§ 4. Các quan hệ giữa các tích tenxơ và các môđun đồng cấu
1. Các đẳng cấu HomB(E⊗AF,G)→HomA(F,HomB(E,G)) và Homc(E⊗AF,G)→HomA(E,Homc(F,G))
Cho E là một A-môđun phải, F là một A-môđun trái, G là một Z-môđun và H là Z-môđun các ánh xạ f:E×F→G song tuyến tính trên Z và thỏa mãn
(1)
f(xλ,y)=f(x,λy)cho x∈E,y∈F,λ∈A.
Đã thấy (§ 3, no. 1, Mệnh đề 1) rằng tồn tại một đồng cấu Z-môđun chính tắc
(2)
H→HomZ(E⊗AF,G).
Mặt khác, một cấu trúc A-môđun trái đã được đưa vào trên HomZ(E,G) và một cấu trúc A-môđun phải trên HomZ(F,G) (§ 3, no. 3); do đó ta có thể xét các Z-môđun HomA(E,HomZ(F,G)) và HomA(F,HomZ(E,G)). Một ánh xạ f của E×F vào G được đồng nhất một cách chính tắc với một ánh xạ của E vào tập hợp GF các ánh xạ từ F vào G (Lý thuyết tập hợp, II, § 5, no. 2); bằng cách biểu diễn sự kiện rằng ánh xạ sau thuộc về HomA(E,HomZ(F,G)), ta thu được chính xác sự kiện rằng f là song cộng tính và các điều kiện (1); do đó có một đẳng cấu chính tắc
(3)
H→HomA(E,HomZ(F,G))
và tương tự có một đẳng cấu chính tắc được xác định
(4)
H→HomA(F,HomZ(E,G)).
Giả sử bây giờ rằng E và G cũng có các cấu trúc B-môđun trái (tương ứng phải) và rằng các cấu trúc A-môđun và B-môđun trên E là tương thích. Khi đó E⊗AF có một cấu trúc B-môđun trái (tương ứng phải) một cách chính tắc (§ 3, no. 4) và mặt khác HomB(E,G) có một cấu trúc A-môđun trái một cách chính tắc (§ 1, no. 14). Do đó ta có thể xét các Z-môđun HomB(E⊗AF,G) và HomA(F,HomB(E,G)), lần lượt là các môđun con của HomZ(E⊗AF,G) và HomA(F,HomZ(E,G)) (§ 2, no. 1, Định lý 2). Ta xét điều kiện để một ánh xạ f∈H có ảnh qua các đẳng cấu (2) và (4) là một phần tử của HomB(E⊗AF,G) và một phần tử của HomA(E,HomB(F,G)) tương ứng; trong mỗi trường hợp trong hai trường hợp ta tìm được cùng một điều kiện
f(βx,y)=βf(x,y)
(tương ứng f(xβ,y)=f(x,y)β)
cho x∈E,y∈F,β∈B.
Tương tự, giả sử rằng F và G là các C-môđun trái (tương ứng phải) và rằng các cấu trúc A-môđun và C-môđun trên F là tương thích. Khi đó, để một ánh xạ f∈H có ảnh qua (2) hoặc (3) là một phần tử của HomC(E⊗AF,G) hoặc HomA(E,HomC(F,G)) tương ứng, điều kiện cần và đủ là nó thỏa mãn cùng một điều kiện
f(x,γy)=γf(x,y)
(tương ứng f(x,yγ)=f(x,y)γ)
cho x∈E,y∈F,γ∈C.
Do đó ta đã thiết lập được kết quả sau (với ký hiệu đã đưa vào ở trên):
Mệnh đề 1
(a) *Cho E là một (B, A)-song môđun, F là một A-môđun trái và G là một B-môđun trái. Với mọi ánh xạ g∈HomB(E⊗AF,G), gọi g′ là ánh xạ từ F vào HomB(E,G) được xác định bởi (g′(y))(x)=g(x⊗y) với x∈E,y∈F. Ánh xạ g↦g′ là một đẳng cấu
(5)
β:HomB(E⊗AF,G)→HomA(F,HomB(E,G)).
(b) Cho E là một A-môđun phải, F là một (A, C)-song môđun và G là một C-môđun phải. Với mọi ánh xạ h∈HomC(E⊗AF,G), gọi h′ là ánh xạ từ E vào HomC(F,G) được xác định bởi (h′(x))(y)=h(x⊗y) với x∈E,y∈F. Ánh xạ h↦h′ là một đẳng cấu
(6)
γ:HomC(E⊗AF,G)→HomA(E,HomC(F,G)).
