§ 1. Đạo hàm thứ nhất
Như đã nói trong Lời mở đầu, trong chương này và chương tiếp theo chúng ta sẽ nghiên cứu các tính chất vô cùng bé của những hàm được xác định trên một tập con của trường thực và nhận giá trị trong một không gian vectơ tôpô Hausdorff E trên trường ; để vắn tắt, ta sẽ nói rằng một hàm như thế là một hàm vectơ của một biến thực. Trường hợp quan trọng nhất là trường hợp (các hàm thực của một biến thực). Khi , việc xét một hàm vectơ nhận giá trị trong E quy về việc xét đồng thời hàm thực hữu hạn.
Nhiều định nghĩa và tính chất được phát biểu trong chương I mở rộng được cho các hàm được xác định trên một tập con của trường các số phức và nhận giá trị trong một không gian vectơ tôpô trên (các hàm vectơ của một biến phức). Một số trong các định nghĩa và tính chất này còn mở rộng được cả cho các hàm được xác định trên một tập con của một trường tôpô giao hoán tùy ý K và nhận giá trị trong một không gian vectơ tôpô trên K.
Chúng tôi sẽ chỉ ra các sự khái quát hóa ấy trong khi trình bày (xem đặc biệt I, p. 10, Nhận xét 2), nhấn mạnh trước hết trường hợp các hàm của một biến phức, vốn quan trọng hơn hẳn, cùng với các hàm của một biến thực, và sẽ được nghiên cứu sâu hơn trong một Quyển sau.
1. Đạo hàm của một hàm vectơ
Định nghĩa 1
Cho là một hàm vectơ xác định trên một khoảng không rút gọn thành một điểm duy nhất. Ta nói rằng khả vi tại một điểm nếu*
Nếu khả vi tại điểm , thì hạn chế của trên mọi khoảng không rút gọn thành một điểm duy nhất và sao cho cũng khả vi; và đạo hàm của hạn chế này bằng . Ngược lại, cho là một khoảng được chứa trong và chứa một lân cận của tương đối với ; nếu hạn chế của trên có đạo hàm tại điểm , thì cũng vậy.
Ta tóm tắt các tính chất này bằng cách nói rằng khái niệm đạo hàm là một khái niệm địa phương.
Nhận xét 1
Trong Động học, nếu điểm là vị trí của một điểm chuyển động trong không gian tại thời điểm , thì được gọi là vận tốc trung bình giữa các thời điểm và , và giới hạn của nó là vận tốc tức thời (hay đơn giản là vận tốc) tại thời điểm (khi giới hạn này tồn tại).
Nhận xét 2
Nếu một hàm , xác định trên , khả vi tại một điểm , thì nó nhất thiết liên tục đối với tại điểm này.
Định nghĩa 2
Cho là một hàm vectơ xác định trên một khoảng , và cho là một điểm của sao cho khoảng (tương ứng, ) không rút gọn thành một điểm duy nhất. Ta nói rằng khả vi bên phải (tương ứng, bên trái) tại điểm nếu hạn chế của trên khoảng (tương ứng, ) khả vi tại điểm ; giá trị của đạo hàm của hạn chế này tại điểm được gọi là đạo hàm phải (tương ứng, trái) của tại điểm và được ký hiệu bởi (tương ứng, ).
Cho là một hàm vectơ xác định trên , và là một điểm trong của sao cho liên tục tại điểm này; suy ra từ định nghĩa 1 và 2 rằng để khả vi tại thì điều kiện cần và đủ là có cả đạo hàm phải và đạo hàm trái tại điểm này, và các đạo hàm ấy bằng nhau; và khi đó
Ví dụ 1
Một hàm hằng có đạo hàm không tại mọi điểm.
Ví dụ 2
Một hàm tuyến tính afin có đạo hàm bằng tại mọi điểm.
Ví dụ 3
Hàm thực (được xác định với ) khả vi tại mỗi điểm , vì ta có , và, do liên tục tại , giới hạn của biểu thức đứng trước là .
