Cho I là một tập hợp. Ta nhắc lại (III, p. 454 and 456) rằng đại số toàn phần của monoïde N(I) trên A được gọi là đại số chuỗi lũy thừa hình thức theo các bất địnhXi(i∈I) (hay theo các bất định Xi) với hệ số trong A. Nó được ký hiệu bởi A[[Xi]]i∈I hoặc A[[((Xi)i∈I]] hoặc cũng bởi A[[X]], khi ký hiệu bởi X họ (Xi)i∈I: trong đoạn này ta chủ yếu sẽ dùng ký hiệu A[[I]]. Đôi khi thuận tiện khi ký hiệu ảnh chính tắc trong A[[I]] của phần tử i của I bằng một ký hiệu khác với Xi, chẳng hạn Yi,Zi,Ti,…; các quy ước dùng trong trường hợp này là tương tự như đối với đa thức (IV, p. 1). Khi đó đại số A[[I]] được ký hiệu bởi A[[Yi]]i∈I, hoặc A[[Y]] v.v.
Khi I là một tập hợp hữu hạn gồm p phần tử, ta cũng nói rằng A[[I]] là một đại số chuỗi lũy thừa hình thức theo p bất định. Với p cố định, các đại số này đều đẳng cấu. Một đại số chuỗi lũy thừa hình thức theo 1, 2, ... bất định cũng sẽ được ký hiệu bởi A[[X]], A[[U,V]], ..., khi tập hợp I các chỉ số không được chỉ rõ.
Theo quy ước, một chuỗi lũy thừa hình thức u được viết u=∑ν∈N(I)aνXν (xem IV, p. 1).
Các αν là hệ số của u; có thể có vô hạn nhiều hệ số trong số đó =0. Các aνXν được gọi là các số hạng của u; để u là một đa thức, điều kiện cần và đủ là u chỉ có một số hữu hạn số hạng =0. Các số hạng aνXν sao cho |ν| = p được gọi là các số hạng có tổng bậc p. Chuỗi lũy thừa hình thức up=∑∣ν∣=pανXν được gọi là thành phần thuần nhất bậc p của u (nó là một đa thức khi I hữu hạn); u0 được đồng nhất với một phần tử của A, cũng được gọi là số hạng hằng của u. Ta nói rằng u là thuần nhất bậc p nếu u=up. Nếu u,v∈A[[I]] và w=uv, ta có
(1)
wp=q+r=p∑uqvr
với mọi số nguyên p≥0.
Ta nhắc lại (III, p. 456) rằng cấpω(u) của một chuỗi lũy thừa hình thức u=0 là số nguyên nhỏ nhất p sao cho up=0. Ta sẽ quy ước thêm vào Z một phần tử viết là ∞ và mở rộng quan hệ thứ tự và phép cộng từ Z sang Z∪{∞} bằng các quy ước
n<∞,∞+∞=∞,∞+n=n+∞=∞
với mọi n∈Z; ta cũng đặt ω(0)=∞. Với các quy ước này, ta có các quan hệ
đối với mọi chuỗi lũy thừa hình thức u và v trong A[[I]].
Ta nhắc lại (III, p. 457) rằng với mọi tập con J của I, ta đồng nhất A[[I]] với A[[I−J]][[J]], điều này cho phép ta định nghĩa cấp ωJ(u) của một chuỗi lũy thừa hình thức đối với các Xj (j∈J), thành phần thuần nhất của u đối với các Xj (j∈J), v.v.
Cho φ là một đồng cấu của A vào một vành B. Ta mở rộng φ thành một đồng cấu φ của A[[I]] vào B[[I]] bằng cách cho mỗi chuỗi lũy thừa hình thức u=∑ανXν tương ứng với chuỗi lũy thừa hình thức ∑φ(αν)Xν; ta nói rằng chuỗi sau thu được bằng cách áp dụngφvào các hệ số của chuỗi lũy thừa hình thức u. Đôi khi ta sẽ viết φu thay cho φ(u).
Đặc biệt nếu A là một vành con của B và φ là đơn ánh chính tắc của A vào B, thì đồng cấu φ của A[[I]] vào B[[I]] là đơn ánh; nói chung ta sẽ đồng nhất A[[I]] với một vành con của B[[I]] nhờ φ.
2. Tôpô trên tập hợp các chuỗi lũy thừa hình thức. Các họ khả tổng
Theo định nghĩa, A[[I]] không là gì khác ngoài tập hợp tích AN(I). Trừ khi có nói rõ ngược lại, ta sẽ trang bị cho A tôpô rời rạc và cho A[[I]] tôpô tích (Gen. Top. I, p. 31 f.) mà ta sẽ gọi là tôpô chính tắc. Được trang bị phép cộng và tôpô rời rạc, A là một nhóm tôpô tách biệt và đầy đủ; do đó đối với phép cộng, A[[I]] là một nhóm tôpô tách biệt và đầy đủ (Gen. Top., III, p. 238 và 242 và Gen. Top., II, p. 187). Hơn nữa đại số A[(Xi)i∈I] các đa thức là trù mật trong A[[I]] (Gen. Top., III p. 238, Prop, 25) và vì thế ta có thể coi A[[I]] như phép hoàn thành của A[(Xi)i∈I].
Với mỗi β∈N(I) ta ký hiệu Sβ là tập hợp các đa chỉ số ν sao cho ν≤β và ký hiệu aβ là tập hợp các chuỗi lũy thừa hình thức u=∑ανXν sao cho aν=0 với ν∈Sβ. Rõ ràng Sβ là một tập con hữu hạn của N(I), và mọi tập con hữu hạn của N(I) đều được chứa trong một tập hợp dạng Sβ. Suy ra họ (aβ)β∈N(I) là một hệ cơ bản các lân cận của 0 trong A[[I]]. Các tập hợp aβ là các iđêan trong A[[I]], do đó (Gen. Top., III, p. 275) A[[I]] là một vành tôpô.
Bổ đề 1
Cho L là một tập vô hạn và (uλ)λ∈L một họ các phần tử của A[[I]], và đặt uλ=∑αλ,vXv với λ∈L. Khi đó các điều kiện sau là tương đương: (i) Họ (uλ)λ∈L là khả tổng (Gen. Top., III, p. 262) trong A[[I]]. (ii) Ta có limuλ=0, lấy theo bộ lọc các phần bù của các tập con hữu hạn của L. (iii) Với mọi ν∈N(I) ta có αλ,ν=0 trừ ra chỉ với một số hữu hạn chỉ số λ∈L.