Đặc biệt B và C có thể được lấy là một vành con Γ của tâm của vành A; khi đó với mọi Γ-môđun G, ba Γ-môđun
đẳng cấu chính tắc với môđun Γ của các ánh xạ Γ-*song tuyến tính* từ E×F vào G thỏa mãn (1). Cụ thể hơn:
Hệ quả
Nếu C là một vành giao hoán và E, F, G là ba C-môđun, thì các C-môđun*
HomC(E⊗CF,G),HomC(E,HomC(F,G)),
HomC(F,HomC(E,G)),L2(E,F;G)
*đều đẳng cấu chính tắc.
2. Đồng cấu** E∗⊗AF→HomA(E,F)
Cho A, B là hai vành, E là một A-môđun trái, F là một B-môđun trái và G là một (A, B)-*song môđun*. Z-môđun HomA(E,G) có một cấu trúc B-môđun phải một cách chính tắc (§ 1, no. 14) sao cho (uβ)(x)=u(x)β với β∈B, u∈HomA(E,G), x∈E. Mặt khác, G⊗BF có một cấu trúc A-môđun trái một cách chính tắc (§ 3, no. 4). Ta sẽ định nghĩa một Z-đồng cấu chính tắc
ν:HomA(E,G)⊗BF→HomA(E,G⊗BF).
Để làm điều đó, ta xét, với mọi y∈F và mọi u∈HomA(E,G), ánh xạ ν′(u,y):x↦u(x)⊗y của E lên G⊗BF. Ngay lập tức kiểm tra được rằng ν′(u,y) là A-tuyến tính và rằng ν′ là một ánh xạ Z-song tuyến tính của HomA(E,G)×F vào HomA(E,G⊗BF); hơn nữa, với mọi β∈B, ν′(uβ,y) và ν′(u,βy) bằng nhau, vì (u(x)β)⊗y=u(x)⊗(βy). Ta kết luận (§ 3, no. 1, Mệnh đề 1) sự tồn tại của đồng cấu mong muốn ν sao cho ν(u⊗y) là ánh xạ A-tuyến tính x↦u(x)⊗y.
Ngay lập tức kiểm tra được rằng, nếu E là một (A, (C'_i); (D'_j))-đa môđun, F là một (B, (C''_h); (D''_k))-đa môđun và G là một (A, (C'''_1); B, (D'''_m))-đa môđun, thì ánh xạ (7) là một đồng cấu đa môđun ((D'_j), (C''_h), (C'''_1); (C'_i), (D''_k), (D'''_m)).
Mệnh đề 2
(i) *Khi F là một xạ ảnh (resp. xạ ảnh sinh hữu hạn) B-môđun, thì đồng cấu chính tắc (7) là đơn ánh (resp. song ánh).
(ii) Khi E là một A-môđun xạ ảnh sinh hữu hạn, thì đồng cấu chính tắc (7) là song ánh.
Giữ cố định E và G, với mọi B-môđun trái F, ta viết
T(F)=HomA(E,G)⊗BF,T′(F)=HomA(E,G⊗BF);
với mọi đồng cấu B-môđun trái u:F→F′, ta viết T(u)=1⊗u (1 ở đây chỉ ánh xạ đồng nhất của HomA(E,G)),
T′(u)=Hom(1E,1G⊗u);
mặt khác ta viết νF thay cho ν. Khi đó ta có các bổ đề sau:
Bổ đề 1
Với mọi đồng cấu u:F→F′, biểu đồ
T(F)↓T(u)T(F′)νFνF′T′(F)↓T′(u)T′(F′)
là giao hoán.
Việc kiểm tra là ngay lập tức.
Bổ đề 2
Cho M,N là hai môđun con bù nhau trong F và i:M→F,j:N→F là các phép nhúng chính tắc. Biểu đồ
Tính giao hoán suy ra từ Bổ đề 1, các khẳng định còn lại suy ra từ § 1, no. 6, Hệ quả 2 của Mệnh đề 6 và § 3, no. 7, Mệnh đề 7.
Bổ đề 3
Với các giả thiết của Bổ đề 2, để νF là đơn ánh (resp. toàn ánh), điều kiện cần và đủ là νM và νN cũng có tính chất đó.
Điều này suy ra từ Bổ đề 2 và § 1, no. 6, Hệ quả 1 của Mệnh đề 6.
