f(a) = \inf_{x \in X} f(x) (nói cách khác, ff đạt cận dưới lớn nhất của nó trong XX).

Với mỗi k∈f(X)k \in f(X), xét tập hợp Ak=f‾([−∞,k])A_k = \overline{f}([-\infty, k]). Các tập hợp này không rỗng và tạo thành một cơ sở lọc trên XX; vì chúng đóng theo Mệnh đề 1, chúng có ít nhất một điểm chung aa [tiên đề (C'') cho các không gian quasi-compact]. Do đó với mọi x∈Xx \in X ta có f(a)≤f(x)f(a) \leq f(x), và định lý được suy ra.

(*) Ta nhắc lại (Lý thuyết tập hợp, Chương III, § 5, no. 5) rằng hàm đặc số φA\varphi_A của một tập con AA của một tập hợp XX là hàm xác định trên XX sao cho φA(x)=1\varphi_A(x) = 1 với mọi x∈Ax \in A, và φA(x)=0\varphi_A(x) = 0 với mọi x∈∁Ax \in \complement_A.

Hệ quả

Cho ff là một hàm nửa liên tục dưới trên một không gian quasi-compact không rỗng XX. Nếu f(x)>−∞f(x) > -\infty với mọi x∈Xx \in X, thì ff bị chặn dưới trong XX.

Chú ý rằng định lý này và định lý tương ứng đối với các hàm nửa liên tục trên bao hàm định lý Weierstrass như một trường hợp riêng (no. 1, Định lý 1).

Mệnh đề 2

Cho ff và gg là hai hàm số nhận giá trị thực, nửa liên tục dưới tại một điểm a∈Xa \in X. Khi đó các hàm số inf⁡(f,g)\inf(f, g) và sup⁡(f,g)\sup(f, g) là nửa liên tục dưới tại aa; f+gf + g cũng vậy mỗi khi nó được xác định, và fgfg cũng vậy nếu ff và gg là ≥0\geq 0 và tích fgfg được xác định.

Ta cho chứng minh đối với f+gf + g; lập luận là tương tự trong các trường hợp khác. Kết quả là hiển nhiên nếu f(a)f(a) hoặc g(a)g(a) bằng −∞-\infty; nếu không, thì f(a)+g(a)>−∞f(a) + g(a) > -\infty. Mọi số hữu hạn h<f(a)+g(a)h < f(a) + g(a) đều có thể viết dưới dạng h=r+sh = r + s, trong đó r<f(a)r < f(a) và s<g(a)s < g(a) là hữu hạn [chỉ cần lấy ss sao cho h−f(a)<s<g(a)h - f(a) < s < g(a)]; theo giả thiết, tồn tại một lân cận VV của aa sao cho, với mỗi x∈Vx \in V, ta có r<f(x)r < f(x), và một lân cận WW sao cho với mỗi x∈Wx \in W ta có s<g(x)s < g(x); do đó h=r+s<f(x)+g(x)h = r + s < f(x) + g(x) với mọi điểm xx của lân cận V∩WV \cap W.

Theo cùng cách ấy ta thấy rằng, nếu ff là nửa liên tục dưới tại một điểm aa, và nếu f≥0f \geq 0, thì 1/f1/f là nửa liên tục trên tại aa.

Định lý 4

Bao trên của một họ (fi)(f_i) các hàm nửa liên tục dưới tại một điểm a∈Xa \in X là nửa liên tục dưới tại aa.

Cho gg là bao trên. Với mỗi h<g(a)h < g(a) tồn tại một chỉ số ii sao cho h<fi(a)≤g(a)h < f_i(a) \leq g(a), và một lân cận VV của aa sao cho h<fi(x)h < f_i(x) với mọi x∈Vx \in V; do đó aa fortiori h<g(x)h < g(x) với mọi x∈Vx \in V.

