Bourbaki

1. Không gian số thực Rn\mathbf{R}^n

1. Tôpô của Rn\mathbf{R}^n

Định nghĩa 1

Tích tôpô của n không gian đồng nhất với đường thẳng thực được gọi là không gian số thực n chiều, và được ký hiệu bởi Rn\mathbf{R}^n. \

Nhận xét

Không gian R0\mathbf{R}^0 gồm một điểm.

Từ Lý thuyết tập hợp, Chương III, § 6, no. 3, Định lý 2, Hệ quả I, ta biết rằng, nếu E là một tập vô hạn, thì EnE^n đẳng lực với E với mọi số nguyên n>0n > 0; do đó, nếu n>0n > 0, thì Rn\mathbf{R}^n đẳng lực với R\mathbf{R}, tức là Rn\mathbf{R}^n có lực lượng của liên tục (xem các Bài tập 1 và 2).

Định nghĩa 2

Mọi tập con của Rn\mathbf{R}^n là tích của n khoảng mở (tương ứng đóng) của R\mathbf{R} được gọi là một hộp mở (tương ứng đóng) trong Rn\mathbf{R}^n. [Với n=2n = 2 thì nó được gọi là một hình chữ nhật mở (tương ứng đóng).]

Các hộp mở trong Rn\mathbf{R}^n tạo thành một cơ sở của tôpô của Rn\mathbf{R}^n (Chương I, § 4, no. 1); các hộp mở chứa một điểm x=(xi)1≤i≤nx = (x_i)_{1 \leq i \leq n} của Rn\mathbf{R}^n tạo thành một hệ cơ bản các lân cận của xx, và các hộp đóng của Rn\mathbf{R}^n mà xx là một điểm trong cũng vậy.

Mọi hộp mở khác rỗng trong Rn\mathbf{R}^n đều đồng phôi với Rn\mathbf{R}^n (Chương IV, § 4, no. 1, Mệnh đề 1).

Suy ra rằng, khi n≥1n \geq 1, mọi tập mở khác rỗng trong Rn\mathbf{R}^n đều có lực lượng của liên tục.

Một khối lập phương mở (tương ứng đóng) của Rn\mathbf{R}^n là một hộp mở (tương ứng đóng) là tích của n khoảng bị chặn có cùng độ dài [với n=2n = 2, nó được gọi là một hình vuông mở (tương ứng đóng)]; độ dài chung của các khoảng này được gọi là cạnh (hay độ dài cạnh) của khối lập phương. Các khối lập phương mở

Km=∏1≤i≤n[xi−1m,xi+1m] K_m = \prod_{1 \leq i \leq n} \left[ x_i - \frac{1}{m}, x_i + \frac{1}{m} \right]

tạo thành một hệ cơ bản đếm được các lân cận của điểm x=(xi)x = (x_i), khi mm chạy qua tập tất cả các số nguyên >0> 0 hoặc qua bất kỳ dãy số nguyên nào tăng tới vô cùng.

Mọi hộp mở (hay đóng) trong Rn\mathbf{R}^n đều liên thông (Chương I, § 11, no. 4, Mệnh đề 8); nói riêng, Rn\mathbf{R}^n liên thông và liên thông địa phương.

Nếu AA là một tập mở khác rỗng trong Rn\mathbf{R}^n, thì các thành phần của nó do đó là các tập mở (Chương I, § 11, no. 6, Mệnh đề 11); và tập các thành phần này là đếm được, vì Rn\mathbf{R}^n có một tập con trù mật đếm được (chẳng hạn Qn\mathbf{Q}^n).

