Cho H là một nhóm và M là một A[H]-môđun trái (1). Ta sẽ ký hiệu MH là tập hợp tất cả các m∈M sao cho hm=m với mọi h∈H(2); đây là một A-môđun con của M.
Cho G là một nhóm con của H, khi đó MG là một A-môđun con của M chứa MH.
Cho m∈MG, h∈H, nếu x=hG là lớp ghép trái của h modulo G, thì ta có xm=hGm={hm}. Do lạm dụng ký hiệu, phần tử hm của M sẽ được viết là xm. Nếu h′∈H, ta có
(1)
h′(xm)=(h′x)m.
Từ đây về sau giả sử rằng G có chỉ số hữu hạn trong H. Khi đó
(2)
x∈H/G∑xm∈MH.
Thật vậy, với h′∈H, theo (1), ta có
h′x∈H/G∑xm=x∈H/G∑(h′x)m=y∈H/G∑ym.
(1) Ta ký hiệu A[H] là đại số nhóm của H (III, p. 446). (2) Cần chú ý không nhầm ký hiệu này với ký hiệu được đưa vào trong việc nghiên cứu các tích của các tập hợp (Lý thuyết tập hợp, II, p. 102).
Định nghĩa 1
— Nếu G là nhóm con có chỉ số hữu hạn trong H, ta ký hiệu TrH/G là ánh xạ từ MG vào MH được xác định bởi
TrH/Gm=x∈H/G∑xm.
Ánh xạ này là một đồng cấu của A-môđun MG vào A-môđun MH.
Mệnh đề 1
— (i) Cho m∈MG và h∈H. Khi đó hm∈MhGh−1 và
TrH/hGh−1(hm)=TrH/Gm.
(ii) Cho F là một nhóm con của G có chỉ số hữu hạn trong G, và cho m∈MF, khi đó
TrH/G(TrG/Fm)=TrH/Fm
(iii) Nếum∈MH, thì TrH/Gm=(H:G)⋅m.
(i) Cho h∈H. Với h′∈H và m∈M, đặt φ(h′)=hh′h−1 và ψ(m)=hm. Ta có φ(h′)ψ(m)=ψ(h′m); bằng phép chuyển cấu trúc ta suy ra rằng nếu m∈MG, thì hm∈MhGh−1 và
TrH/hGh−1(hm)=ψ(TrH/G(m)).
Vì TrH/G(m)∈MH, điều này chứng minh (i).
(ii) Cho m∈MF và cho (gα)α∈A là một hệ các đại diện của các lớp ghép trái của G modulo F, và (hβ)β∈B là một hệ các đại diện của các lớp ghép trái của H modulo G. Khi đó (hβgα)(β,α)∈B×A là một hệ các đại diện của các lớp ghép trái của H modulo F. do đó
Cho M là một A-môđun. Ta nhắc lại (III, p. 501) rằng Sn tác động bên trái trên A-môđun Tn(M), theo cách sao cho
σ(x1⊗x2⊗…⊗xn)=xσ−1(1)⊗xσ−1(2)⊗…⊗xσ−1(n)
với mọi x1,…,xn∈M và σ∈Sn. Các phần tử z∈Tn(M) sao cho σ⋅z=z với mọi σ∈Sn được gọi là các tenxơ đối xứng cấp n; chúng tạo thành một A-môđun con của Tn(M) được ký hiệu bởi TSn(M); ta có TS0(M)=A,TS1(M)=M. Ta sẽ đặt
TS(M) = ⨁n=0∞TSn(M); đây là một môđun con A-phân bậc của T(M). Với mọi z∈Tn(M), phần tử ∑σ∈Snσ.z thuộc TSn(M); ta ký hiệu nó bởi s.z và gọi nó là phép đối xứng hóa của z. Ánh xạ s:z↦s.z là một đồng cấu của A-môđun Tn(M) vào A-môđun TSn(M). Nếu z∈TSn(M), thì s.z=n!z.
3. Tích đối với các tenxơ đối xứng
Cho p,q∈N và cho Sp∣q là nhóm con của Sp+q gồm tất cả các hoán vị σ∈Sp−q giữ ổn định các khoảng (1,p) và (p+1,p+q) của N. Nếu σ∈Sp và σ′∈Sq, ta có thể định nghĩa một phần tử σ′′ của Sp∣q bằng cách đặt σ′′(n)=σ(n) với 1≤n≤p và σ′′(p+n)=p+σ′(n) với 1≤n≤q; ánh xạ (σ,σ′)↦σ′′ là một đẳng cấu từ Sp×Sq lên Sp∣q.