Khi các điều kiện này được thỏa mãn, chuỗi u=∑λ∈Luλ bằng ∑ανXν với aν=∑λ∈Lαλ,ν với mỗi ν∈N(I).
Tính tương đương của (i) và (ii) suy ra từ Hệ quả 2 của Gen. Top., III, p. 263. Tính tương đương của (ii) và (iii) suy ra từ các tính chất của giới hạn trong một không gian tích (Gen. Top., I, p. 55, Cor. 1). Khẳng định cuối cùng suy ra từ Mệnh đề 4 của Gen. Top., III, p. 266.
Hãy cho một vài ví dụ về các họ khả tổng. a) Cho u∈A[[I]] và gọi aν là hệ số của Xν trong u. Khi đó họ (ανXν)ν∈N(I) là khả tổng, với tổng bằng u (điều này biện minh cho cách viết u=∑ανXν).
b) Cho u∈A[[I]]; với mỗi số nguyên p≥0 gọi up là thành phần thuần nhất bậc p của u. Khi đó họ (up)p≥0 là khả tổng và ta có u=∑p≥0up.
c) Cho (uλ)λ∈L là một họ các phần tử của A[[I]] và giả sử rằng với mỗi số nguyên n≥0 tập hợp các λ∈L sao cho ω(uλ)<n là hữu hạn. Khi đó họ (uλ)λ∈L là khả tổng.
Nhận xét
— Giả sử rằng I là hữu hạn. Với mỗi số nguyên n≥0 gọi bn là tập hợp các chuỗi lũy thừa hình thức u∈A[[I]] sao cho ω(u)≥n. Dãy (bn)n≥0 là một hệ cơ bản các lân cận của 0 trong A[[I]]. Vì vậy một họ các phần tử uλ của A[[I]] (λ∈L) là khả tổng khi và chỉ khi với mọi n∈N tập hợp các A∈L sao cho ω(uλ)<n là hữu hạn.
Mệnh đề 1
Cho* (uλ)λ∈Lvà(vμ)μ∈Jlà hai họ khả tổng các phần tử củaA[[I]]. Khi đó họ(uλvμ)(λ,μ)∈J×M *là khả tổng và ta có
(λ,μ)∈L×M∑uλvμ=(λ∈L∑uλ)μ∈M∑vμ
Gọi (αλ,ν)ν∈N(I) (resp. (βμ,ν)ν∈N(I)) là họ các hệ số của uλ (resp. vν). Với mỗi ν∈N(I) chỉ tồn tại một số hữu hạn cặp (ν1,ν2)∈N(I)×N(I) sao cho ν1+ν2=ν, do đó chỉ tồn tại một số hữu hạn cặp (λ,μ)∈L×M sao cho hệ số của Xν trong uλvμ là =0. Suy ra họ (uλvμ)(λ,μ)∈L×J là khả tổng. Bây giờ công thức (2) suy ra từ tính kết hợp của tổng (Gen. Top., III, p. 265, công thức (2)).
Trong A[[I]] tích là một luật hợp thành kết hợp và giao hoán. Do đó ta có thể nói về một họ khả nhân các phần tử của A[[I]] và về tích của một họ khả nhân (Gen. Top., III, p. 262, nhận xét 3).
Mệnh đề 2
Cho* (uλ)λlà một họ khả tổng các phần tử củaA[[I]]. (i) Họ(1+uλ)λlà khả nhân. (ii) GọiTlà tập hợp tất cả các tập con hữu hạn củaL. Với mọiM∈SđặtuM=∏λ∈Muλ. Khi đó họ(uM)M∈T *là khả tổng và ta có
M∈T∑uM=λ∈L∏(1+uλ).
Hãy định nghĩa các iđêan aβ như ở đầu số này, và lấy β∈N(I). Tồn tại một tập con hữu hạn L0 của L sao cho uλ∈aβ với mọi λ∈/L0. Khi đó với mọi M∈S sao cho M⊂L0 ta có uM∈aβ. Do đó họ (uM)M∈T là khả tổng. Mặt khác, với mọi tập con hữu hạn M0 của L ta có
M⊂M0∑uM=λ∈M0∏(1+uλ).
Lấy theo tập hợp có thứ tự lọc T, vế trái có giới hạn là ∑M∈TuM. Vậy vế phải có giới hạn là ∑M∈TuM, điều này chứng minh đồng thời (i) và (ii).
Mệnh đề 3
Cho* u=∑aνXν∈A[[I]]vàmlà một số nguyên>0. Với mọin∈Ngọi(αν,n)ν∈N(I)là họ các hệ số củaun. Nếuα0m=0, thìαν,n=0vớin≥∣ν∣+m.
Cho ν∈N(I) và n∈N. Ta có
αν,n=ν(1)+⋯+ν(n)=ν∑αν(1)⋯αν(n).
Nếu n≥∣ν∣+m và ν(1)+⋯+ν(n)=v, ta có ∣ν(1)∣+⋯+∣ν(n)∣≤n−m. Vì thế có ít nhất m giá trị phân biệt của r sao cho v(r)=0 và do đó αv(r)=ar; suy ra αν(1)⋯αν(n)=0, do đó có kết quả.
Hệ quả
— Cho u∈A[[I]]; khi đó điều kiện cần và đủ để có limn→∞un=0 là số hạng hằng của u phải lũy linh.
Gọi a0 là số hạng hằng của u. Số hạng hằng của un là α0n, vì vậy điều kiện đã nêu là cần; nó là đủ theo Mệnh đề 3.
3. Phép thế
Cho E là một A-đại số. Một tôpô trên E được gọi là tuyến tính nếu nó bất biến đối với phép tịnh tiến và nếu tồn tại một hệ cơ bản các lân cận của 0 gồm các iđêan của E (Gen. Top., III, p. 223). Khi đó tôpô trên E tương thích với cấu trúc A-đại số của nó (khi A mang tôpô rời rạc). Một A-đại số có tôpô tuyến tính được gọi là một A-đại số tôpô tuyến tính.
Mệnh đề 4
— Cho I là một tập hợp và E là một A-đại số kết hợp, giao hoán, có đơn vị, tách biệt, đầy đủ, tôpô tuyến tính.