Xét xem dưới những điều kiện nào một tập con AA của Rn\mathbf{R}^n sẽ compact tương đối. Theo định lý Tychonoff (Chương I, § 9, no. 5, Định lý 3) thì điều kiện cần và đủ là các phép chiếu của AA lên các thừa số của Rn\mathbf{R}^n phải compact tương đối; theo định lý Borel-Lebesgue (Chương IV, § 2, no. 2, Định lý 2) điều này tương đương với việc nói rằng các phép chiếu ấy là các tập con bị chặn của R\mathbf{R}. Ta nói rằng một tập con AA của Rn\mathbf{R}^n là bị chặn nếu mọi phép chiếu của nó đều là các tập con bị chặn của R\mathbf{R}; do đó ta đã chứng minh:

Mệnh đề 1

Một tập con AA của Rn\mathbf{R}^n compact tương đối khi và chỉ khi nó bị chặn.

Hệ quả

Không gian Rn\mathbf{R}^n là compact địa phương, nhưng không compact nếu n≥1n \geq 1.

2. Nhóm cộng Rn\mathbf{R}^n

Tập Rn\mathbf{R}^n, được trang bị cấu trúc nhóm là tích của các cấu trúc nhóm cộng của n thừa số của Rn\mathbf{R}^n, là một nhóm Abel; ta dùng ký hiệu cộng, nên tổng của x=(xi)x = (x_i) và y=(yi)y = (y_i) là x+y=(xi+yi)x + y = (x_i + y_i). Tôpô của không gian số tương thích với cấu trúc nhóm này; được trang bị hai cấu trúc ấy, Rn\mathbf{R}^n là một nhóm tôpô gọi là nhóm cộng của không gian số thực n chiều. Nếu n=0n = 0, ta quy ước rằng R0\mathbf{R}^0 ký hiệu một nhóm chỉ gồm phần tử đơn vị.

Cấu trúc đều của nhóm này, gọi là cấu trúc đều cộng tính của Rn\mathbf{R}^n, là tích của các cấu trúc đều của các thừa số của Rn\mathbf{R}^n (Chương III, § 3, no. 2). Nếu, với mỗi số nguyên p>0p > 0, VpV_p ký hiệu tập hợp các cặp (x,y)(x, y) của Rn\mathbf{R}^n sao cho max⁡1≤i≤n∣xi−yi∣≤1/p\max_{1 \leq i \leq n} |x_i - y_i| \leq 1/p, thì các tập hợp VpV_p tạo thành một cơ bản

3. Không gian vectơ Rn\mathbf{R}^n

Vì R\mathbf{R} là một trường, ta có thể định nghĩa trên Rn\mathbf{R}^n một cấu trúc không gian vectơ trên trường R\mathbf{R}, tích txt x của một vô hướng t∈Rt \in \mathbf{R} và một điểm (hoặc vectơ) x=(xi)x = (x_i) của Rn\mathbf{R}^n là điểm (txi)(t x_i). Chú ý rằng phép vị tự (t,x)→tx(t, x) \to t x là liên tục trên R×Rn\mathbf{R} \times \mathbf{R}^n. Nếu eie_i ký hiệu vectơ của Rn\mathbf{R}^n có tất cả các tọa độ đều bằng không, trừ tọa độ có chỉ số ii, bằng 1, thì các eie_i tạo thành một cơ sở của không gian vectơ Rn\mathbf{R}^n, gọi là cơ sở chính tắc của không gian này. Mọi vectơ x=(xi)∈Rnx = (x_i) \in \mathbf{R}^n đều có thể viết x=∑i=1nxieix = \sum_{i=1}^n x_i e_i, và quan hệ ∑i=1ntiei=0\sum_{i=1}^n t_i e_i = 0 suy ra ti=0t_i = 0 với 1≤i≤n1 \leq i \leq n.

Không gian vectơ Rn\mathbf{R}^n do đó có chiều nn trên trường R\mathbf{R}, theo nghĩa của đại số (Đại số, Chương II, § 7, no. 2); do đó có tên là không gian số thực nn chiều.