Khi đó Bổ đề 3, cùng với § 2, no. 2, Mệnh đề 4, cho thấy chỉ cần xét trường hợp F là một môđun tự do. Nhưng, nếu (bμ) là một cơ sở của F, thì mọi phần tử của HomA(E,G)⊗BF khi đó đều được viết duy nhất dưới dạng ∑μuμ⊗bμ, trong đó uμ∈HomA(E,G) (§ 3, no. 7, Hệ quả 1 của Mệnh đề 7); ảnh của phần tử này qua ν là ánh xạ A-tuyến tính x↦∑μuμ(x)⊗bμ; nó không thể bằng không với mọi x∈E trừ khi uμ(x)=0 với mọi x∈E và mọi μ, điều này tương đương với việc nói rằng uμ=0 với mọi μ; do đó ν là đơn ánh. Khi F cũng có một cơ sở hữu hạn, Bổ đề 3 cho thấy (bằng quy nạp theo số phần tử trong cơ sở của F) rằng để chứng minh ν là toàn ánh, chỉ cần làm điều đó khi F=Bs; nhưng trong trường hợp này hai vế của (7) được đồng nhất một cách chính tắc với HomA(E,G) (§ 3, no. 4, Mệnh đề 4) và ν trở thành ánh xạ đồng nhất.
(ii) Để chứng minh mệnh đề khi E là xạ ảnh và sinh hữu hạn, lần này ta cố định F và G và viết, với mọi A-môđun trái E,
T(E)=HomA(E,G)⊗BF,T′(E)=HomA(E,G⊗BF)
và, với mọi đồng cấu môđun trái Av:E→E′,
T(v)=Hom(v,1G)⊗1F,T′(v)=Hom(v,1G⊗1F);
mặt khác, ta viết νE thay cho ν. Khi đó ta có hai bổ đề sau:
Bổ đề 4
Với mọi đồng cấu v:E→E′, biểu đồ
T(E′)↓T(v)T(E)νE′νET′(E′)↓T′(v)T′(E)
là giao hoán.
Bổ đề 5
Cho M và N là hai môđun con bù nhau trong E và p:E→M,q:E→N là các phép chiếu chính tắc. Biểu đồ
Chúng được chứng minh như các Bổ đề 1 và 2, có tính đến § 1, no. 6, Hệ quả 2 của Mệnh đề 6, § 2, no. 1, Mệnh đề 1 và § 3, no. 7, Mệnh đề 7.
Phần còn lại của chứng minh được tiến hành như trong (i) và quy về trường hợp E=As; khi đó hai vế của (7) được đồng nhất một cách chính tắc với G⊗BF và ν trở thành ánh xạ đồng nhất.
Đặc biệt, lấy B=A và G là (A,A)-song môđun sAd (§3, no. 4), nên A-môđun phải HomA(E,sAd) chỉ là đối ngẫu E∗ của E và (sAd)⊗AF được đồng nhất một cách chính tắc với F (§3, no. 4, Mệnh đề 4). Đồng cấu (7) khi đó trở thành một đồng cấu chính tắc Z
(11)
θ:E∗⊗AF→HomA(E,F)
và θ(x∗⊗y) là ánh xạ tuyến tính từ E vào F
x↦⟨x,x∗⟩y.
Nhận xét (1). Đặc trưng hóa các xạ ảnhA-môđun được cho trong §2, no. 6, Mệnh đề 12, cũng có thể được phát biểu như sau: để một trái A-môđun E là xạ ảnh, điều cần và đủ là đồng cấu chính tắc
θE:E∗⊗AE→HomA(E,E)=EndA(E)
sao cho 1E thuộc ảnh của θE.
Hệ quả
(i) Khi F là một môđun xạ ảnh (resp. môđun xạ ảnh sinh hữu hạn) thì đồng cấu chính tắc (11) là đơn ánh (resp. song ánh). (ii) Khi E là một môđun xạ ảnh sinh hữu hạn, thì đồng cấu chính tắc (11) *là song ánh.
Ngay cả khi E và F đều sinh hữu hạn, θ cũng không nhất thiết toàn ánh, như được chỉ ra bởi ví dụ A=Z,E=F=Z/2Z; vế phải của (11) khác không nhưng E∗=0. Mặt khác, có thể cho ví dụ trong đó E là tự do, nhưng (11) vừa không đơn ánh vừa không toàn ánh (Bài tập 3(b)).