(i) Cho φ là một đồng cấu liên tục từ A[[I]] vào E và đặt xi=φ(Xi). Khi đó: (a) với mọi i∈I, xin tiến tới 0 khi n tiến tới +∞; (b) nếu I vô hạn, xi tiến tới 0 theo bộ lọc các phần bù của các tập con hữu hạn của I.
(ii) Cho x=(xi)i, I là một họ các phần tử của E thỏa mãn a) và b) của (i). Khi đó tồn tại một và chỉ một đồng cấu có đơn vị liên tục φ từ A[[I]] vào E sao cho φ(Xi)=xi với mọi i∈I.
Với mọi i∈I, Xin rõ ràng tiến tới 0 trong A[[I]] khi n tiến tới +∞; mặt khác, khi I vô hạn, Xi tiến tới 0 theo bộ lọc các phần bù của các tập con hữu hạn của I. Điều đó chứng minh (i).
Cho (xi)i∈I là một họ các phần tử của E thỏa mãn các điều kiện a) và b) của (i), gọi ψ là đồng cấu u↦u((xi)i∈I) từ A[(Xi)i∈I] vào E, và gọi V là một lân cận của 0 trong E đồng thời là một iđêan của E. Theo b), tồn tại một tập con hữu hạn J của I sao cho xi∈V với mọi i∈I−J. Tiếp theo, theo a), tồn tại một số nguyên n≥0 sao cho xin∈V với mọi i∈J. Gọi β là phần tử của N(I) sao cho βi=n−1 với i∈J và βi=0 với i∈I−J. Nếu ta định nghĩa iđêan aβ của A[[I]] như ở đầu No. 2 (IV, p. 26), thì
u∈A[(Xi)i∈I]∩aβ⇒ψ(u)∈V
Điều đó cho thấy rằng ψ là liên tục nếu ta trang bị cho A[(Xi)i∈I] tôpô cảm sinh bởi tôpô của A[[I]]. Vì E tách biệt và đầy đủ, ψ kéo dài thành một đồng cấu có đơn vị liên tục φ từ A[[I]] vào E. Ta có φ(Xi)=ψ(Xi)=xi với mọi i∈I. Sau cùng, cho φ′ là một đồng cấu có đơn vị liên tục từ A[[I]] vào E sao cho φ′(Xi)=xi. Ta có φ′(u)=φ(u) với mọi u∈A[(Xi)i∈I], do đó φ′=φ vì A[(Xi)i∈I] trù mật trong A[[I]].
Giữ các ký hiệu như trên. Nếu u∈A[[I]], ảnh của u bởi φ được ký hiệu là u(x) hoặc u((xi)i∈I) (hoặc cũng là u(x1,...,xn) nếu I=(1,2,...,n)) và được gọi là phần tử của E thu được bằng phép thế xi cho Xi trong u, hoặc giá trị của u ứng với các giá trị xi của Xi, hoặc cũng là giá trị của u khi Xi=xi. Đặc biệt ta có u=u((Xi)i∈I).
Cho E′ là một A-đại số kết hợp, giao hoán, có đơn vị, được tôpô hóa tuyến tính, tách biệt và đầy đủ. Cho λ là một đồng cấu có đơn vị liên tục từ E vào E′, và (xi)i∈I là một họ các phần tử của E thỏa mãn các điều kiện a) và b) của Mệnh đề 4 (IV, p. 28). Họ (λ(xi))i∈I thỏa mãn các điều kiện a) và b) ấy. Với mọi u∈A[[I]] ta có
λ(u((xi)i∈I))=u((λ(xi))i∈I),
vì ánh xạ u↦A(u((xi)i∈I)) là một đồng cấu có đơn vị liên tục từ A[[I]] vào E′ biến Xi thành λ(xi) với mọi i∈I.
Nếu J và K là hai tập hợp, ta ký hiệu bởi AJ,K tập hợp tất cả các họ (gj)j∈J thỏa mãn các điều kiện sau: (i) với mọi j∈J, gj là một phần tử của A[[K]] mà số hạng hằng là lũy linh; (ii) nếu J là vô hạn, gj tiến tới 0 theo bộ lọc các phần bù của các tập con hữu hạn của J.
Ta chú ý rằng nếu J là hữu hạn, mọi họ chuỗi lũy thừa hình thức (gj)j∈J không có số hạng hằng trong A[[K]] đều thuộc AJ,K.
Cho (gj)j∈J thuộc AJ,K. Theo Hệ quả của Mệnh đề 3 (IV, p. 28) ta có limn→∞gjn=0 với mọi j∈J. Cho f∈A[[J]]; ta có thể thế gj cho biến có chỉ số j trong f và thu được một chuỗi lũy thừa hình thức f((gj)j∈J) thuộc A[[K]]. Hơn nữa, ánh xạ f↦f((gj)j∈J) là một đồng cấu liên tục của các A-đại số từ A[[J]] vào A[[K]].
Đặc biệt nếu J=(1,...,p) và f∈A[[X1,...,Xp]], ta có thể thế vào mỗi Xj một chuỗi lũy thừa hình thức gj∈A[[K]] không có số hạng hằng; kết quả của phép thế này được viết là f(g1,...,gp).
Cho x=(xk)k∈K là một họ các phần tử của E thỏa mãn các điều kiện a) và b) của Mệnh đề 4 (IV, p. 28). Áp dụng (3), lấy cho A đồng cấu u↦u(x) từ A[[K]] vào E; ta được
f((gj)j∈J)(x)=f((gj(x))j∈J).
Cho f=(fi)i∈I∈(A[[J]])I và g=(gj)j∈J∈AJ,K. Ta ký hiệu bởi f(g) hoặc f∘g phần tử (fi((gj),ϵJ))i∈I của (A[[K]])I. Nếu f∈AI,J, ta có f∘g∈A,,K vì ánh xạ f↦f((gj)i,J) từ A[[I]] vào A[[K]] là liên tục.
Cho f∈(A[[J]])I, g∈AJ,K, h∈AK,L. Khi đó g∘h∈AJ,L và theo (4), ta có
(f∘g)∘h=f∘(g∘h).