Cho z∈TSp(M), z′∈TSq(M), khi đó phần tử z⊗z′ của Tp+q(M) là bất biến dưới Sp∣q; do đó ta có thể định nghĩa phần tử TrSp+q/Sp∣q(z⊗z′) của TSp+q(M). Ta trang bị cho TS(M) phép nhân A-song tuyến tính (y,y′)↦yy′ sao cho với p,q∈N, z∈TSp(M), z′∈TSq(M) ta có
zz′=TrSp+q/Sp∣q(z⊗z′)
Nếu y∈TS(M) và y′∈TS(M), ta gọi yy′ là tích đối xứng của y và y′. Họ (TSp(M))p, , là một phân bậc kiểu N của đại số TS(M), và phần tử đơn vị của T(M) là một phần tử đơn vị của TS(M).
Cho Sp,q là tập hợp các σ∈Sp+q sao cho
σ(1)<σ(2)<…<σ(p)σ(p+1)<σ(p+2)<…<σ(p+q).
Ánh xạ (σ,τ)↦στ từ Sp,q×Sp∣q vào Sp+q là song ánh (I, p. 60, Ví dụ 2); do đó nếu z∈TSp(M) và z′∈TSq(M), ta có
zz′=σ∈Sp,q∑σ(z⊗z′)
Mệnh đề 2
— (i) Đại số trên A TS(M) là kết hợp, giao hoán và có đơn vị.
(ii) Cho p1,…,pn là các số nguyên >0, và cho Sp1∣…∣pn là tập hợp tất cả các σ∈Sp1+⋯+pn giữ ổn định các khoảng sau đây của N:
Cần lưu ý rằng đơn ánh chính tắc của TS(M) vào T(M) nói chung không phải là một đồng cấu đại số. Tệ hơn nữa, TS(M) nói chung không ổn định đối với phép nhân của T(M).
4. Lũy thừa chia
Cho x∈M và k∈N. Hiển nhiên x,⊗x2⊗…⊗xk, trong đó
x1=x2=⋯=xk=x,
là một phần tử của TSk(M).
Định nghĩa 2
Nếu* x∈M, phần tửx⊗x⊗…⊗xcủaTSk(M)được ký hiệu làγk(x).
Mệnh đề 3
(i) Nếux∈M, lũy thừa bậc p củax, tính trongTS(M), bằngp!γp(x). (ii) Chox1,…,xn∈M; khi đó
Trong (iii), đặt n=2,x1=x2=x,p1=q và p2=r, khi đó ta thu được (iv) (I, loc. cit.).
Cuối cùng, (v) suy ra từ Mệnh đề 2, (ii) và Mệnh đề 2 của I, p. 100, áp dụng cho các phần tử xi của vành T(M).
Nhận xét 1
Cho (xi)i∈I là một họ các phần tử của M. Với mỗi ν∈N(I) đặt
xν=i∈I∏γνi(xi).
Nếu (λi)∈A(1) và p∈N, thì theo Mệnh đề 3 (ii), ta có
γp(i∈I∑λixi)=ν∈N(I),∣ν∣=p∑λνxν.
(6)
Nhận xét 2
Cho M là tập hợp các ánh xạ từ (1,p) vào I. Ta định nghĩa một ánh xạ ρ↦ρ∗ từ M vào N(I) bằng cách đặt
ρ∗(i)=Cardρ−1(i)
Đối với hai phần tử ρ1,ρ2 của M, điều kiện ρ1∗=ρ2∗ là cần và đủ để tồn tại σ∈Sp sao cho ρ2=ρ1∘σ (I, p. 95). Theo Mệnh đề 3 (iii), với ∣ν∣=p, ta có
xν=ρ∈M,ρ∗=ν∑xρ(1)⊗xρ(2)⊗…⊗xρ(p)
5. Tenxơ đối xứng trên một môđun tự do
Mệnh đề 4
— Cho M là tự do và (ei)i∈I là một cơ sở của M.
(i) Với ν∈N(I), đặt eν=∏i∈Iγνi(ei). Khi đó (eν)ν∈N(I) là một cơ sở của A-môđun TS(M). Đặc biệt, đại số TS(M) được sinh bởi họ các phần tử γk(x) với k∈N và x∈M.
(ii) Với mỗi p∈N, TSp(M) là một nhân tử trực tiếp của A-môđun Tp(M).
Ta dùng ký hiệu của Nhận xét 2 ở trên. Họ (eρ(1)⊗…⊗eρ(p))ρ∈M là một cơ sở của Tp(M). Do đó Mệnh đề 4 suy ra từ công thức (7) và bổ đề sau đây, áp dụng với H=Sp và U=Tp(M).
Bổ đề 1
Cho H là một nhóm hữu hạn và U là một A[H]-môđun trái. Giả sử A-môđun U có một cơ sở B ổn định dưới các phép toán của H trong U, và đặt Ω=B/H. Với mỗi w∈Ω, đặt uw=∑b∈wb; khi đó
(i) (uw)w∈Ω là một cơ sở của A-môđun UH.
(ii) Với mỗi ω∈Ω, lấy v, là một điểm của ω; đặt ω′=w−{vω} và B′=⋃ω∈Ωw′, khi đó B′ là một cơ sở của một không gian con bổ sung cho UH trong U.
