Cho G là một nhóm tôpô và cho X là không gian Banach của các ánh xạ liên tục bị chặn của G vào C được trang bị chuẩn
∣∣f∣∣=s∈Gsup∣f(s)∣. Với mỗi
f∈X và mỗi
s∈G, gọi
Usf là hàm
t→f(s−1t), thuộc X, sao cho các
Us, khi s chạy qua G, tạo thành một nhóm các đẳng cự
G′ của X. Một phần tử
f∈X được gọi là một hàm gần tuần hoàn (bên trái) trên G nếu f là một phần tử gần tuần hoàn của X đối với nhóm
G′. Để điều này xảy ra, điều kiện cần và đủ là, với mỗi
ε>0, tồn tại một số hữu hạn các phần tử
si∈G có tính chất rằng, với mỗi
s∈G, có ít nhất một chỉ số i sao cho
∣f(s−1t)−f(si−1t)∣≤ε với mọi
t∈G.
a) Giả sử rằng f là tuần hoàn gần. Cho Y là bao đóng trong X của quỹ đạo của f dưới G′, và cho Γ là bao đóng trong Cu(Y;Y) của tập hợp các hạn chế Vs của các Us lên Y (s∈G). Với mỗi σ∈Γ, cho fσ∈Y là ảnh của f qua σ. Với mỗi s∈G, ta có
fσ(t)=Us−1fσ(s−1t). Suy ra rằng có một hàm liên tục
fˉ trên
Γ sao cho
f(s)=fˉ(Vs) [dùng Bài tập 27 c)].
b) Dùng a) để chứng minh rằng một hàm f∈X là tuần hoàn gần trên G khi và chỉ khi nó có dạng g∘φ, trong đó φ là ánh xạ chính tắc của G vào nhóm compact Gc liên kết với G (Lý thuyết tập hợp, Chương IV, § 3, no. 3, Ví dụ 8) và g là một ánh xạ liên tục từ Gc vào C.
c) Lấy G là nhóm cộng R. Chứng minh rằng nếu f là tuần hoàn gần trên R, thì với mỗi ε>0 tồn tại một số thực T > 0 sao cho mọi khoảng của R có độ dài T đều chứa một số s sao cho
∣f(x+s)−f(x)∣≤εvới mọi x∈R
(s được gọi là một “ε-chu kỳ” của f). [Dùng b) và Bài tập 2 của Chương V, § 1.]