4. Chuỗi lũy thừa hình thức khả nghịch
Mệnh đề 5
— Trong vành A[[T]] các chuỗi lũy thừa hình thức theo một bất định, đa thức 1−T là khả nghịch, và ta có(1−T)−1=∑n=0mTn.
Thật vậy,
(1−T)(n=0∑∞Tn)=n=0∑∞Tn−n=0∑∞Tn+1=1.
Mệnh đề 6
— *Cho u∈A[[I]]; khi đó để u khả nghịch trong A[[T]] thì điều kiện cần và đủ là số hạng hằng của nó khả nghịch trong A.
Giả sử tồn tại v∈A[[I]] sao cho uv=1. Gọi a,β là các số hạng hằng của u và v, khi đó αβ=1, nên a khả nghịch.
Ngược lại, giả sử số hạng hằng a của u là khả nghịch. Khi đó tồn tại một chuỗi lũy thừa hình thức t∈A[[I]] sao cho u=α(1−t) và ω(t)>0. Bây giờ có một đồng cấu vành φ:A[[T]]→A[[I]] sao cho φ(T)=t, và 1−T khả nghịch trong A[[T]] (Mệnh đề 5); do đó 1−t khả nghịch trong A[[I]], và vì thế u cũng vậy.
Nhận xét
— Gọi A là tập hợp tất cả các chuỗi lũy thừa hình thức có số hạng hằng bằng 1. Theo Mệnh đề 6, M là một nhóm giao hoán đối với phép nhân; vì vậy nhóm nhân của A[[I]] là tích trực tiếp của M và nhóm nhân của A. Ta sẽ trang bị cho A tôpô cảm sinh từ tôpô của A[[I]]. Với mỗi β∈N(I) ta đã định nghĩa trong IV, p. 26 iđêan aβ của A[[I]]; khi đó 1+aβ là một nhóm con của M và họ (1+aβ′) là một hệ cơ bản các lân cận của 1 trong M. Vì phép nhân trong M là liên tục, suy ra A là một nhóm tôpô (Gen. Top., III, p. 223); nói cách khác, ánh xạf↦f−1liên tục trongM.
Cho K là một trường giao hoán và O là vành con của trường các phân thức hữu tỉ K((Xi)i∈I) gồm các phân thức hữu tỉ trong đó phần tử 0 của K1 có thể được thế vào. Nếu f∈O, ta có f=vu, trong đó u và v là các đa thức sao cho số hạng hằng của v là =0, do đó v là khả nghịch trong K[[I]]. Ta kiểm tra ngay được rằng phần tử uv−1 của K[[I]] chỉ phụ thuộc vào f; ta nói rằng chuỗi lũy thừa hình thức uv−1 là khai triển tại gốc của phân thức hữu tỉvu. Ánh xạ f↦uv−1 là một đồng cấu đơn cấu từ O vào K[[I]]; ta sẽ thường đồng nhất O với ảnh của nó qua ánh xạ này.
5. Công thức Taylor cho chuỗi lũy thừa hình thức
Cho X=(Xi)i∈I và Y=(Yi)i∈I là hai họ bất định đối với cùng tập hợp chỉ số I. Ta ký hiệu bởi X+Y họ (Xi+Yi)i∈I, gồm các chuỗi lũy thừa hình thức trong A[[X,Y]]. Hiển nhiên là ta có thể thế Xi+Yi cho Xi trong một chuỗi lũy thừa hình thức u∈A[[X]], và kết quả được viết là u(X+Y). Với mỗi ν∈N(I) ta ký hiệu bởi Δνu hệ số của Yν trong chuỗi lũy thừa hình thức u(X+Y) khi được xét như thuộc A[[X]][[Y]] (III, p. 456). Nói cách khác, ta có
u(X+Y)=ν∑Δνu(X)⋅Yν(u∈A[[X]]).
Thế (0,X) cho (X,Y), ta được
u(X)=ν∑Δνu(0)⋅Xν;
Nói cách khác, số hạng hằng của Δνu là hệ số của Xν trong u. Vì ánh xạ u↦u(X+Y) từ A[[X]] vào A[[X,Y]] là liên tục, nên các ánh xạ u↦Δνu từ A[[X]] vào chính nó cũng liên tục.
Như trong trường hợp các đa thức (IV, p. 7), ta có thể chứng minh các công thức
Δσ(uv)=v+ρ=σ∑Δν(u)Δρ(v),
ΔρΔσu=ρ!σ!(ρ+σ)!Δρ+σu.
Công thức nhị thức (I, p. 99, Hệ quả 2) cho giá trị sau đây của Δνu khi u=∑λαλXλ
Δνu=λ∑αλ+νλ!ν!(λ+ν)!Xλ.
Xét riêng trường hợp ν=ϵi, nghĩa là νi=1,νj=0 với j=i. Ta sẽ đặt Diu=Δϵiu; nói cách khác, Diu là hệ số của Yi trong u(X+Y). Bởi (10) do đó ta có
Diu=λ∑(λi+1)αλ+ϵiXλ;
đặc biệt ta có Di(Xi)=1 và Di(Xj)=0 nếu j=i. Công thức (8) cho thấy rằng Di là một đạo hàm của A[[X]], và từ (9) ta suy ra quan hệ
Dνu=ν!Δνu
như trong trường hợp các đa thức (IV, p. 8) (ta đặt Dν=∏i∈IDiνi với ν=(νi)i∈I, trong N(I)). Khi A là một Q-đại số, các công thức (6), (7) và (12) kéo theo các « công thức Taylor »:
u(X+Y)=∑ν!1Dνu(X)⋅Yν,
u(X)=∑ν!1Dνu(0)⋅Xν.
*Nhận xét. — 1) Ta thường nói rằng Diu là đạo hàm riêng của u theo X, ; ta cũng dùng ký hiệu Dxiu,∂xi∂u và uxi′. Đối với một bất định duy nhất X, đạo hàm riêng duy nhất Du (cũng viết là dXdu hoặc u′) được gọi là đạo hàm của u.
2) Công thức (9) cho thấy các nội cấu Ap của A-môđun A[[X]] giao hoán đôi một. Do đó các nội cấu Di cũng vậy.
3) Nếu u∈A[(Xi)i∈I] là một đa thức, thì các đa thức Apu và Diu được định nghĩa trong IV, p. 6 và 7 trùng nhau với các chuỗi lũy thừa hình thức được ký hiệu bằng cùng các ký hiệu ấy.