Hợp của tập hợp tất cả các uw (với ω∈Ω) và của B′ là một cơ sở của U. Nếu U′=∑ω∈ΩAu, và U′′=∑b∈B′Ab, do đó ta có U=U′⊕U′′. Mặt khác, ta có uw∈UH với mọi w∈Ω, nên U′⊂UH. Cuối cùng, cho (αb)b∈B là một họ các phần tử của A có giá hữu hạn và đặt x=∑b∈Bαbb. Nếu x∈UH, thì αhb=αbH với mọi b∈B và mọi h∈H, nên x∈U′, và suy ra U′=uH.
Mệnh đề 5
— Cho M là một A-môđun tự do, k một số nguyên ≥0, P A-môđun con của TSk(M) được sinh bởi γk(M). Giả sử A là một miền nguyên vô hạn. Khi đó với mỗi z∈TSk(M) tồn tại a∈A−{0} sao cho az∈P.
Gọi K là trường phân thức của A. Ta đồng nhất TSk(M) với một A-môđun con của không gian vectơ K V=TSk(M)⊗AK (Mệnh đề 4, và II, p. 314). Ta phải chỉ ra rằng không gian vectơ K này được sinh bởi γk(M), tức là, mọi dạng tuyến tính K f trên V thỏa mãn f(γk(M))=0 đều bằng không. Cho (ei)i∈I là một cơ sở của M, và định nghĩa các eν như trong Mệnh đề 4. Với mọi (αi)∈A(I) ta có, khi lưu ý đến (6),
0=f(γk(i∈I∑αieI))=ν∈N(I),∣ν∣=k∑ανf(eν).
Theo Hệ quả 2 của IV, p. 18 suy ra f(eν)=0 với mọi ν∈N(I), do đó f=0.
6. Hàm tử TS
Cho M, N là các A-môđun và u một đồng cấu từ M vào N; hiển nhiên là T(u)(TS(M))⊂TS(N). Ánh xạ từ TS(M) vào TS(N) thu được từ T(u) được ký hiệu là TS(u). Dễ dàng kiểm tra rằng đó là một đồng cấu có đơn vị của các đại số phân bậc và ta có TS(u) (γp(x))=γp(u(x)) với mọi x∈M và mỗi số nguyên p≥0. Nếu v:N→P là một đồng cấu các A-môđun, ta có
TS(v∘u)=TS(v)∘TS(u).
Theo định nghĩa của TS(u), biểu đồ
Mu↓N⟶⟶TS(M)⟶T(M)↓TS(u)TS(N)⟶T(N)↓T(u)
là giao hoán, trong đó các mũi tên ngang biểu thị các đơn ánh chính tắc.
Nếu M là một nhân tử trực tiếp của N và i : M \to N là đơn ánh chính tắc, thì TS(i) là một đơn cấu của TS(M) lên một nhân tử trực tiếp R của TS(N), nhờ đó ta thường đồng nhất TS(M) và R. Điều đó được chứng minh như đối với đại số tenxơ (III, p. 487).
Giả sử M là tổng trực tiếp của một họ (Mλ)λ∈L các môđun con. Các đơn ánh chính tắc TS(Mλ)→TS(M) xác định một đồng cấu có đơn vị của các đại số phân bậc, được gọi là chính tắc:
λ∈L⨂TS(Mλ)→TS(M)
Cho λ1,λ2,…,λn là các phần tử từng đôi một phân biệt của L và cho x1∈Mλ1,…,xn∈Mλn. Theo Mệnh đề 3, (ii) của IV, p. 45 ta có
Cho N là một A-môđun là tổng trực tiếp của một họ (Nλ)λ các môđun con. Với mọi λ∈L, cho uλ là một đồng cấu từ Mλ vào Nλ. Cho u là đồng cấu từ M vào N được xác định bởi các uλ. Khi đó biểu đồ
giao hoán, trong đó h và h′ là các đồng cấu chính tắc. Thật vậy, nếu z∈TS(Mλ) và nếu iλ (resp. jλ) ký hiệu đơn ánh chính tắc của Mλ vào M (resp. N, vào N), thì ta có
— *Cho M là một A-môđun là tổng trực tiếp của một họ (Mλ)λ các môđun con. Nếu mỗi Mλ là một môđun tự do, thì đồng cấu chính tắc từ ⊗λ∈LTS(Mλ) vào TS(M) là một đẳng cấu.