Ví dụ 4
Hàm vô hướng , được xác định trên , có đạo hàm phải và đạo hàm trái tại ; nó không khả vi tại điểm này.
Ví dụ 5
Hàm thực bằng 0 với , và bằng với , được xác định và liên tục trên , nhưng không có cả đạo hàm phải lẫn đạo hàm trái tại điểm .* Có thể cho những ví dụ về các hàm liên tục trên một khoảng và không có đạo hàm tại mọi điểm của khoảng ấy (I, p. 35, exerc. 2 and 3).
Định nghĩa 3
Ta nói rằng một hàm vectơ xác định trên một khoảng là khả vi (tương ứng, khả vi phải, khả vi trái) trên nếu nó khả vi (tương ứng, khả vi phải, khả vi trái) tại mỗi điểm của ; hàm (tương ứng, , ) xác định trên được gọi là hàm dẫn xuất, hoặc (do lạm dụng ngôn ngữ) là đạo hàm (tương ứng, đạo hàm phải, đạo hàm trái) của , và được ký hiệu bởi hoặc hoặc (tương ứng, ).
Nhận xét
Một hàm có thể khả vi trên một khoảng mà đạo hàm của nó không liên tục tại mọi điểm của khoảng ấy (xem. I, p. 36, exerc. 5); *điều này được chỉ ra bởi ví dụ về hàm bằng 0 khi và bằng khi ; nó có đạo hàm tại mọi nơi, nhưng đạo hàm này gián đoạn tại điểm .
2. Tính tuyến tính của phép vi phân
Mệnh đề 1
Tập hợp các hàm vectơ xác định trên một khoảng , nhận giá trị trong một không gian vectơ tôpô đã cho, và khả vi tại điểm , là một không gian vectơ trên , và ánh xạ là một ánh xạ tuyến tính từ không gian này vào .
Nói cách khác, nếu và được xác định trên và khả vi tại điểm , thì và ( là một vô hướng tùy ý) khả vi tại và các đạo hàm của chúng tại đó lần lượt là và . Điều này suy ra ngay lập tức từ tính liên tục của và của lần lượt trên và .
Hệ quả
Tập hợp các hàm vectơ xác định trên một khoảng , nhận giá trị trong một không gian vectơ tôpô đã cho, và khả vi trên , là một không gian vectơ trên , và ánh xạ là một ánh xạ tuyến tính từ không gian này vào không gian vectơ các ánh xạ từ vào .
Nhận xét
Nếu trang bị cho không gian vectơ các ánh xạ từ vào và không gian con của nó gồm các ánh xạ khả vi (x. Gen. Top., X, p. 277) tôpô hội tụ đơn (hoặc tôpô hội tụ đều), thì ánh xạ tuyến tính không liên tục (nói chung); chẳng hạn, dãy các hàm hội tụ đều tới 0 trên , nhưng dãy các đạo hàm thậm chí không hội tụ đơn tới 0.
Mệnh đề 2
Cho và là hai không gian vectơ tôpô trên , và là một ánh xạ tuyến tính liên tục từ vào . Nếu là một hàm vectơ xác định trên một khoảng , nhận giá trị trong , và khả vi tại điểm , thì hàm hợp có đạo hàm bằng tại .
Thật vậy, vì , điều này suy ra từ tính liên tục của .
Hệ quả
Nếu là một dạng tuyến tính liên tục trên , thì hàm thực có đạo hàm bằng tại điểm .
Ví dụ 1
Cho là một hàm nhận giá trị trong , xác định trên một khoảng ; mỗi hàm thực không gì khác hơn là hàm hợp , nên khả vi tại điểm nếu khả vi tại đó, và khi đó .
Ví dụ 2
Trong Động học, nếu là vị trí của một điểm chuyển động tại thời điểm , nếu là vị trí ở cùng thời điểm của hình chiếu của lên một mặt phẳng (tương ứng, một đường thẳng ) với hạt nhân là một đường thẳng (tương ứng, một mặt phẳng) không song song với (tương ứng, ), thì là hợp thành của phép chiếu của lên (tương ứng, ) và của ; vì là một ánh xạ tuyến tính (liên tục), nên ta thấy rằng hình chiếu của vận tốc của một điểm chuyển động lên một mặt phẳng (tương ứng, một đường thẳng) bằng vận tốc của hình chiếu của điểm chuyển động lên mặt phẳng (tương ứng, đường thẳng).