6. Các đạo hàm trong đại số các chuỗi lũy thừa hình thức
Cho I là một tập hợp, E là một A-đại số tôpô tuyến tính, tách, đầy đủ, kết hợp, giao hoán và có đơn vị, và x=(xi)i∈I là một họ các phần tử của E thỏa mãn các điều kiện a) và b) của Mệnh đề 4 (IV, p. 28). Gọi φ là đồng cấu liên tục u↦u(x) từ A[[I]] vào E ; nó trang bị cho E một cấu trúc A[[I]]-môđun. Theo III, p. 552, một A-đạo hàm D của A[[I]] vào A[[I]]-môđun E do đó là một ánh xạ A-tuyến tính D:A[[I]]→E thỏa mãn quan hệ
D(uv)=u(x)⋅D(v)+D(u)⋅v(x)
với u,v trong A[[I]].
Mệnh đề 7
— Cho (yi)i∈I, là một họ các phần tử của E. Khi I là vô hạn, ta giả sử rằng yi tiến tới 0 theo bộ lọc các phần bù của các tập con hữu hạn của I. Khi đó tồn tại một A-đạo hàm liên tục duy nhất D của A[[I]] vào A[[I]]*-môđun* E sao cho D(Xi)=yi với mọi i∈I. Ta có
D(u)=i∈I∑(Diu)(x)⋅yi(u∈A[[I]]).
Vì 0 có trong E một hệ cơ bản các lân cận gồm các iđêan, nên họ ((Diu)(x)⋅yi)i∈I là khả tổng trong E với mọi u∈A[[I]] (Gen. Top., III, p. 263, Hệ quả 2). Do đó công thức (16) xác định một ánh xạ A-tuyến tính D:A[[I]]→E. Ta để độc giả tự kiểm tra rằng D là một đạo hàm liên tục.
Cho D1 là một A-đạo hàm liên tục của A[[I]] vào E, sao cho D1(Xi)=yi với mọi i∈I. Hạt nhân của đạo hàm liên tục D−D1 là một đại số con đóng B của A[[I]] chứa 1 và các bất định Xi. Vì đại số đa thức A[(Xi)i∈I] trù mật trong A[[I]], ta có B=A[[I]] và do đó D1=D.
Hệ quả 1
— *Cho A là một đạo hàm liên tục của A-đại số E. Với mọi chuỗi lũy thừa hình thức u∈A[[I]] họ ((Diu)(x)⋅Δxi)i∈I là khả tổng và ta có
Δ(u(x))=i∈I∑(Diu)(x)⋅Δxi.
Điều này suy ra từ Mệnh đề 7 vì ánh xạ u↦Δ(u(x)) là một đạo hàm liên tục của A[[I]] vào E-môđun A[[I]].
Hệ quả 2
— *Đạo hàm Di là đạo hàm liên tục duy nhất của A-đại số A[[I]] sao cho
Di(Xi)=1,Di(Xj)=0vớij=i.
Điều này suy ra từ Hệ quả 1.
Hệ quả 3
— *Cho f∈A[[X1,...,Xs]] và gi∈A[[Y1,...,Yq]] với 1≤i≤p. Giả sử rằng với 1≤i≤p số hạng hằng của gi bằng không, và đặt h=f(g1,...,gp). Khi đó với 1≤j≤q ta có
∂Yj∂h=i=1∑pDif(g1,...,gp)⋅∂Yj∂gi.
Đây là trường hợp riêng E=A[[Y1,...,Ys]], xi=qi và A=∂/∂Yj của Hệ quả 1.
Mệnh đề 8
— *Cho X=(Xi)i, là một họ hữu hạn các bất định. (i) Mọi đạo hàm của vành các chuỗi lũy thừa hình thức A[[X]] đều liên tục. (ii) Mọi đạo hàm của vành đa thức A[X] vào vành các chuỗi lũy thừa hình thức A[[X]] đều kéo dài được theo một cách duy nhất thành một đạo hàm của vành A[[X]]. (iii) Họ (Di)i∈I là một cơ sở của A[[X]]-môđun các A-đạo hàm của A[[X]] vào chính nó. Gọi bn là tập hợp tất cả các chuỗi lũy thừa hình thức có cấp ≥n. Rõ ràng bn là một iđêan trong vành A[[X]], sinh bởi các đơn thức bậc n. Do đó bn gồm các tổng hữu hạn của các tích của n chuỗi lũy thừa hình thức không có số hạng hằng; nếu D là một đạo hàm của A[[X]], ta có
D(f1⋯fn)=i=1∑nf1⋯fi−1D(fi)fi+1⋯fn,
do đó suy ra ngay rằng Dbn⊂bn−1 với n≥1. Vì dãy (bn)n≥0 là một hệ cơ bản các lân cận của 0 trong A[[X]] (IV, p. 26 nhận xét), D là liên tục và (i) được chứng minh.
Cho A là một đạo hàm của A[X] vào A[[X]]. Lập luận như trước, ta có thể chứng minh rằng A(h) thuộc b,−1, với mọi đa thức thuần nhất h bậc n≥1. Bây giờ cho u∈A[[X]] và gọi un là thành phần thuần nhất bậc n của u. Vì A(un)∈b,−1 với n≥1, họ (A(u)),…, là khả tổng trong A[[X]] và ta có thể định nghĩa một đạo hàm D của A[[X]] vào chính nó bởi
D(u)=n≥0∑Δ(un)
Ta có D(bn)⊂bn−1, do đó D là một tự đồng cấu liên tục của nhóm cộng của A[[X]]. Ánh xạ Φ:(u,v)↦D(uv)−uD(v)−D(u)v từ A[[X]]×A[[X]] vào A[[X]] là liên tục và bằng không trên A[X]×A[X]. Vì A[X] trù mật trong A[[X]], ta có Φ=0; nói cách khác, D là một đạo hàm của A[[X]] vào chính nó, kéo dài A.
Sau cùng, A[X] trù mật trong A[[X]] và mọi đạo hàm của A[[X]] đều liên tục theo (i); do đó tồn tại một và chỉ một sự kéo dài của A thành một đạo hàm của A[[X]]. Điều này chứng minh (ii).