Cho (ei,λ)i,Iλ là một cơ sở của Mλ. Với ν∈N(Iλ), đặt eν,λ=∏i∈Iλγν(i)(ei,λ). Các eν,λ với ν∈N(Iλ) lập thành một cơ sở của TS(Mλ) (IV, p. 47, Mệnh đề 4 (i)) và e0,λ là phần tử khả nghịch của TS(Mλ). Do đó các phần tử
⊗λ∈Leνλ,λ
với νλ∈N(Iλ) và νλ=0 trừ một số hữu hạn chỉ số, lập thành một cơ sở của ⊗ATS(Mλ). Ảnh của phần tử (9) qua đồng cấu chính tắc của mệnh đề là ∏λ∈Leνλ,λ. Nếu ký hiệu (ei)i là hợp rời nhau của các họ (ei,λ)i,Iλ, thì các phần tử trên chính xác là ∏i∈Iγν(i)(ei), trong đó ν∈N(I), và do đó chúng lập thành một cơ sở của TS(M). Điều này chứng minh mệnh đề.
Dưới các điều kiện của Mệnh đề 6, đẳng cấu nghịch đảo TS(M)→⊗λTS(Mλ) cũng được gọi là chính tắc. Thường xuyên TS(M) được đồng nhất với ⊗λTS(Mλ) bằng đẳng cấu này. Cần lưu ý rằng nếu z∈TS(Mλ) và z′∈TS(Mμ) với λ=μ, thì phần tử của TS(M) mà ta được dẫn đến để ký hiệu là z⊗z′ không phải là tích tenxơ của z và z′ trong T(M) mà là tích đối xứng của z và z′.
Mệnh đề 7
Cho M là một A-môđun, u là ánh xạ (x,y)↦x+y của M⊕M vào M và f là ánh xạ hợp
TS(M)⊗TS(M)hTS(M⊕M)TS(u)TS(M)
trong đó h là đồng cấu chính tắc. Nếu z,z′∈TS(M), thì f(z⊗z′)=zz′.
Vì i là ánh xạ x↦(x,0) của M vào M⊕M. Ta có u∘i=IdM, do đó TS(u)∘TS(i)=IdTS(M); vì thế
f(z⊗1)=TS(u)(h(z⊗1))=TS(u)(TS(i)(z))=z.
Tương tự f(1⊗z′)=z′, do đó f(z⊗z′)=f(z⊗1)f(1⊗z′)=zz′.
7. Đồng tích cho các tenxơ đối xứng
Cho M là một A-môđun tự do, và ΔM=A là đồng cấu đường chéo x↦(x,x) của M vào M⊕M. Cho cM=c là đồng cấu có đơn vị của các đại số A phân bậc hợp thành bởi các đồng cấu :
TS(M)TS(Δ)TS(M⊕M)σTS(M)⊗TS(M)
trong đó σ là đẳng cấu chính tắc. Được trang bị c, TS(M) là một đối đại số A phân bậc.
Với mọi x∈M và mỗi số nguyên p≥0 ta có TS(A)(γp(x))=γp((x,x)), do đó theo (8),
c(γp(x))=r+s=p∑γr(x)⊗γs(x).
Đặc biệt
c(x)=x⊗1+1⊗x.
Cho (xi)i∈I là một họ các phần tử của M, và với ν∈N(I) đặt xν=∏i∈Iγνi(xi).
Khi đó
c(xν)=ρ+σ=ν∑xρ⊗xσ.
Điều này suy ra từ (10) vì c là một đồng cấu đại số.
Mệnh đề 8
— Cho M là một A-môđun tự do, khi đó với các cấu trúc đại số và đối đại số của nó, TS (M) là một song đại số phân bậc giao hoán và đối giao hoán. Đồng đơn vị là ánh xạ A-tuyến tính ε:TS(M)→TS0(M)=A bằng không trên TSp(M) với p>0 và sao cho ε(1)=1.
Ta biết rằng A-đại số TS(M) là kết hợp, giao hoán và có đơn vị. Mặt khác, đồng tích theo phép dựng là một đồng cấu của các đại số phân bậc; bây giờ việc đối đại số TS(M) là đối kết hợp và đối giao hoán suy ra bằng một phép tính dễ dàng từ Công thức (10). Ánh xạ ε từ TS(M) vào A là một đồng cấu của các đại số phân bậc sao cho ε(l)=l. Cuối cùng với mọi x∈M ta có ε(γp(x))=0 nếu p>0, ε(γ0(x))=l; nếu lưu ý đến (lo), điều này cho thấy rằng (F⊗1)∘c=(l⊗E)∘c=IdTS(M); do đó E là đồng đơn vị của TS(M).
Mệnh đề 9
— Cho M và N là các A-môđun tự do và u là một A-đồng cấu từ M vào N; khi đó TS(u) là một đồng cấu song đại số.
z nguyên thủy ⇔λρ+σ=0 khi ρ=0 và σ=0 và λ0=0⇔λν=0 khi ∣ν∣=1⇔z∈M.