Ví dụ 3
Cho là một hàm nhận giá trị phức xác định trên một khoảng , và cho là một số phức tùy ý; mệnh đề 2 cho thấy rằng nếu khả vi tại một điểm thì cũng vậy, và đạo hàm của hàm này tại bằng .
3. Đạo hàm của một tích
Bây giờ ta xét không gian vectơ tôpô () trên , và một ánh xạ đa tuyến tính liên tục (mà ta sẽ ký hiệu bởi
của vào một không gian vectơ tôpô F trên .
MỆNH ĐỀ 3 . *Với mỗi chỉ số (), cho là một hàm xác định trên một khoảng , nhận giá trị trong , và khả vi tại điểm . Khi đó hàm
xác định trên với giá trị trong có đạo hàm bằng
tại .
Đặt ; khi đó, nhờ đồng nhất thức
ta có thể viết
Nhân cả hai vế với rồi cho tiến tới trong , ta thu được biểu thức (1), vì cả ánh xạ
lẫn phép cộng trong F đều liên tục.
Nhắc lại (Alg., II, p. 265) rằng một ánh xạ từ vào F được gọi là đa tuyến tính nếu mỗi ánh xạ riêng phần
từ vào F () là một ánh xạ tuyến tính, các với chỉ số là tùy ý trong . Ta chú ý rằng nếu các là hữu hạn chiều trên thì mọi ánh xạ đa tuyến tính từ vào F tất yếu là liên tục; điều này không nhất thiết còn đúng nếu một vài trong các không gian ấy là các không gian vectơ tôpô chiều vô hạn.
Khi một vài trong các hàm là hằng, thì các số hạng trong biểu thức (1) chứa các đạo hàm của chúng đều bằng không.
Xét chi tiết trường hợp riêng , trường hợp quan trọng nhất trong các ứng dụng: nếu là một ánh xạ song tuyến tính liên tục từ vào , (E, F, G là các không gian vectơ tôpô trên ), và và là hai hàm vectơ, khả vi tại , nhận giá trị lần lượt trong E và F, thì hàm vectơ (mà ta ký hiệu là ) có đạo hàm bằng tại . Đặc biệt, nếu là một vectơ hằng, thì (resp. ) có đạo hàm bằng (resp. ) tại .
Nếu và đều khả vi trên I thì cũng vậy, và ta có
(2)
Ví dụ 1
Cho là một hàm thực, là một hàm vectơ, cả hai đều khả vi tại một điểm ; hàm có đạo hàm bằng tại . Đặc biệt, nếu là hằng, thì có đạo hàm . Nhận xét cuối cùng này, phối hợp với ví dụ 1 của I, p. 5, chứng minh rằng nếu là một hàm vectơ nhận giá trị trong , thì điều kiện cần và đủ để khả vi tại điểm là mỗi hàm thực () đều khả vi tại đó: thật vậy, nếu là cơ sở chính tắc của , thì ta có thể viết .
Ví dụ 2
Hàm thực phát sinh từ hàm đa tuyến tính
được xác định trên , bằng cách thay vào mỗi ; vậy mệnh đề 3 cho thấy rằng khả vi trên và có đạo hàm là . Do đó hàm đa thức (trong đó các là các vectơ hằng) có đạo hàm là
khi các là các số thực thì hàm này trùng với đạo hàm của một hàm đa thức như được định nghĩa trong Đại số (A, IV).
Ví dụ 3
Tích vô hướng Euclid (Gen. Top , VI, p. 40) là một ánh xạ song tuyến tính (tất yếu liên tục) từ vào . Nếu và là hai hàm vectơ nhận giá trị trong , và khả vi tại điểm , thì hàm thực có đạo hàm bằng tại điểm . Có một kết quả tương tự đối với tích vô hướng Hermit trên , khi không gian này được xét như một không gian vectơ trên .