Còn phải chứng minh (iii). Công thức (18) (IV, p. 33) cho thấy họ (Di)i∈I độc lập tuyến tính trên A[[X]], và công thức (16) (IV, p. 32), áp dụng trong trường hợp E=A[[X]], cho thấy mọi đạo hàm A là một tổ hợp tuyến tính của các Di với các hệ số trong A[[X]].
Mệnh đề 9
— Cho (uλ)λ∈L là một họ khả tổng gồm các phần tử của A[[I]] không có số hạng hằng và D là một đạo hàm liên tục của A-đại số A[[I]]. Nếu f=∏λ∈L(1+uλ) (IV, p. 27, Prop. 2), thì họ (Duλ/(1+uλ))λ∈L là khả tổng và ta có
D(f)/f=λ∈L∑D(uλ)/(1+uλ).
Nếu g và h là hai phần tử khả nghịch của A[[I]], thì
D(gh)=h⋅Dg+g⋅Dh
do đó khi chia cho gh,
D(gh)/gh=D(g)/g+D(h)/h.
Với mọi tập con hữu hạn M của L, đặt fM=∏λ∈M(1+uλ). Từ (21) ta suy ra bằng quy nạp theo Card M quan hệ
D(fM)/fM=λ∈M∑D(uλ)/(1+uλ)
Điều này chứng minh Mệnh đề 9 khi L là hữu hạn. Bây giờ giả sử rằng L là vô hạn và viết F cho tập hợp có thứ tự được lọc của các tập con hữu hạn của L. Ta có limFfM=f, và do đó (IV, p. 30 nhận xét)
D(f)/f=FlimD(fM)/fM.
Bây giờ Mệnh đề 9 suy ra bằng cách chuyển sang giới hạn trong (22).
7. Nghiệm của các phương trình trong một vành chuỗi lũy thừa hình thức
Bổ đề 2
Cho* (gi)ilà một họ các phần tử cấp≥2trongA[[I]]. KhiIlà vô hạn, giả sử rằnggitiến đến 0 theo bộ lọc các phần bù của các tập con hữu hạn củaI. Tồn tại một và chỉ một tự đẳng cấu T của A*-đại số tôpô* A[[I]]sao choT(Xi)=Xi+givới mọii∈I. *Hơn nữa,
(23)
ω(T(u)−u)≥ω(u)+1
với mỗiu∈A[[I]].
Chuỗi fi=Xi+gi không có số hạng hằng và khi I vô hạn, fi hội tụ đến 0 theo bộ lọc các phần bù của các tập con hữu hạn của I. Do đó (IV, p. 28, Mệnh đề 4) tồn tại chính xác một tự đồng cấu liên tục T của đại số trên A A[[I]] sao cho T(Xi)=fi với mọi i∈I. Với mỗi ν∈N′ ta đặt
vν=T(Xν)−Xν=i∈I∏(Xi+gi)ν(i)−i∈I∏Xiν(i);
các quan hệ ω(gi)≥2 kéo theo w(vν)≥∣ν∣+1, và quan hệ (23) suy ra ngay từ đó.
Hãy chỉ ra rằng T là đơn ánh. Cho u∈A[[I]] sao cho T(u)=0, theo (23) ta có w(u)≥w(u)+1, điều này là không thể nếu u=0 vì khi đó w(u) sẽ là một số nguyên dương.
Với mọi chuỗi hình thức v trong A[[I]] ta ký hiệu bởi Hn(v) thành phần thuần nhất bậc n của nó. Ta đặt S0(v)=H0(v) và định nghĩa các ánh xạ liên tục S,:A[[I]]→A[[I]] bằng các hệ thức truy hồi
(24)
Sn(v)=Hn(v−T(k=0∑n−1Sk(v)))vớin≥1
Đặt S(v)=∑n≥0Sn(v); nếu ν∈N(I) và n=∣ν∣, thì hệ số Sν(v) của Xν trong S(v) bằng hệ số của Xν trong S,(ν); vì S, là một ánh xạ liên tục, ánh xạ Sν:A[[I]]→A là liên tục. Do đó, theo định nghĩa của tôpô tích trên A[[I]]=AN(I), ánh xạ S:A[[I]]→A[[I]] là liên tục.
Ta sẽ chứng minh quan hệ T(S(v))=v với mọi v∈A[[I]], điều này sẽ hoàn tất chứng minh của bổ đề. Cho v∈A[[I]], un=Sn(v) và u=S(v). Cho n là một số nguyên dương sao cho
(25)n
ω(v−T(u))≥n.
Ta có w(u−(u0+…+un−1))≥n, do đó
ω(T(u)−T(u0+…+un−1)−un)≥n+1
theo (23). Bây giờ hệ thức truy hồi (24) cho thấy rằng
un=Hn(v−T(u0+⋯+un−1))
Theo (26), các chuỗi lũy thừa hình thức v−T(u) và v−T(u0+…+un−1)−un có cùng thành phần thuần nhất bậc n, và thành phần này bằng không, theo (27). Vậy ta có w(v−T(u))≥n+1, nghĩa là (25)n kéo theo (25)n+1. Vì (25)0 rõ ràng đúng, nên ta có ω(v−T(u))≥n với mọi số nguyên n≥0, do đó v=T(u)=T(S(v)), như phải chứng minh.
Trong phần còn lại của Số này, với mọi tập hợp I, ta sẽ ký hiệu bởi A{I} tập hợp các họ (fi)i∈I thỏa mãn các điều kiện sau: (i) với mỗi i∈I, fi là một phần tử của A[[I]] không có số hạng hằng; (ii) nếu I là vô hạn, fi tiến tới 0 theo bộ lọc các phần bù của các tập con hữu hạn của I.
Tập hợp A{I} là một monoit đối với luật hợp thành (f,g)↦f∘g, với {Xi}i∈I làm phần tử đơn vị. Do đó tập hợp các phần tử khả nghịch của A{I} là một nhóm.
Mặt khác, gọi E là monoit của mọi nội đồng cấu liên tục có đơn vị của A-đại số A[[I]] để iđêan của tất cả các chuỗi lũy thừa hình thức không có số hạng hằng bất biến. Nếu f∈A{I} và g∈A[[I]], thì phần tử g(f) được xác định. Với f cố định, ánh xạ g↦g(f) từ A[[I]] vào chính nó là một phần tử Wf của E. Nếu f1,f2∈A{I} và g∈A[[I]], theo công thức (5) (IV, p. 30) ta có
do đó f↦Wf là một đồng cấu từ monoit đối của A{I} vào E. Theo Mệnh đề 4 (IV, p. 28), đồng cấu này là song ánh.