Cho ff là một ánh xạ afin của không gian vectơ Rn\mathbf{R}^n vào không gian vectơ Rm\mathbf{R}^m (mm và nn là các số nguyên > 0). Nếu ta đặt g(x)=f(x)−f(0)g(x) = f(x) - f(0), thì gg là một ánh xạ tuyến tính của Rn\mathbf{R}^n vào Rm\mathbf{R}^m. Cho aija_{ij} (1≤j≤m1 \leq j \leq m) là các tọa độ của g(ei)g(e_i) trong Rm\mathbf{R}^m và cho bjb_j (1≤j≤m1 \leq j \leq m) là các tọa độ của f(0)f(0); nếu xix_i (1≤i≤n1 \leq i \leq n) là tọa độ thứ ii của x∈Rnx \in \mathbf{R}^n và nếu yjy_j là tọa độ thứ jj của y=f(x)y = f(x), ta có

yj=∑i=1naijxi+bj(1≤j≤m). y_j = \sum_{i=1}^n a_{ij} x_i + b_j \quad (1 \leq j \leq m).

Vì mỗi đa thức tuyến tính trong x1,x2,…,xnx_1, x_2, \ldots, x_n là liên tục đều trên Rn\mathbf{R}^n, suy ra mọi ánh xạ afin của Rn\mathbf{R}^n vào Rm\mathbf{R}^m đều liên tục đều trên Rn\mathbf{R}^n (Chương II, § 2, no. 6, Mệnh đề 7).

Đặc biệt, ta biết rằng mọi ánh xạ afin của Rn\mathbf{R}^n lên chính nó đều song ánh và nghịch đảo của nó lại là một ánh xạ afin; do đó mọi ánh xạ afin của Rn\mathbf{R}^n lên chính nó đều là một homeomorphisme (và là một tự đẳng cấu của cấu trúc đều của Rn\mathbf{R}^n).

Cho (ai)1≤i≤n(a_i)_{1 \leq i \leq n} là một hệ tự do gồm nn vectơ của Rn\mathbf{R}^n [nói cách khác là một cơ sở của không gian vectơ Rn\mathbf{R}^n]; nếu bb là một điểm bất kỳ của Rn\mathbf{R}^n, thì tập P gồm các điểm x=b+∑i=1nuiaix = b + \sum_{i=1}^{n} u_i a_i sao cho −1≤ui≤1-1 \leq u_i \leq 1 với 1≤i≤n1 \leq i \leq n là một lân cận compact của bb; vì tồn tại một ánh xạ afin song ánh ff của Rn\mathbf{R}^n lên chính nó sao cho f(b)=0,f(b+ai)=eif(b) = 0, f(b + a_i) = e_i với 1≤i≤n1 \leq i \leq n; và f(P)f(P) là hình lập phương, tức là tích của nn khoảng [−1,+1][ -1, +1 ] trong nn không gian nhân tử. PP được gọi là hình hộp song song đóng có tâm bb và các vectơ cơ sở aia_i. Phần trong của PP gồm các điểm b+∑i=1nuiaib + \sum_{i=1}^{n} u_i a_i sao cho −1<ui<1-1 < u_i < 1 với 1≤i≤n1 \leq i \leq n; nó được gọi là hình hộp song song mở có tâm bb và các vectơ cơ sở aia_i.

4. Các đa tạp tuyến tính afin trong Rn\mathbf{R}^n

Cho một đa tạp tuyến tính afin pp-chiều VV trong Rn\mathbf{R}^n, tồn tại một ánh xạ afin ff của Rn\mathbf{R}^n lên chính nó biến VV thành một đa tạp tọa độ pp-chiều, nghĩa là một không gian con vectơ V′V' được sinh bởi pp trong các vectơ của cơ sở chính tắc (ei)(e_i) của Rn\mathbf{R}^n. Tồn tại một ánh xạ từ V′V' lên Rp\mathbf{R}^p là một đẳng cấu của cấu trúc không gian vectơ và tôpô của V′V' lên các cấu trúc tương ứng của Rp\mathbf{R}^p (hơn nữa, thường tiện lợi khi đồng nhất Rp\mathbf{R}^p với một đa tạp tọa độ như thế V′V', chẳng hạn với không gian con vectơ được sinh bởi e1,e2,…,epe_1, e_2, \ldots, e_p). Ngoài ra, V′V' là một tập con đóng của Rn\mathbf{R}^n (Chương I, § 4, no. 3, Hệ quả của Mệnh đề 7); suy ra:

Mệnh đề 2

Mọi đa tạp afin tuyến tính pp-chiều trong Rn\mathbf{R}^n đều là một tập con đóng của Rn\mathbf{R}^n, và đồng phôi với Rp\mathbf{R}^p.

Chính kết quả này là nguồn gốc của các tên đường thẳng và mặt phẳng được gán cho các đa tạp afin tuyến tính có một và hai chiều trong một không gian vectơ trên một vành chia tùy ý. Ta cũng nhắc lại rằng, với n≥1n \geq 1, các đa tạp afin tuyến tính có n−1n - 1 chiều của Rn\mathbf{R}^n được gọi là các siêu phẳng (loc. cit.).

nn đa tạp tọa độ một chiều, tức là nn đường thẳng đi qua 00 và nn điểm eie_i tương ứng, được gọi là các trục tọa độ. Với n=2n = 2 thì trục đi qua e1e_1 đôi khi được gọi là trục hoành và trục đi qua e2e_2 được gọi là trục tung; tọa độ thứ nhất của một điểm x∈R2x \in \mathbf{R}^2 được gọi là hoành độ của nó, tọa độ thứ hai là tung độ.

Mỗi đường thẳng DD đi qua một điểm aa đều có một biểu diễn tham số t→a+tbt \to a + tb, trong đó tt chạy qua R\mathbf{R} và b≠0b \neq 0; ánh xạ này là một đồng phôi từ R\mathbf{R} lên DD. Vectơ bb được gọi là một vectơ chỉ phương của D, và các thành phần của nó bi(1≤i≤n)b_i (1 \leq i \leq n) được gọi là các tỉ số chỉ phương của D. Nếu b′b' là một vectơ chỉ phương khác của D, thì tồn tại h≠0h \neq 0 trong R\mathbf{R} sao cho b′=hbb' = hb.

Tập các điểm a+tba + tb, trong đó tt chạy qua tập các số thực ≥0\geq 0, được gọi là tia đóng (hay đơn giản là tia, hoặc nửa đường thẳng) có gốc aa và vectơ chỉ phương bb (hoặc với các tỉ số chỉ phương bib_i). Nó là một tập con đóng của Rn\mathbf{R}^n, đồng phôi với khoảng [0,+∞[[0, +\infty[ của R\mathbf{R}, và do đó liên thông. Đường thẳng D là hợp của hai tia có gốc aa và các vectơ chỉ phương lần lượt là bb và −b-b; hai tia này được gọi là đối nhau.

Lạm dụng ngôn ngữ, tập các điểm a+tba + tb, trong đó tt chạy qua tập các số thực >0> 0, được gọi là tia mở có gốc aa và vectơ chỉ phương bb; nó đồng phôi với khoảng ]0,+∞[0, +\infty[ (và do đó đồng phôi với R\mathbf{R}), nhưng không mở trong Rn\mathbf{R}^n nếu n>1n > 1, mặc dù nó mở trong đường thẳng chứa nó.