Hãy xét riêng trường hợp chuẩn Euclid là hằng, do đó cũng là hằng; khi viết rằng đạo hàm của triệt tiêu tại ta được ; nói cách khác, trực giao với .
Ví dụ 4
Nếu là một đại số tôpô trên (xem Introduction), thì tích của hai phần tử của là một hàm song tuyến tính liên tục của ; nếu và nhận giá trị trong và khả vi tại điểm , thì hàm có đạo hàm bằng tại . Đặc biệt, nếu và là hai ma trận vuông cấp , khả vi tại , thì tích của chúng có đạo hàm bằng tại (trong đó và ).
Ví dụ 5
Định thức của vectơ của không gian (Alg., III, p. 522) là một hàm đa tuyến tính (liên tục) theo các , nên ta thấy rằng nếu hàm thực khả vi tại , thì định thức của chúng có đạo hàm bằng
Nhận xét
Nếu là một ma trận bình phương khả vi và khả nghịch tại điểm , thì đạo hàm của định thức của nó có thể được biểu diễn theo đạo hàm của bởi công thức
4. Đạo hàm của nghịch đảo của một hàm
Mệnh đề 4
Cho E là một đại số chuẩn đầy đủ với một phần tử đơn vị trên và cho là một hàm xác định trên một khoảng , nhận giá trị trong E, và khả vi tại điểm . Nếu khả nghịch trong E, thì hàm được xác định trên một lân cận của (đối với I), và có đạo hàm bằng tại .
Thật vậy, tập hợp các phần tử khả nghịch trong E là một tập hợp mở mà trên đó hàm là liên tục (Gen. Top., IX, p. 178); vì liên tục (tương đối với I) tại , nên được xác định trên một lân cận của , và ta có
Nhắc lại từ (Alg., I, p. 15) rằng một phần tử được gọi là khả nghịch nếu tồn tại một phần tử của , ký hiệu là , sao cho (ở đây e là phần tử đơn vị của ).
Ví dụ 1
Trường hợp riêng quan trọng nhất là trường hợp E là một trong các trường hoặc : nếu là một hàm nhận giá trị thực hoặc phức, khả vi tại điểm , và sao cho , thì có đạo hàm bằng tại .
Ví dụ 2
Nếu là một ma trận bình phương cấp , khả vi tại và khả nghịch tại điểm này, thì có đạo hàm bằng tại .
5. Đạo hàm của một hàm hợp
Mệnh đề 5
Cho là một hàm thực xác định trên một khoảng , và là một hàm vectơ xác định trên một khoảng của chứa . Nếu khả vi tại điểm và khả vi tại điểm thì hàm hợp có đạo hàm bằng tại .
Đặt ; với ta có thể viết
6. Đạo hàm của một hàm nghịch đảo
Mệnh đề 6
Cho là một đồng phôi của một khoảng lên một khoảng , và cho là đồng phôi nghịch đảo. Nếu khả vi tại điểm , và nếu , thì có đạo hàm bằng tại .
Với mỗi ta có và ; do đó ta có thể viết
Hệ quả
Nếu khả vi trên và nếu trên , thì khả vi trên và đạo hàm của nó tại mỗi điểm là .
Ví dụ, với mỗi số nguyên , hàm là một đồng phôi của lên chính nó, là hàm nghịch đảo của , và có đạo hàm tại mỗi .
Từ mệnh đề 5, người ta dễ dàng suy ra rằng với mọi số hữu tỉ thì hàm có đạo hàm tại mọi .
Để là một đồng phôi từ lên một tập con của thì điều kiện cần và đủ là liên tục và đơn điệu nghiêm ngặt trên (Gen. Top., IV, p. 338, định lý 5).
Nhận xét 1
Tất cả các mệnh đề trước đây, được phát biểu cho các hàm khả vi tại một điểm , ngay lập tức cho các mệnh đề đối với các hàm khả vi phải (tương ứng, trái) tại , khi, thay vì xét chính các hàm ấy, người ta xét các hạn chế của chúng trên giao của các khoảng định nghĩa của chúng với khoảng (tương ứng, ]]); chúng tôi để độc giả tự phát biểu chúng.