8. Các quan hệ giữa TS(M) và S(M)
Đơn ánh chính tắc từ M vào TS(M) mở rộng một cách duy nhất thành một đồng cấu đại số từ T(M) vào TS(M) (III, p. 485, Prop. 1). Theo Mệnh đề 2, (ii) của IV, p. 43, đồng cấu này là các toán tử đối xứng hóa. Vì đại số TS(M) là giao hoán nên tồn tại (III, p. 497) một và chỉ một đồng cấu đại số φM, gọi là chính tắc, từ đại số S(M) vào đại số TS(M) sao cho biểu đồ
T(M)ρS(M)↘sTS(M)
trong đó ρ ký hiệu đồng cấu chính tắc từ T(M) lên S(M), là giao hoán. Ta có φM(Sp(M))⊂TSp(M) với mọi p∈N.
Mặt khác, bằng cách hợp thành đơn ánh chính tắc i của TS(M) vào T(M) với đồng cấu chính tắc ρ từ T(M) lên S(M), ta thu được một đồng cấu của các A-môđun phân bậc ψM, gọi là chính tắc. Biểu đồ
TS(M)ψMS(M)↓ρT(M)
là giao hoán.
Nếu u:M→N là một đồng cấu của các A-môđun, thì biểu đồ
trong đó Δ là đồng cấu đường chéo và h,k là các đồng cấu chính tắc. Mệnh đề suy ra từ điều này.
Mệnh đề 12
— (i) *Nếu u∈Sn(M), thì ψM(φM(u))=n!u.
(ii) Nếu v∈TSn(M) thì φM(ψM(v))=n!v.
Cho x1,…,xn∈M và gọi u là tích x1…xn tính trong S(M). Khi đó φM(u) là tích x1…xn tính trong TS(M), nghĩa là
σ∈Sn∑xσ(1)⊗…⊗xσ(n).
Do đó ψM(φM(u)) bằng ∑σ∈Snxσ(1)…xσ(n) tính trong S(M), nghĩa là
n!x1…xn=n!u.
Cho v=∑i=1px1i⊗x2i⊗…⊗xni là một phần tử của TSn(M), trong đó các xji thuộc M; khi đó ψM(v) bằng ∑i=1px1ix2i…xni tính trong S(M), do đó
φM(ψM(v))=i=1∑ps(x1i⊗x2i⊗…⊗xni)=s(v)=n!v.
Hệ quả 1
— *Nếu A là một Q-đại số, thì đồng cấu chính tắc từ S(M) vào TS(M) là một đẳng cấu đại số. Hơn nữa, nếu M là tự do, thì đó là một đẳng cấu của các song đại số phân bậc.
Hệ quả 2
— Nếu A là một Q-đại số thì môđun TSn(M) được sinh bởi các lũy thừa bậc n của các phần tử của M trong TS(M). Điều này suy ra từ Hệ quả 1 và tính chất tương ứng của S(M) (III, p. 498).
9. Ánh xạ đa thức thuần nhất
Mệnh đề 13
— *Cho M và N là các A-môđun, q là một số nguyên ⩾0, và f là một ánh xạ từ M vào N. Giả sử rằng M là tự do, khi đó các điều kiện sau là tương đương: (i) Tồn tại một ánh xạ q-tuyến tính g từ Mq vào N sao cho f(x)=g(x,x,…,x) với mọi x∈M. (ii) Tồn tại một ánh xạ tuyến tính h từ TSq(M) vào N sao cho f(x)=h(γq(x)) với mọi x∈M. (iii) Tồn tại một cơ sở (ei)i∈I của M và một họ (uν)ν∈N(I),∣ν∣=q các phần tử của N sao cho
f(i∈I∑λiei)=ν∈N(I),∣ν∣=q∑λνuν
với mọi (λi)∈A(I). (iv) Với mỗi cơ sở (ei)i∈I của M tồn tại một họ (uν)ν∈N(I),∣ν∣=q các phần tử của N sao cho
f(i∈I∑λiei)=ν∈N(I),∣ν∣=q∑λνuν
với mọi (λi)∈A(I). (i) ⇒ (ii): giả sử g thỏa mãn (i), khi đó tồn tại một ánh xạ tuyến tính g′ từ Tq(M) vào N sao cho g(x1,x2,…,xq)=g′(x1⊗x2⊗…⊗x) với mọi x,…,x,∈M. Khi đó
f(x)=g(x,x,…,x)=g′(x⊗x⊗…⊗x)=g′(γq(x));
và khi viết h=g′∣TSq(M) ta thấy rằng điều kiện (ii) được thỏa mãn. (ii) ⇒ (i) và (iv): giả sử h thỏa mãn các điều kiện của (ii). Theo Mệnh đề 4, (ii) (IV, p. 47) tồn tại một ánh xạ tuyến tính g′ từ Tq(M) vào N sao cho h=g′∣TSq(M). Gọi g là ánh xạ q-tuyến tính từ M vào N liên kết với g′, khi đó với mọi x∈M ta có
f(x)=h(γq(x))=g′(x⊗x⊗…⊗x)=g(x,x,…,x),
do đó có (i). Mặt khác, nếu (ei)i∈I là một cơ sở của M, thì theo công thức (6) (IV, p. 46) ta có
f(i∑λiei)=h(γq(i∑λiei))=h∣ν∣=q∑λνeν
khi viết eν=∏i∈Iγνi(ei); do đó ta có
f(i∑λiei)=∣ν∣=q∑λνh(eν).