Một đường thẳng đi qua hai điểm phân biệt xx và yy cũng có một biểu diễn tham số (u,v)→ux+vy(u, v) \to ux + vy, trong đó (u,v)(u, v) chạy qua tập các cặp số thực sao cho u+v=1u + v = 1. Cho bất kỳ hai điểm x,yx, y nào (phân biệt hay không), tập các điểm ux+uyux + uy, trong đó (u,v)(u, v) chạy qua tập các cặp số thực sao cho u≥0,v≥0u \geq 0, v \geq 0 và u+v=1u + v = 1, được gọi là đoạn đóng (hay đơn giản là đoạn) có hai đầu mút x,yx, y. Một đoạn đóng là compact và liên thông, vì nếu hai đầu mút của nó phân biệt thì nó đồng phôi với khoảng [0,1][0, 1] của R\mathbf{R}.

Nếu x≠yx \neq y, tập các điểm ux+vyux + vy sao cho u>0,v>0u > 0, v > 0 và u+v=1u + v = 1 được gọi (một cách nói lỏng) là đoạn mở có hai đầu mút x,yx, y; nó đồng phôi với khoảng mở ]0,1[0, 1[ (và do đó cũng đồng phôi với R\mathbf{R}). Cuối cùng, hợp của {y}\{y\} và đoạn mở có hai đầu mút x,yx, y đôi khi được gọi là đoạn mở tại xx và đóng tại yy; nó đồng phôi với khoảng [0,1[[0, 1[. Mọi đoạn có xx và yy làm hai đầu mút đều liên thông, và bao đóng của mỗi đoạn ấy là đoạn đóng có cùng hai đầu mút.

Mệnh đề 3

Cho f(x)=f(x1,x2,…,xn)f(x) = f(x_1, x_2, \ldots, x_n) là một đa thức với hệ số thực, không đồng nhất bằng không, xác định trên Rn\mathbf{R}^n. Khi đó phần bù của tập f‾(0)\overline{f}(0) là trù mật trong Rn\mathbf{R}^n.

Cho xx là một điểm bất kỳ của Rn\mathbf{R}^n và cho y∈Rny \in \mathbf{R}^n sao cho f(y)≠0f(y) \neq 0; φ(t)=f(x+t(y−x))\varphi(t) = f(x + t(y - x)) là một đa thức theo biến thực tt, không đồng nhất bằng không; do đó tồn tại các giá trị của tt tùy ý nhỏ sao cho φ(t)≠0\varphi(t) \neq 0. Điều này cho thấy rằng xx nằm trong bao đóng của phần bù của f‾(0)\overline{f}(0).

Hệ quả

Phần bù của một tập tuyến tính afin có chiều p<np < n là trù mật trong Rn\mathbf{R}^n. \

Vì mọi tập tuyến tính afin có chiều p<np < n đều được chứa trong một siêu phẳng, nên chỉ cần chứng minh hệ quả cho một siêu phẳng; nhưng một siêu phẳng được xác định bởi một phương trình g(x)=0g(x) = 0, trong đó gg là một đa thức tuyến tính không đồng nhất bằng không.

Mệnh đề 4

Trong Rn\mathbf{R}^n (n≥1n \geq 1) phần bù của mọi siêu phẳng có hai thành phần liên thông.

Cho g(x)=0g(x) = 0 là một phương trình của một siêu phẳng HH trong Rn\mathbf{R}^n, với gg là một đa thức tuyến tính. Tập CHCH là hợp của tập E1E_1 gồm mọi điểm xx sao cho g(x)>0g(x) > 0 và tập E2E_2 gồm mọi điểm xx sao cho g(x)<0g(x) < 0. E1E_1 và E2E_2 là liên thông, vì nếu g(x)>0g(x) > 0 và g(y)>0g(y) > 0 thì ta có g(ux+vy)=ug(x)+vg(y)>0g(ux + vy) = ug(x) + vg(y) > 0 mỗi khi u≥0,v≥0u \geq 0, v \geq 0 và u+v=1u + v = 1; nói cách khác, đoạn thẳng có hai đầu mút xx và yy được chứa trong E1E_1. Tương tự đối với E2E_2. Mặt khác, CHCH không liên thông, vì ảnh của nó trong R\mathbf{R} qua gg là hợp của các khoảng ]0,+∞0, +\infty [ và ]−∞,0-\infty, 0 [.