Khi E có một cơ sở hữu hạn (ei), đẳng cấu nghịch đảo θ−1 của θ có thể được tìm một cách tường minh như sau. Gọi (ei∗) là cơ sở đối ngẫu của (ei) (§ 2, no. 6); với mọi u∈Hom(E,F) và mọi x=∑iξiei với ξi∈A,
u(x)=i∑ξiu(ei)=i∑⟨x,ei∗⟩u(ei)
và do đó u=∑iθ(ei∗⊗u(ei)), nói cách khác
θ−1(u)=i∑ei∗⊗u(ei).
Đặc biệt, nếu thêm F=E, thì thấy rằng ảnh của ánh xạ đồng nhất 1E qua θE−1 là phần tử ∑iei∗⊗ei, và do đó độc lập với cơ sở (ei) được xét trong E.
Chú ý mặt khác rằng khi E là một môđun xạ ảnh sinh hữu hạn thì cấu trúc vành trên EndA(E) có thể được chuyển bởi θE−1 sang E∗⊗AE; ngay lập tức kiểm tra được rằng, với x,y trong E, x∗,y∗ trong E∗, trong vành EndA(E),
θE(x∗⊗x)∘θE(y∗⊗y)=θE((y∗⟨y,x∗⟩)⊗x).
Nhận xét (2). Cho E là một A-môđun phải; thay thế E bằng E∗ trong (11), ta thu được một đồng cấu chính tắc Z
E∗∗⊗AF→HomA(E∗,F).
Mặt khác, có một A-đồng cấu chính tắc cE:E→E∗∗, do đó có một Z-đồng cấu cE⊗1F:E⊗AF→E∗∗⊗AF; hợp đồng cấu sau với đồng cấu (14), ta suy ra một Z-đồng cấu chính tắc
θ′:E⊗AF→HomA(E∗,F)
sao cho θ′(x⊗y) là ánh xạ tuyến tính
x∗↦⟨x,x∗⟩y.
Nếu E và F là các môđun xạ ảnh, thì ánh xạ (15) là đơn ánh. Thật vậy, cE khi đó là đơn ánh (§ 2, no. 7, Hệ quả 4 của Mệnh đề 13) và vì F là xạ ảnh, nên Z-đồng cấu cE⊗1F:E⊗AF→E∗∗⊗AF cũng là đơn ánh (§ 3, no. 7, Hệ quả 6 của Mệnh đề 7); cuối cùng, đã thấy (Mệnh đề 2) rằng đồng cấu (14) là đơn ánh, do đó suy ra kết luận.
Nếu E là xạ ảnh và sinh hữu hạn, thì ánh xạ (15) là song ánh vì hai ánh xạ mà nó gồm thành khi đó đều song ánh (§ 2, no. 7, Hệ quả 4 của Mệnh đề 13 và Mệnh đề 2 ở trên).
3. Vết của một tự đồng cấu
Cho C là một vành giao hoán và E là một C-môđun. Ánh xạ (x∗,x)↦⟨x,x∗⟩ từ E∗×E vào C khi đó là C*-song tuyến tính*, vì, với mọi γ∈C, ⟨γx,x∗⟩=γ⟨x,x∗⟩ và ⟨x,x∗γ⟩=⟨x,x∗⟩γ; suy ra một ánh xạ C*-tuyến tính* chính tắc
τ:E∗⊗CE→C
sao cho τ(x∗⊗x)=⟨x,x∗⟩ (§ 3, no. 5). Giả sử nay thêm rằng E là một C-môđun xạ ảnh sinh hữu hạn; đẳng cấu chính tắc (11) của no. 2 khi đó là một đẳng cấu C*-môđun* và vì thế ta có thể định nghĩa bằng cách chuyển cấu trúc một dạng tuyến tính chính tắcTr=τ∘θE−1 trên C-môđun EndC(E). Với mọi u∈EndC(E) thì vô hướng Tr(u) được gọi là vết của tự đồng cấu u; mọi u∈EndC(E) đều có thể viết được (nói chung theo vô số cách) dưới dạng x↦∑i⟨x,xi∗⟩yi trong đó xi∗∈E∗ và yi∈Ei do kết quả của no. 2, Hệ quả của Mệnh đề 2; khi đó
Tr(u)=i∑⟨yi,xi∗⟩(xem § 10, no. 11).