(iv) ⇒ (iii) là hiển nhiên. (iii) ⇒ (ii): cho (ei),(uν) thỏa mãn các điều kiện của (iii), đặt eν=∏i∈Iγνi(ei) và nhắc lại rằng (eν)∣ν∣=q là một cơ sở của TSq(M). Gọi h là đồng cấu từ TSq(M) vào N được xác định bởi h(eν)=uν; khi đó với mỗi x=∑iλiei trong M ta có
— Cho M và N là các A-môđun và q là một số nguyên ≥0. Giả sử rằng M là tự do, và ký hiệu bởi PolAq(M,N) hoặc đơn giản là Polq(M,N) tập hợp các ánh xạ từ M vào N thỏa mãn các điều kiện của Mệnh đề 13. Các phần tử của Polq(M,N) được gọi là các ánh xạ đa thức thuần nhất bậc q từ M vào N.
Mệnh đề 13 (i) xác định một đồng cấu của các A-môđun:
Lq(M,...,M;N)→Polq(M,N).
Mệnh đề 13 (ii) xác định một đồng cấu của các A-môđun
HomA(TSq(M),N)→Polq(M,N).
Các đồng cấu này được gọi là chính tắc. Chúng toàn ánh.
Ví dụ 1
Các ánh xạ đa thức thuần nhất bậc 1 từ M vào N là các ánh xạ A-tuyến tính từ M vào N.
Ví dụ 2
Cho (Ni)i∈I là một họ các A-môđun, fi là một ánh xạ từ M vào Ni,i∈I, và f:M→∏i∈INi là ánh xạ có các thành phần là fi. Để f là một ánh xạ đa thức thuần nhất bậc q thì điều kiện cần và đủ là mỗi fi đều là một ánh xạ đa thức thuần nhất bậc q.
Ví dụ 3
Cho (Mj)j∈J là một họ hữu hạn các A-môđun tự do và u:∏j∈JMj→N là một ánh xạ đa tuyến tính; khi đó u là đa thức bậc Card(J).
Ví dụ 4
Cho (Xi)i∈I là một họ các ẩn, N là một A-môđun và u∈N[(Xi)i∈I] là một đa thức thuần nhất bậc q. Ánh xạ (xi)i∈I↦u((xi)i∈I) từ A(I) vào N là một ánh xạ đa thức thuần nhất bậc q: điều này thấy ngay từ điều kiện (iii) của Mệnh đề 13. Nếu I là hữu hạn, mọi ánh xạ đa thức thuần nhất bậc q từ A(I)=A′ vào N đều có dạng đó.
Ví dụ 5
Ánh xạ (xi)i∈N↦x02+x12+…+xn2+… từ A(N) vào A là một ánh xạ đa thức thuần nhất bậc 2. Nếu A=2/22, nó trùng với ánh xạ tuyến tính (xi)i∈I↦x0+x1+…+xn+…
Ví dụ 6
Cho f∈PolAq(M,N), cho B là một vành giao hoán, ρ là một đồng cấu từ B vào A và M′ và N′ là các B-môđun dẫn xuất từ M và N bằng ρ. Giả sử rằng M′ là tự do; khi đó f∈PolBq(M′,N′): điều này suy ra ngay từ điều kiện (i) của Mệnh đề 13.
Mệnh đề 14
— Cho M,N,P là các A-môđun, q và r là các số nguyên ⩾0, và giả sử rằng M và N tự do. Nếu f∈Polq(M,N), f′∈Polr(N,P), thì f′∘f∈Polqr(M,P).
Tồn tại một ánh xạ q-tuyến tính g của Mq vào N và một ánh xạ r-tuyến tính g′ của Nr vào P sao cho
và ánh xạ (x1,…,xqr)↦g′(g(x1,…,xq),…,g(xq(r−1)+1,…,xqr)) của Mqr vào P là qr-tuyến tính.
Mệnh đề 15
— Cho M là một A-môđun tự do, N là một A-môđun và q là một số nguyên ⩾0. Ta giả sử rằng ánh xạ y↦q!y là một tự đẳng cấu của N. Cho f∈Polq(M,N), khi đó tồn tại một và chỉ một ánh xạ q-tuyến tính đối xứng h của Mq vào M sao cho f(x)=h(x,x,…,x) với mọi x∈M. Với bất kỳ x1,…,xq∈M nào ta có
Khi đó h là đối xứng và f(x)=h(x,x,…,x) với mọi x∈M.
b) Cho h là một ánh xạ q-tuyến tính đối xứng của Mq vào N sao cho f(x) = g(x, x, ..., x). Gọi l là ánh xạ tuyến tính của T^q(M) vào N sao cho h(x_1, ..., x_q) = l(x_1 \otimes ... \otimes x_q) với bất kỳ x_1, ..., x_q \in M. Ta có
và điều này chứng minh công thức (16) và tính duy nhất của h.