Các thành phần E1,E2E_1, E_2 của phần bù của một siêu phẳng HH được gọi là các nửa không gian mở được xác định bởi HH.

Các bao đóng của E1E_1 và E2E_2, tức là lần lượt E1∪HE_1 \cup H và E2∪HE_2 \cup H, được gọi là các nửa không gian đóng được xác định bởi HH.

Nhận thấy rằng một ánh xạ afin của Rn\mathbf{R}^n lên chính nó, biến HH thành một siêu phẳng "tọa độ", chẳng hạn siêu phẳng có phương trình là xn=0x_n = 0, cũng biến các nửa không gian mở được xác định bởi HH thành các nửa không gian mở được xác định lần lượt bởi các quan hệ xn>0x_n > 0 và xn<0x_n < 0; các nửa không gian sau là các hộp mở và do đó đồng phôi với Rn\mathbf{R}^n.

5. Tôpô của các không gian vectơ và đại số trên trường R\mathbf{R}

Cho EE là một không gian vectơ có chiều nn trên trường R\mathbf{R}; nếu (ai)1≤i≤n(a_i)_{1 \leq i \leq n} là một cơ sở của EE, thì mỗi điểm x∈Ex \in E đều viết duy nhất được dưới dạng x=∑i=1nxiaix = \sum_{i=1}^n x_i a_i, trong đó các xix_i là những số thực; do đó ánh xạ (xi)→∑i=1nxiai(x_i) \to \sum_{i=1}^n x_i a_i là một ánh xạ tuyến tính song ánh của Rn\mathbf{R}^n lên EE.

Nếu ta phép chuyển tôpô của Rn\mathbf{R}^n sang EE bằng ánh xạ này, thì EE được trang bị một tôpô tương thích với cấu trúc nhóm cộng của nó, và ánh xạ (t,x)→tx(t, x) \to tx từ R×E\mathbf{R} \times E vào EE là liên tục đối với tôpô này. Tôpô này không phụ thuộc vào cơ sở được chọn trong EE; vì nếu (a′)(a') là một cơ sở khác của EE, và nếu x=∑i=1nxi′ai′=∑i=1nxiaix = \sum_{i=1}^n x'_i a'_i = \sum_{i=1}^n x_i a_i, thì ánh xạ (xi)→(xi′)(x_i) \to (x'_i) của Rn\mathbf{R}^n lên chính nó là tuyến tính và do đó là một đồng phôi.

Sự kiện này khiến người ta ngờ rằng tôpô được định nghĩa như vậy trên EE có thể được đặc trưng hóa mà không cần đến cơ sở của EE. Thật vậy, về sau ta sẽ thấy rằng đây là tôpô Hausdorff duy nhất trên EE sao cho các hàm x−yx - y (trên E×EE \times E) và txtx (trên R×E\mathbf{R} \times E) liên tục.

Nếu bây giờ AA là một đại số có hạng hữu hạn nn trên trường R\mathbf{R}, thì tôpô ở trên trên AA (xem như một không gian vectơ nn-chiều trên R\mathbf{R}) tương thích không những với cấu trúc nhóm cộng của AA, mà còn với cấu trúc vành của nó. Đây là hệ quả của kết quả tổng quát hơn sau đây:

Mệnh đề 5

Cho E,F,GE, F, G là ba không gian vectơ hữu hạn chiều trên trường R\mathbf{R}. Khi đó mọi ánh xạ song tuyến tính (*) ff từ E×FE \times F vào GG đều liên tục.