Theo định nghĩa,
Tr(u+v)=Tr(u)+Tr(v)
Tr(γu)=γTr(u)
đối với u,v trong EndC(E) và γ∈C. Hơn nữa:
Mệnh đề 3
Cho C là một vành giao hoán, E,F là hai C*-môđun* xạ ảnh sinh hữu hạn và u:E→F cùng v:F→E là hai ánh xạ tuyến tính; khi đó
Tr(v∘u)=Tr(u∘v).
Hai ánh xạ (u,v)↦Tr(u∘v),(u,v)↦Tr(v∘u) từ
HomC(E,F)×HomC(F,E)
vào C là C*-song tuyến tính*; do đó chỉ cần kiểm tra (20) khi u có dạng x↦⟨x,a∗⟩b và v có dạng y↦⟨y,b∗⟩a, với a∈E,a∗∈E∗,b∈F,b∗∈F∗. Nhưng khi đó v∘u là ánh xạ x↦⟨x,a∗⟩⟨b,b∗⟩a và u∘v là ánh xạ y↦⟨y,b∗⟩⟨a,a∗⟩b. Công thức (17) chỉ ra rằng các giá trị của hai vế của (20) đều bằng ⟨a,a∗⟩⟨b,b∗⟩.
Hệ quả
Nếu u1,…,up là các tự đồng cấu của E, thì
Tr(u1∘u2∘⋯∘up)=Tr(ui∘ui+1∘⋯∘up∘u1∘⋯∘ui−1)
với1≤i≤p ("tính bất biến của vết đối với phép hoán vị chu kỳ").
Chỉ cần áp dụng (20) cho tích
(u1∘u2∘⋯∘ui−1)∘(ui∘ui+1∘⋯∘up).
Chú ý rằng mặt khác không nhất thiết đúng rằng
Tr(u∘v∘w)=Tr(u∘w∘v)
với ba tự đồng cấu u,v,w của E.
4. Đồng cấu Homc(E1,F1)⊗cHomc(E2,F2)→Homc(E1⊗cE2,F1⊗cF2)
Cho C là một vành giao hoán và E1,E2,F1,F2 là bốn C-môđun; trong § 3, no. 5, công thức (13) ta đã định nghĩa một đồng cấu C-môđun chính tắc
Khi một trong các cặp có thứ tự* (E1,E2),(E1,F1),(E2,F2)gồm các C-môđun xạ ảnh sinh hữu hạn, đồng cấu chính tắc (21) *là song ánh.
Hiển nhiên chỉ cần thực hiện chứng minh cho các cặp có thứ tự (E1,F1) và (E1,E2).
Trước hết ta xét trường hợp của cặp có thứ tự (E1,F1); ta cố định E2,F1,F2 và viết với mọi C-môđun T(E)=Hom(E,F1)⊗cHom(E2,F2) và T′(E)=Hom(E⊗E2,F1⊗F2) và, với mọi đồng cấu C-môđun v:E→E′,
T(v)=Hom(v,1F1)⊗1Hom(E2,F2)
và
T′(v)=Hom(v⊗1E2,1F1⊗F2).
Khi đó Các Bổ đề 4 và 5 (no. 2) (trong đó v được thay bởi λ) đều đúng và được chứng minh bằng các phương pháp hoàn toàn tương tự.
Tiếp theo ta cố định E2 và F2 và lần này viết, với mọi C-môđun F,
T(F)=Hom(C,F)⊗cHom(E2,F2)
và T′(F)=Hom(C⊗E2,F⊗F2) và, với mọi đồng cấu C-môđun u:F→F′,
T(u)=Hom(1C,u)⊗1Hom(E2,F2)
và
T′(u)=Hom(1C⊗1E2,u⊗1F2).
Lần này ta kiểm tra ngay lập tức rằng Các Bổ đề 1 và 2 (no. 2) (trong đó λ luôn thay thế v) đều đúng.
Do đó, ta chứng minh mệnh đề trước hết khi E1=C và F1 là xạ ảnh và sinh hữu hạn. Lập luận của no. 2 (dựa trên Các Bổ đề 1 và 2), cùng với các nhận xét trên, quy về việc chứng minh mệnh đề khi đồng thời F1=C; khi đó Hom(E1,F1),E1⊗E2 và F1⊗F2 lần lượt được đồng nhất với C, E2 và F2 (§ 3, no. 4, Mệnh đề 4); hai vế của (21)
ĐỒNG CẤU Homc(E1,F1)⊗cHom(E2,F2)
khi đó đều được đồng nhất một cách chính tắc với Hom(E2,F2) và, sau các phép đồng nhất này, ta kiểm tra được rằng λ trở thành đồng nhất.