Nhận xét 2
Các định nghĩa và mệnh đề đi trước (trừ những điều liên quan đến các đạo hàm phải và trái) được mở rộng dễ dàng sang trường hợp khi người ta thay thế bởi một trường tôpô giao hoán không rời rạc tùy ý , và các không gian vectơ tôpô (tương ứng, các đại số tôpô) trên bởi các không gian vectơ tôpô (tương ứng, các đại số tôpô) trên . Trong đn. 1 và các mệnh đề 1, 2 và 3, chỉ cần thay thế I bởi một lân cận của trong ; trong mệnh đề 4, còn phải giả thiết thêm rằng ánh xạ được xác định và liên tục trên một lân cận của trong E. Mệnh đề 5 được tổng quát hóa theo cách sau: cho là một trường con không rời rạc của trường tôpô , cho E là một không gian vectơ tôpô trên ; cho là một hàm được xác định trên một lân cận của , nhận giá trị trong (được xét như một không gian vectơ tôpô trên ), khả vi tại , và cho g là một hàm được xác định trên một lân cận của , nhận giá trị trong E, và khả vi tại điểm ; khi đó ánh xạ khả vi tại và có đạo hàm tại đó (khi ấy E được xét như một không gian vectơ tôpô trên ).
Với cùng ký hiệu, cho là một hàm được xác định trên một lân cận V của , nhận giá trị trong E, và khả vi tại điểm ; nếu thì hạn chế của lên khả vi tại , và có đạo hàm tại đó. Trong thực hành, những nhận xét này áp dụng trước hết cho trường hợp và .
Sau cùng, mệnh đề 6 cũng mở rộng cho trường hợp thay I bằng một lân cận của , và bằng một đồng phôi từ I lên một lân cận của trong .
7. Đạo hàm của các hàm thực
Các định nghĩa và mệnh đề trước đây còn có thể được bổ sung trên nhiều phương diện khi ta xét các hàm thực của một biến thực.
Trước hết, nếu là một hàm như vậy, xác định trên một khoảng , và liên tục tương đối đối với I tại một điểm , thì có thể xảy ra rằng khi tiến tới mà vẫn nằm trong I và , thì có một giới hạn bằng hoặc bằng ; khi đó người ta nói rằng khả vi tại và có đạo hàm bằng (tương ứng ) tại đó; nếu hàm có một đạo hàm (hữu hạn hoặc vô hạn) tại mọi điểm của I, thì hàm (nhận giá trị trong ) lại được gọi là hàm dẫn xuất (hoặc đơn giản là đạo hàm) của . Người ta cũng tổng quát hóa tương tự các định nghĩa về đạo hàm phải và đạo hàm trái.
Ví dụ
Tại điểm hàm (hàm nghịch đảo của , một đồng phôi của lên chính nó) có đạo hàm, bằng ; tại hàm có đạo hàm phải và đạo hàm trái .
Các công thức tính đạo hàm của một tổng, của một tích các hàm thực khả vi, và của hàm nghịch đảo của một hàm khả vi (mệnh đề 1, 3 và 4), cũng như công thức tính đạo hàm của một hợp thành (nhận giá trị thực) của các hàm (mệnh đề 5) vẫn còn đúng khi các đạo hàm xuất hiện là vô hạn, miễn là mọi biểu thức xuất hiện trong các công thức ấy đều có nghĩa (Gen Top., IV, p. 345–346). Thật vậy, nếu trong mệnh đề 6 ta giả sử rằng tăng ngặt (tương ứng giảm nghiêm ngặt) và liên tục trên I, và nếu , thì hàm nghịch đảo có đạo hàm bằng (tương ứng ) tại điểm ; nếu (tương ứng ), thì có đạo hàm bằng 0. Có những kết quả tương tự đối với các đạo hàm phải và trái, mà chúng tôi để bạn đọc tự xử lý.