Mệnh đề 16
— *Cho M là một A-môđun tự do, N là một A-môđun, q là một số nguyên dương và u là đồng cấu chính tắc từ Hom (TSq(M), N) vào PolY(M,N).
(i) Nếu A là một miền nguyên vô hạn và N không có xoắn, thì u là một đẳng cấu.
(ii) Nếu ánh xạ y↦q!y trong N là đơn ánh, thì u là một đẳng cấu.
Trong hai trường hợp của mệnh đề này, ta phải chứng minh rằng u là đơn ánh, nghĩa là mọi ánh xạ tuyến tính f từ TSq(M) vào N mà bằng không trên γq(M) đều triệt tiêu.
Giả sử A là một miền nguyên vô hạn và N không có xoắn. Với mọi z∈TSq(M) tồn tại a∈A−{0} sao cho az là một tổ hợp A-tuyến tính của các phần tử của y, (M) (IV, p. 47, Mệnh đề 5). Do đó af(z)=f(az)=0, và vì thế f(z)=0.
Tiếp theo giả sử ánh xạ y↦q!y trong N là đơn ánh; khi đó theo IV, p. 45, Mệnh đề 3, (v), f triệt tiêu trên s . T^q(M). Vậy nếu z∈TSq(M), ta có q!f(z)=f(sz)=0, và vì thế f(z)=0.
Hệ quả
— *Cho M là một A-môđun tự do, N là một A-môđun, q là một số nguyên dương, h∈Polq(M,N) và (ei)i, một cơ sở của M. Trong hai trường hợp của Mệnh đề 16, tồn tại một họ duy nhất (u,, N(I),∣⋅∣, , các phần tử của N sao cho h(∑i∈Iλiei)=∑∣ν∣=qλνuν với mọi (λi)∈A(1)
10. Ánh xạ đa thức
Định nghĩa 4
— *Cho M và N là các A-môđun và giả sử rằng M là tự do. Ký hiệu ánh xạ(M, N) là A-môđun của mọi ánh xạ từ M vào N. Môđun con ∑q>0PolAq(M,N) của ánh xạ(M, N) được ký hiệu là PolA(M,N) hoặc đơn giản là Pol(M,N); các phần tử của nó được gọi là các ánh xạ đa thức từ M vào N.
Cho (ei)i∈I là một cơ sở của M và giả sử rằng l là hữu hạn; theo Mệnh đề 13 (IV, p. 54), một ánh xạ f từ M vào N là đa thức khi và chỉ khi tồn tại một đa thức F theo các ẩn số Xi với hệ số trong N sao cho
f(i∈I∑xiei)=F(x)
với mọi họ x=(xi)i∈I trong A(I). Tính chất này không phụ thuộc vào cơ sở được chọn của M và nó biện minh cho thuật ngữ « ánh xạ đa thức ».
Mệnh đề 17
— *Cho M là một A-môđun tự do và B là một A-đại số kết hợp, giao hoán và có đơn vị. Khi đó PolA(M,B) là một đại số con trên B của đại số Map(M,B).
Điều này suy ra từ Định nghĩa 4 và Mệnh đề 13, (iv) (IV, p. 54).
Mệnh đề 18
— *Cho M, N, P là các A-môđun, và giả sử rằng M và N là tự do. Nếu f∈Pol(M,N), g∈Pol(N,P), thì g∘f∈Pol(M,P).
Ta có thể rút gọn ngay về trường hợp tồn tại một số nguyên q sao cho g∈Polq(N,P); khi đó tồn tại một ánh xạ q-tuyến tính h từ Nq vào P sao cho g(y)=h(y,y,…,y) với mọi y∈N. Viết f thành một tổng các ánh xạ đa thức thuần nhất, như vậy ta được rút gọn về việc chứng minh rằng ánh xạ
x↦h(f1(x),f2(x),…,fq(x))
từ M vào P, trong đó fi∈Polqi(M,N), là đa thức. Với i=1,…,q tồn tại một ánh xạ qi-tuyến tính li từ Mqi vào N sao cho fi(x)=li(x,x,…,x) với mọi x∈M. Do đó
Giả sử rằng tồn tại α0,α1,…,αr∈A sao cho f(α0)=⋯=f(αr)=0, và sao cho với i=j phép vị tự có tỷ số αi−αj trong N là đơn ánh, thì f=0.
(Bổ đề này tổng quát hóa Hệ quả ở IV, p. 16.)
Bổ đề rõ ràng đúng với n=0; chúng ta sẽ chứng minh nó bằng quy nạp theo n. Ta có
f(X)=f(X)−f(α0)=i=1∑nmi(Xi−α0i)=(X−α0)g(X)
trong đó g là một phần tử của N[X] có dạng m0′+m1′X+…+mn−1′Xn−1. Các giả thiết của bổ đề suy ra rằng g(α1)=⋯=g(αr)=0, do đó g=0 theo giả thiết quy nạp, và vì thế f=0.