Suy ra từ Mệnh đề 2 rằng bao dưới của một số hữu hạn các hàm nửa liên tục dưới vẫn lại là nửa liên tục dưới; nhưng điều này nói chung không đúng đối với bao dưới của một họ vô hạn các hàm nửa liên tục dưới. Chẳng hạn, nếu rr là một số hữu tỉ bất kỳ, gọi frf_r là hàm bằng 0 tại rr và bằng 1 với mọi số thực x≠rx \neq r; bao dưới của các frf_r là hàm gg bằng 0 với mọi số hữu tỉ và bằng 1 với mọi số vô tỉ ("hàm Dirichlet"), và hàm này không nửa liên tục dưới tại các điểm vô tỉ.

Hệ quả

Bao trên của một họ các hàm thực liên tục trên một không gian XX là nửa liên tục dưới trên XX.

Trong Chương IX, § 1, no. 6, Mệnh đề 5, chúng ta sẽ chỉ ra rằng mệnh đề đảo lại của mệnh đề này là đúng nếu XX là khả đều hóa (và chỉ trong trường hợp này): mọi hàm nửa liên tục dưới trên một không gian khả đều hóa đều là bao trên của một họ các hàm liên tục.

Mệnh đề 3

Một hàm thực f, xác định trên một không gian tôpô X, là nửa liên tục dưới tại một điểm a∈Xa \in X khi và chỉ khi* lim inf⁡x→af(x)=f(a)\liminf_{x \to a} f(x) = f(a) [hay, tương đương, khi và chỉ khi lim inf⁡x→af(x)≥f(a)\liminf_{x \to a} f(x) \geq f(a)].

Điều kiện này là cần. Thật vậy, với mọi h<f(a)h < f(a), tồn tại một lân cận V của aa sao cho h<f(x)h < f(x) với mọi x∈Vx \in V; do đó

h≤inf⁡x∈Vf(x)≤lim inf⁡x→af(x) h \leq \inf_{x \in V} f(x) \leq \liminf_{x \to a} f(x)
(§ 5, no. 6, các công thức (12)), và vì thế f(a)≤lim inf⁡x→af(x)f(a) \leq \liminf_{x \to a} f(x). Điều kiện này là đủ; vì nếu nó được thỏa mãn, thì với mỗi h<f(a)h < f(a) tồn tại một lân cận V của aa sao cho h≤inf⁡x∈Vf(x)h \leq \inf_{x \in V} f(x), và do đó ff là nửa liên tục dưới tại aa.

Mệnh đề 4

Cho f là một hàm nhận giá trị thực bất kỳ xác định trên một tập con trù mật A của một không gian tôpô X. Nếu, với mỗi x∈Xx \in X, ta đặt* g(x)=lim inf⁡y→x,y∈Af(y)g(x) = \liminf_{y \to x, y \in A} f(y), thì g là nửa liên tục dưới trên X.

Thật vậy, với mọi h<g(x)h < g(x), tồn tại một lân cận mở V của xx sao cho, với mọi z∈V∩Az \in V \cap A, ta có h<f(z)h < f(z); mà V là một lân cận của mỗi điểm yy của nó; do đó ta có lim inf⁡z→y,z∈Af(z)=g(y)≥h\liminf_{z \to y, z \in A} f(z) = g(y) \geq h với mọi y∈Vy \in V, và kết quả suy ra.

Hàm gg được gọi là chính quy hóa nửa liên tục dưới của ff. Ta định nghĩa chính quy hóa nửa liên tục trên của ff một cách tương tự.

Ta cũng có thể định nghĩa gg là hàm lớn nhất trong các hàm nửa liên tục dưới φ\varphi trên X sao cho φ(x)≤f(x)\varphi(x) \leq f(x) với mọi x∈Ax \in A. Nếu ff là nửa liên tục dưới trên A, thì gg là một mở rộng của ff lên X, theo Mệnh đề 3.

Bài tập

Xem các bài tập của § 6.

Machine translation of the English, by gpt-5-6, gpt-5.4, against glossary version 34. Not checked by a person.