Cho C là đồ thị hay đường biểu diễn của một hàm thực hữu hạn , tập con của mặt phẳng tạo thành bởi các điểm khi chạy qua tập hợp trên đó được xác định. Nếu hàm có đạo hàm phải hữu hạn tại một điểm , thì nửa đường thẳng có gốc tại điểm của C, và có các hệ số chỉ phương được gọi là nửa tiếp tuyến phải của đường cong C tại điểm ; khi (resp. ) ta cũng dùng thuật ngữ ấy cho nửa đường thẳng có gốc và có các hệ số chỉ phương (resp. ). Tương tự, người ta định nghĩa nửa tiếp tuyến trái tại khi tồn tại. Với các định nghĩa này, có thể kiểm tra nhanh rằng góc mà nửa tiếp tuyến phải (resp. trái) tạo với trục hoành là giới hạn của góc mà trục này tạo với nửa đường thẳng xuất phát từ và chuyển qua điểm của C, khi tiến tới nhưng vẫn giữ (resp. ).
Cũng có thể nói rằng nửa tiếp tuyến phải (tương ứng trái) là giới hạn của nửa đường thẳng gốc tại chuyển qua , khi ta trang bị cho tập hợp các nửa đường thẳng có cùng gốc tôpô không gian thương (Top. Gén., VIII, p. 107).
Nếu hai nửa tiếp tuyến tồn tại tại một điểm của C, thì chúng chỉ có các hướng đối nhau khi có đạo hàm (hữu hạn hay không) tại điểm (giả sử là điểm trong của I); chúng chỉ trùng nhau khi và là vô hạn và trái dấu. Trong hai trường hợp ấy, ta nói rằng đường thẳng chứa hai nửa tiếp tuyến đó là tiếp tuyến với C tại điểm .
Khi tiếp tuyến tại tồn tại, nó là giới hạn của đường thẳng đi qua và khi tiến tới mà vẫn , tôpô trên tập hợp các đường thẳng đi qua một điểm cố định cho trước là tôpô của không gian thương (Gen. Top., VIII, p. 114).
Các khái niệm tiếp tuyến và nửa tiếp tuyến của một đồ thị là những trường hợp riêng của các khái niệm tổng quát sẽ được định nghĩa trong phần của Bộ sách này dành cho các đa tạp khả vi.
Định nghĩa 4
Ta nói rằng một hàm thực , xác định trên một tập con A của một không gian tôpô E, có một cực đại tương đối (tương ứng, cực đại tương đối ngặt, cực tiểu tương đối, cực tiểu tương đối ngặt) tại một điểm , tương đối với A, nếu tồn tại một lân cận của trong E sao cho tại mọi điểm phân biệt với ta có (tương ứng, , , ).
Hiển nhiên là nếu đạt cận trên bé nhất của nó (tương ứng, cận dưới lớn nhất) trên A tại một điểm của A, thì nó có một cực đại tương đối (tương ứng, cực tiểu tương đối) tương đối với A tại điểm đó; dĩ nhiên mệnh đề đảo lại là sai.
Chú ý rằng nếu , và nếu có (chẳng hạn) một cực đại tương đối tại một điểm tương đối với B, thì không nhất thiết có một cực đại tương đối tương đối với A tại điểm đó.
Mệnh đề 7
Cho là một hàm thực hữu hạn, xác định trên một khoảng . Nếu đạt cực đại tương đối (tương ứng cực tiểu tương đối) tại một điểm nằm trong I, và có cả đạo hàm phải lẫn đạo hàm trái tại điểm này, thì ta có và (tương ứng và ); đặc biệt, nếu khả vi tại điểm , thì .
Mệnh đề này suy ra một cách hiển nhiên từ các định nghĩa.
Ta còn có thể nói thêm rằng nếu tại một điểm nằm trong I, hàm khả vi và đạt một cực đại hoặc cực tiểu tương đối, thì tiếp tuyến với đồ thị của nó song song với trục hoành. Đảo lại là sai, như ví dụ hàm cho thấy: hàm này có đạo hàm không tại điểm , nhưng tại điểm đó không có cực đại tương đối cũng không có cực tiểu tương đối.
Bài tập
Xem các bài tập cho § 1.