Cho f=(fi)i∈I∈A{I} và gọi ∑j∈IαijXj là thành phần thuần nhất bậc 1 của fi. Với mọi j cố định trong I, ta có αij=0 trừ ra đối với một số hữu hạn chỉ số i, theo giả thiết (ii) ở trên. Do đó, nếu (λi)∈A(I), ta có (∑j∈Iαijλj)∈A(I).
Ta ký hiệu bởi Tf ánh xạ tuyến tính trên A1
(λi)↦j∈I∑αijλj
từ A(I) vào A(I). Nếu g∈A{I}, dễ kiểm tra rằng
Tf∘g=Tf∘Tg.
1 Đôi khi Tf được gọi là ánh xạ tuyến tính tiếp xúc với f.
Mệnh đề 10
— Cho f∈A{I}; khi đó các điều kiện sau là tương đương : (i) f khả nghịch trong A{I} đối với luật ∘; (ii) Tf khả nghịch trong vành End(A(I)).
Việc (i) ⇒ (ii) là ngay lập tức theo (28). Bây giờ giả sử rằng Tf khả nghịch trong End(A(I)). Tồn tại g=(gi)i∈A{I} sao cho mỗi gi là thuần nhất bậc l và Tg∘Tf là ánh xạ đồng nhất của A(I). Đặt h=g∘f; khi đó (28) cho thấy rằng Th là ánh xạ đồng nhất của A(I), điều này tương đương với mệnh đề ω(hi−Xi)≥2. Do Bổ đề 2 của IV, p. 35, vì thế h khả nghịch trong A{I}. Rõ ràng g khả nghịch trong A{I}, do đó f khả nghịch trong A{I}.
Hệ quả
— Cho fi(Y1,Y2,…,Yq,X1,X2,…,Xp) (1≤i≤q) là q chuỗi lũy thừa hình thức không có số hạng hằng trong A[[Y1,…,Yq,X1,…,Xp]]. Nếu số hạng hằng của chuỗi lũy thừa hình thức D=det(∂Yj∂fi) khả nghịch trong A, thì tồn tại chính xác một hệ gồm q chuỗi lũy thừa hình thức u1(X1,…,Xp),…,uq(X1,…,Xp) sao cho
fi(u1,…,uq,X1,…,Xp)=0(1≤i≤q).
Đặt fq+1=X1,…,fq+p=Xp, f=(f1,…,fp+q), khi đó detTf bằng số hạng hằng của D, nên khả nghịch trong A; vì vậy Tf khả nghịch. Theo Mệnh đề 10 tồn tại các chuỗi lũy thừa hình thức không có số hạng hằng
g1,…,gq+p∈A[[Y1,…,Yq,X1,…,Xp]]
sao cho khi viết
g=(g1,…,gp+q),1p+q=(Y1,…,Yq,X1,…,Xp)
thì ta có f∘g=g∘f=1p+q. Quan hệ f∘g=1p+q, đặc biệt, cho
gq+1=X1,…,gq+p=Xp.
Do đó
fi(g1,…,gq,X1,…,Xp)=Yi(1≤i≤q).
Bây giờ đặt
ui(X1,…,Xp)=gi(0,…,0,X1,…,Xp)(1≤i≤q);
thay 0 cho mỗi Yi trong (30) ta thu được quan hệ cần tìm (29).
Ngược lại, giả sử rằng các chuỗi lũy thừa hình thức u1,…,uq trong vành A[[X1,…,Xp]] thỏa mãn quan hệ (29). Quan hệ g∘f=1p+q suy ra
gi(f1,…,fq,X1,…,Xp)=Yi(1≤i≤q);
và khi thay ui cho Yi với 1≤i≤q trong (32), ta được (31), do đó có tính duy nhất của nghiệm của hệ (29).
8. Chuỗi lũy thừa hình thức trên một miền nguyên
Mệnh đề 11
— Giả sử rằng A là một miền nguyên.
(i) VànhA[[I]]lại là một miền nguyên.
(ii) Nếuu,vlà các phần tử khác không củaA[[I]], thìω(uv)=ω(u)+ω(v).
Với mỗi J⊂I đặt φJ là đồng cấu từ A[[I]] vào A[[J]] thu được bằng cách thay trong mỗi phần tử của A[[I]], Xi bởi Xi khi i∈J và bởi 0 khi i∈I−J. Cho u,v là các phần tử khác không của A[[I]], p=ω(u), q=ω(v); tồn tại một tập con hữu hạn J của I sao cho
φJ(u)=0,φJ(v)=0,ω(φJ(u))=p,ω(φJ(v))=q.
Gọi a (resp. b) là thành phần thuần nhất bậc p (resp. q) của φJ(u) (resp. φJ(v)). Vì J là hữu hạn, a và b là các đa thức. Ta có a=0,b=0, nên ab=0 (IV, p. 9, Prop. 8). Do đó φJ(u)φJ(v) khác không, cấp p+q. Suy ra uv=0 và ω(uv)≤p+q; nhưng rõ ràng ω(uv)≥p−q.
9. Trường phân thức của vành chuỗi lũy thừa hình thức theo một ẩn trên một trường
Nếu K là một trường giao hoán, ta sẽ ký hiệu bởi K((X)) trường phân thức của miền nguyên K[[X]].
Mệnh đề 12
— Mọi phần tử khác khôngucủaK((X))đều có thể viết một cách duy nhất dưới dạngu=Xkv, trong đók∈Zvàvlà một chuỗi lũy thừa hình thức theoXcó cấp 0.
Đặt u=w/t, trong đó w,t là các phần tử khác không của K[[X]]. Ta có w=Xrw1,t=Xst1, trong đó r,s∈N và w1,t1 là các chuỗi lũy thừa hình thức cấp 0, do đó khả nghịch trong K[[X]] (IV, p. 30, Prop. 6). Khi đó u=Xr−sw1t1−1 và w1t1−1 là một chuỗi lũy thừa hình thức cấp 0.