Ta có thể giả sử rằng E=Rm,F=Rn,G=RpE = \mathbf{R}^m, F = \mathbf{R}^n, G = \mathbf{R}^p; chỉ cần chứng minh rằng các tọa độ trong Rp\mathbf{R}^p của f(x,y)f(x, y) là những hàm liên tục của (x,y)∈E×F(x, y) \in E \times F (Chương I, § 4, no. 1, Mệnh đề 1). Nói cách khác, chỉ cần chứng minh rằng mọi dạng song tuyến tính gg đều liên tục trên E×FE \times F; và điều này là ngay lập tức, vì g(x,y)g(x, y) là một đa thức theo các tọa độ của xx và yy.

6. Tôpô của các không gian ma trận trên R\mathbf{R}

Một ví dụ quan trọng của một không gian vectơ trên R\mathbf{R} là không gian Mm,n(R)\mathbf{M}_{m,n}(\mathbf{R}) của các ma trận với m hàng và n cột mà các phần tử của chúng thuộc R\mathbf{R}; đây là một không gian có chiều mnmn trên R\mathbf{R}, do đó đồng phôi với Rmn\mathbf{R}^{mn}. Theo Mệnh đề 5 của § 5, tích X.YX.Y của hai ma trận X∈Mm,n(R),Y∈Mn,p(R)X \in \mathbf{M}_{m,n}(\mathbf{R}), Y \in \mathbf{M}_{n,p}(\mathbf{R}) là một hàm liên tục của (X,Y)(X, Y). Đặc biệt, tôpô của không gian Mn(R)\mathbf{M}_n(\mathbf{R}) các ma trận vuông cấp nn tương thích với cấu trúc vành trên Mn(R)\mathbf{M}_n(\mathbf{R}). Hơn nữa:

Mệnh đề 6

Trong vành Mn(R)\mathbf{M}_n(\mathbf{R}), nhóm GLn(R)\mathbf{GL}_n(\mathbf{R}) của các ma trận không suy biến là một tập con mở trù mật, và tôpô cảm sinh trên tập này tương thích với cấu trúc nhóm của nó.

(* ) Nếu E,F,GE, F, G là ba không gian vectơ trên một trường KK, một ánh xạ ff từ E×FE \times F vào GG được gọi là song tuyến tính nếu ta có đồng nhất

f(x+x′,y)=f(x,y)+f(x′,y),f(x,y+y′)=f(x,y)+f(x,y′), f(x + x', y) = f(x, y) + f(x', y), \quad f(x, y + y') = f(x, y) + f(x, y'),
f(λx,y)=f(x,λy)=λf(x,y) f(\lambda x, y) = f(x, \lambda y) = \lambda f(x, y)
với mọi x,x′∈Ex, x' \in E, mọi y,y′∈Fy, y' \in F và mọi λ∈K\lambda \in K.

Nếu XX là một ma trận vuông khả nghịch, các phần tử của X−1X^{-1} là các hàm hữu tỉ của các phần tử của XX; do đó các hàm này được xác định và liên tục trong một lân cận của XX, nên mọi ma trận YY trong lân cận này đều khả nghịch, và ánh xạ Y→Y−1Y \to Y^{-1} liên tục tại điểm XX; suy ra GLn(R)\mathbf{GL}_n(\mathbf{R}) là một tập mở trong Mn(R)\mathbf{M}_n(\mathbf{R}) và tôpô của GLn(R)\mathbf{GL}_n(\mathbf{R}) tương thích với cấu trúc nhóm của nó.

Cuối cùng, GLn(R)\mathbf{GL}_n(\mathbf{R}) là phần bù của tập hợp các ma trận vuông XX có định thức bằng không; vì định thức của XX là một đa thức theo các phần tử của XX, Mệnh đề 3 của no. 4 cho thấy rằng GLn(R)\mathbf{GL}_n(\mathbf{R}) trù mật trong Mn(R)\mathbf{M}_n(\mathbf{R}).

Bài tập

Xem bài tập cho § 1.

Machine translation of the English, by gpt-5.4-mini, against glossary version 34. Not checked by a person. That model is a cut down version of the one the rest of this language was written by.