Bây giờ giả sử rằng F1 là xạ ảnh và sinh hữu hạn; lập luận của no. 2 (lần này dựa vào Các Bổ đề 4 và 5) quy việc chứng minh đối với E1 là một môđun xạ ảnh sinh hữu hạn tùy ý về trường hợp E1=C, tức là trường hợp đầu tiên đã xét.
Đối với cặp có thứ tự (E1,E2), quy trình tương tự, lần này áp dụng Các Bổ đề 4 và 5 hai lần; ta để lại các chi tiết cho người đọc.
Chú ý rằng khi E1=C(I), E2=C(J) là tự do (sinh hữu hạn hoặc không), thì Hom(E1,F1)=F1I, Hom(E2,F2=F2J và
Hom(E1⊗E2,F1⊗F2)=(F1⊗F2)I×J
sai khác một đẳng cấu chính tắc và (21) khi đó trùng với một trường hợp đặc biệt của đồng cấu chính tắc (22) của § 3, no. 7.
Khi E2=C, đồng cấu chính tắc (21) cho, sau khi đồng nhất Hom(E2,F2) với F2 và E1⊗E2 với E1, một đồng cấu chính tắc
Hom(E,F)⊗G→Hom(E,F⊗G)
đối với bất kỳ ba C-môđun E,F,G nào, và đó chính là đồng cấu (7) của no. 2 cho A=B=C.
Chú ý rằng khi F=C thì đồng cấu chính tắc (22) lại cho (11) (no. 2) trong trường hợp của một vành giao hoán.
Giả sử bây giờ F1=F2=C; vì F1⊗F2 được đồng nhất với C, lần này có một đồng cấu chính tắc
μ:E∗⊗F∗→(E⊗F)∗
cho hai C-môđun E,F; với x∗∈E∗,y∗∈F∗, ảnh của x∗⊗y∗ dưới đồng cấu chính tắc (23) là dạng tuyến tính u trên E⊗F sao cho
u(x⊗y)=⟨x,x∗⟩⟨y,y∗⟩.
Hơn nữa, nếu E1,E2,F1,F2 là bốn C-môđun, f:E1→E2,g:F1→F2 là hai ánh xạ tuyến tính, thì ngay lập tức từ (24) suy ra biểu đồ
Nếu một trong các môđun E, F là xạ ảnh và sinh hữu hạn, thì đồng cấu chính tắc (23) là song ánh.
Hệ quả 2
Cho E₁, E₂ là hai C-môđun xạ ảnh sinh hữu hạn, u₁ là một tự đồng cấu của E₁ và u₂ là một tự đồng cấu của E₂; khi đó
Tr(u1⊗u2)=Tr(u1)Tr(u2).
Do tính tuyến tính, chỉ cần xét trường hợp u1 có dạng x1↦⟨x1,x1∗⟩y1 và u2 có dạng x2↦⟨x2,x2∗⟩y2; khi đó ảnh của x1⊗x2 dưới u1⊗u2 theo định nghĩa là
x1∗⊗x2∗ được đồng nhất một cách chính tắc dưới μ với một phần tử của (E1⊗E2)∗. Vì ⟨y1⊗y2,x1∗⊗x2∗⟩=⟨y1,x1∗⟩⟨y2,x2∗⟩, nên công thức (26) suy ra trong trường hợp này từ (17).
Nhận xét
Nếu E, F, G là bất kỳ ba C-môđun nào, thì ngay lập tức kiểm tra được rằng biểu đồ
E∗⊗F∗⊗G∗1⊗μ↓E∗⊗(F⊗G)∗μ⊗1μ(E⊗F)∗⊗G∗↓μ(E⊗F⊗G)∗
là giao hoán, nhờ công thức (24).
Ta cũng lưu ý rằng, không có giả thiết nào về các C-môđun E, F, có các đẳng cấu chính tắc
(28)
(E⊗F)∗→Hom(E,F∗)
(29)
(E⊗F)∗→Hom(F,E∗)
vốn chỉ là đẳng cấu (6) và (5) của no. 1 cho G = C, A = B = C.
Do đó đã được xác định một sự tương ứng một-một chính tắc giữa các dạng song tuyến tính trên E × F, các đồng cấu của E vào F và các đồng cấu của F vào E: nếu u (resp. v) là một đồng cấu của E vào F* (resp. của F vào E*), thì dạng song tuyến tính tương ứng được cho bởi