Hãy chứng minh tính duy nhất. Giả sử u=Xk1v1=Xk2v2 trong đó k1,k2∈Z và v1,v2 là các chuỗi lũy thừa hình thức cấp 0. Vì Xk1−k2=v2v1−1 là một chuỗi lũy thừa hình thức cấp 0, ta có k1=k2 do đó v1=v2 và điều này chứng minh mệnh đề về tính duy nhất.
Ta sẽ nói rằng các phần tử của K((X)) là chuỗi hình thức tổng quát theo lũy thừa theo X với hệ số trong K, hoặc đơn giản là chuỗi hình thức khi không thể gây nhầm lẫn (khi đó các phần tử của K[[X]] được gọi là chuỗi hình thức theo lũy thừa với số mũ dương); nếu u=0, thì số nguyên k được định nghĩa trong Mệnh đề 12 cũng được gọi là cấp của u và được viết là ω(u), ngay cả khi nó <0; ta cũng đặt ω(0)=∞. Có thể kiểm tra ngay rằng
vẫn đúng đối với các chuỗi hình thức tổng quát theo lũy thừa. Đặc biệt, nếu u=0, thì w(u−1)=−w(u). \* Nói cách khác (Comm. Alg., VI, § 3, No. 6, p. 392, Def. 3), w là một định giá rời rạc chuẩn hóa của trường K((X)). \*
Với mỗi số nguyên n∈Z, gọi pn là tập hợp tất cả các u∈K((X)) sao cho ω(u)≥n. Khi đó (p.), , , là một dãy giảm các nhóm con của nhóm cộng K((X)), có giao bằng 0 ; do đó tồn tại một tôpô trên K((X)), bất biến đối với phép tịnh tiến, mà đối với nó (pn)n∈Z là một hệ cơ bản các lân cận của 0 (Gen. Top., III, p. 223). Ta dễ dàng kiểm tra rằng K((X)) là một trường tôpô (Gen. Top., III, p. 281) và rằng K[[X]] là một không gian con vừa mở vừa đóng của K((X)).
Cho (a,, , là một họ các phần tử của K, và giả sử rằng tồn tại một số nguyên N sao cho an=0 với mọi n<N. Khi đó họ' (αnXn)n∈Z là khả tổng trong K((X)) (Gen. Top., III, p. 263, Cor.) ; đặt u=∑n∈ZαnXn, khi đó u=0 khi và chỉ khi an=0 với mọi n; nếu không thì cấp của u là số nguyên nhỏ nhất k sao cho αk=0. Cuối cùng mọi phần tử của K((X)) đều có thể được viết một cách duy nhất dưới dạng ∑n∈ZαnXn, trong đó dãy (a,) thỏa mãn α−n=0 với mọi n đủ lớn.
Vì vành K[X] là một vành con của K[[X]], mọi phân thức hữu tỉ u/v∈K(X) (u, v là các đa thức theo X) đều có thể được đồng nhất với chuỗi hình thức (tổng quát) theo lũy thừa uv−1 của K((X)), mà ta sẽ gọi là khai triển của nó tại gốc ; do đó trường K(X) được đồng nhất với một trường con của K((X)).
10. Hàm mũ và lôgarit
Bởi chuỗi lũy thừa hàm mũ ta hiểu phần tử ∑n≥0n!Xn của Q[[X]]; nó sẽ được ký hiệu là exp X hoặc eX.
Ta sẽ định nghĩa hai phần tử e(X), I(X) của Q[[X]] bởi
e(X)=eX−1=n≥1∑n!Xn
(34)
l(X)=n≥1∑(−1)n−1nXn.
Ta có (35)
e(X+Y)=e(X)+e(Y)+e(X)e(Y)
(36)
D(eX)=D(e(X))=eX
(37)
D(l(X))=n≥0∑(−X)n=(1+X)−1.
Mệnh đề 14
— Ta có l(e(X))=e(l(X))=X.
Chuỗi l và e không có số hạng hằng và các số hạng bậc 1 của chúng bằng X. Theo Mệnh đề 10 của IV, p. 37, chỉ cần chứng minh công thức l(e(X))=X. Theo các công thức (36) và (37) và Hệ quả 3 của IV, p. 33, ta có
D(l(e(X)))=(1+e(X))−1D(e(X))=(eX)−1eX=1
do đó I(e(X))=X.
Cho K là một Q-đại số, khi đó các phần tử của K[[I]] không có số hạng hằng tạo thành một nhóm giao hoán E đối với phép cộng. Các phần tử của K[[I]] có số hạng hằng bằng 1 tạo thành một nhóm giao hoán A đối với phép nhân (IV, p. 30). Với mỗi f∈E, ta có thể định nghĩa các phần tử e∘f và I∘f của E, và theo Mệnh đề 14 ở trên, các ánh xạ f↦l∘f và f↦e∘f là các hoán vị nghịch đảo lẫn nhau của E; rõ ràng chúng liên tục. Vì expX=e(X)+1, ta thấy rằng ánh xạ mũ f↦expf=e∘f+1 là một song ánh liên tục từ E lên M. Theo công thức (4) của IV, p. 29 và Mệnh đề 13, ta có exp(f+g)=(expf)(expg) với f,g∈E. Như vậy phép mũ là một đẳng cấu của nhóm tôpô E lên nhóm tôpô A.
Đẳng cấu nghịch đảo từ M lên E được gọi là lôgarit và được viết là g↦logg. Do đó ta có logg=l(g−1) với g trong M, và đặc biệt,
(38)
log(1+X)=l(X).
Vì lôgarit là một đồng cấu từ M vào E, công thức (1+X)(1+Y)=1+(X+Y+XY) kéo theo
(39)
l(X)+l(Y)=l(X+Y+XY).
Cho (uλ)λ∈L là một họ cộng được của các phần tử của B, khi đó họ (expuλ)λ∈L là nhân được và ta có
(40)
exp(λ∈L∑uλ)=λ∈L∏expuλ.
Tương tự, nếu (fλ)λ∈L là một họ nhân được của các phần tử của A, thì họ (logfλ)λ∈L là cộng được và ta có
(41)
log(λ∈L∏fλ)=λ∈L∑logfλ.
Cho g∈A, và cho D là một đạo hàm liên tục của K[[I]]. Ta có logg=l(g−1), vì thế theo Hệ quả 3 của IV, p. 33 và (37), ta có
(42)
Dlogg=D(g)/g.
Biểu thức D(g)/g được gọi là đạo hàm lôgarit của g (đối với D).