Mệnh đề 19
— *Cho M là một A-môđun tự do, N là một A-môđun, G là một nhóm con cộng tính vô hạn của A, và giả sử rằng các phép vị tự của N xác định bởi các phần tử khác không của G là đơn ánh. Khi đó Pol(M, N) là tổng trực tiếp của các Polq(M, N).
Cho f0,f1,…,fn sao cho fi∈Poli(M,N) và giả sử ta có quan hệ f0+…+fn=0. Lấy x∈M, khi đó với mọi λ∈G ta có
0=i=0∑nfi(λx)=i=0∑nλifi(x).
Theo Bổ đề 2, áp dụng cho đa thức ∑i=0nfi(x)Xi ta có
f0(x)=⋯=fn(x)=0
Hệ quả
— *Giả sử rằng A là một miền nguyên vô hạn; cho M là một A-môđun tự do và N là một A-môđun không xoắn.
(i) Ta có Pol(M,N)=⨁q≥0Polq(M,N) và mỗi Polq(M,N) có thể được đồng nhất một cách chính tắc với Hom(TSq(M),N).
(ii) Cho f∈Pol(M,N) và (ei)i, một cơ sở của M. Tồn tại một và chỉ một họ (uν)ν∈N(I) các phần tử của N sao cho f(∑i∈Iλiei)=∑ν∈N(I)λνuν với mọi (λi)∈A(I).
Mệnh đề (i) suy ra từ Mệnh đề 16 và 19, còn (ii) suy ra từ (i) và Hệ quả của Mệnh đề 16.
11. Các quan hệ giữa S(M∗), TS(M)*gr và Pol(M, A)
Cho M là một A-môđun tự do, ta sẽ trang bị cho đối ngẫu phân bậc TS(M)*gr cấu trúc đại số phân bậc giao hoán, kết hợp và có đơn vị 1, dẫn xuất từ cấu trúc đối đại số phân bậc của TS(M) (III, p. 580). Theo III, p. 497 tồn tại một đồng cấu duy nhất của các A-đại số phân bậc
θ:S(M∗)→TS(M)∗gr
cảm sinh trong bậc 1 ánh xạ đồng nhất của M*.
1 Ở đây một đồng cấu phân bậc bậc – k từ TS(M) vào A được xem như một phần tử bậc k của TS(M)*gr (II, p. 377).
Mệnh đề 20
— *Nếu A-môđun M là tự do và sinh hữu hạn, thì 0 là một đẳng cấu của các đại số phân bậc.
Cho (ei)i∈I là một cơ sở của M và (ei∗)i∈I là cơ sở đối ngẫu của M∗. Với ν∈NI đặt
eν=i∈I∏γνi(ei)∈TS(M)
Theo Mệnh đề 4 (IV, p. 47), họ (eν)ν,NI là một cơ sở của TS(M); gọi (eν∗) là cơ sở của TS(M)∗gr đối ngẫu với (eν). Theo III, p. 505, Định lý 1, chỉ cần chứng tỏ rằng với mọi ν∈NI ta có
eν∗=i∈I∏(ei∗)νi,
hay cũng có nghĩa là với ρ,σ∈NI ta có eρ∗⋅eσ∗=eρ+σ∗; nhưng mệnh đề cuối cùng này suy ra từ IV, p. 50, Công thức (12).
Nhận xét 1
— Theo cùng một cách, ta thấy rằng nếu M là một A-môđun tự do sinh hữu hạn, thì đại số phân bậc S(M)∗gr được định nghĩa trong III, p. 593 có thể được đồng nhất với TS(M∗).
— 2) Đồng cấu hợp thành A,=u∘0:S(M∗)→PolA(M,A) là đồng cấu có đơn vị duy nhất của các đại số cảm sinh phép nhúng của
M∗=Pol1(M,A)
trong Pol(M,A). Nếu M là tự do sinh hữu hạn và A là một miền nguyên vô hạn, thì λM là song ánh (Mệnh đề 20 và Hệ quả của Mệnh đề 19). Đặc biệt, nếu A là một miền nguyên vô hạn, thì đồng cấu chính tắc f↦f~ từ A[X1,…,Xn] vào Pol(An,A) (IV, p. 4) là một đẳng cấu.
3) Xét đồng tích cS:S(M∗)→S(M∗×M∗) (III, p. 575, Ví dụ 6). Với mọi v∈S(M∗), x,y∈M, ánh xạ đa thức λM×M(cS(v)):M×M→A ánh xạ (x,y) thành A,(v)(x+y). Vì hai đồng cấu đại số của S(M∗) vào Map(M×M,A) được xác định theo cách này trùng nhau trên M∗, theo quan hệ