Trong đoạn này, trường định giá K được giả thiết là ultrametric và có đặc số 0. Ký hiệu A là vành định giá của K, m là iđêan cực đại của A và p là đặc số của trường thặng dư A/m. Nếu K compact địa phương, thì p=0 (Đại số giao hoán, Chương VI, § 9, Định lý 1).
1. Từ các đại số Lie đến các nhóm Lie
Mệnh đề 1
Cho G là một mầm nhóm Lie với phần tử đơn vị e. Tồn tại một hệ cơ bản các lân cận mở của e trong G gồm các nhóm con Lie của G.
Trang bị cho L(G) một chuẩn tương thích với tôpô của nó và sao cho ∥[x,y]∥≤∥x∥∥y∥ với mọi x, y trong L(G). Gọi G_1 là nhóm Lie được xác định bởi L(G). Theo § 4, no. 2, Định lý 2, G và G_1 là đẳng cấu địa phương. Khi đó chỉ cần áp dụng § 4, no. 2, Bổ đề 3 (iii).
Định lý 1
Cho L là một đại số Lie đầy đủ khả chuẩn. Tồn tại một nhóm Lie G sao cho L(G) đẳng cấu với L. Hai nhóm như vậy là đẳng cấu địa phương.
Mệnh đề đầu tiên đã được chứng minh trong § 4, no. 2, Bổ đề 3. Mệnh đề thứ hai là một trường hợp riêng của § 4, no. 2, Định lý 2.
Định lý 2
Cho G là một nhóm Lie và h là một đại số con Lie của L(G) nhận một phần bù tôpô. Tồn tại một nhóm con Lie H của G sao cho L(H) = h. Nếu H_1 và H_2 là các nhóm con Lie của G sao cho L(H_1) = L(H_2) = h, thì H_1 \cap H_2 là mở trong H_1 và H_2.
Mệnh đề đầu tiên suy ra từ Mệnh đề 1 và § 4, no. 2, Định lý 3. Mệnh đề thứ hai là một trường hợp riêng của § 4, no. 2, Định lý 3.
Định lý 3
Cho G và H là các nhóm Lie và h là một cấu xạ liên tục của L(G) vào L(H).
(i) Tồn tại một nhóm con mở G' của G và một cấu xạ nhóm Lie ϕ của G' vào H sao cho h=L(ϕ).
(ii) Cho G_1, G_2 là các nhóm con mở của G và ϕi là một cấu xạ của G_i vào H sao cho h=L(ϕi). Khi đó ϕ1 và ϕ2 trùng nhau trên một nhóm con mở của G.
Theo Mệnh đề 1, điều này suy ra từ § 4, no. 1, Định lý 1.
Mệnh đề 2
Cho G là một nhóm Lie và h là một đại số con Lie của L(G) nhận một phần bù tôpô. Các điều kiện sau là tương đương:
(i) Tồn tại một nhóm con mở G' của G và một nhóm con Lie chuẩn H của G' sao cho L(H) = h.
(ii) h là một iđêan của L(H).
Nếu tồn tại G' và H với các tính chất của (i), thì L(G') = L(G) và L(H) là một iđêan của L(G') theo § 3, no. 12, Mệnh đề 47.
Giả sử rằng h là một iđêan của L(G). Tồn tại một nhóm Lie F sao cho L(F) = L(G)/h (Định lý 1). Gọi h là cấu xạ chính tắc của L(G) lên L(F). Theo Định lý 3 (i), tồn tại một nhóm con mở G' của G và một cấu xạ nhóm Lie ϕ của G' vào F sao cho L(ϕ)=h. Theo § 3, no. 8, hạt nhân H của ϕ là một nhóm con Lie của G' và L(H)=KerL(ϕ)=Kerh=h. Cuối cùng, H là chuẩn trong G' vì H=Kerϕ.
2. Các ánh xạ mũ
Mệnh đề 3
Cho G là một nhóm Lie. Tồn tại một ánh xạ mũ ϕ của G với các tính chất sau: (i) ϕ được xác định trên một nhóm con mở U của nhóm cộng tính L(G); (ii) ϕ(U) là một nhóm con mở của G và ϕ là một đẳng cấu của đa tạp giải tích U lên đa tạp giải tích ϕ(U); (iii) ϕ(nx)=ϕ(x)n với mọi x∈U và mọi n∈Z.
Trang bị cho L(G) một chuẩn tương thích với tôpô của nó và sao cho ∥[x,y]∥≤∥x∥∥y∥ đối với x,y trong L(G). Gọi G1 là nhóm Lie được xác định bởi L(G). Gọi ψ=IdG1, đây là một ánh xạ mũ của G1. Với mọi μ>0, gọi Lμ là tập hợp các x∈L(G) sao cho ∥x∥<μ. Khi μ đủ nhỏ, Lμ là một nhóm con mở của nhóm cộng tính L(G), ψ(Lμ) là một nhóm con mở của G1 (§ 4, no. 2, Bổ đề 3), ψ∣Lμ là một đẳng cấu của các đa tạp giải tích của Lμ lên ψ(Lμ) và ψ(nx)=ψ(x)n với mọi x∈Lμ và mọi n∈Z. Các Lμ tạo thành một hệ cơ bản các lân cận của 0 trong L(G). Theo Định lý 1, tồn tại μ và một nhóm con mở G′ của G sao cho ψ(Lμ) và G′ đẳng cấu, do đó có mệnh đề.
Mệnh đề 4
Cho G là một nhóm Lie và ϕ là một ánh xạ mũ đơn ánh của G. Giả sử rằng p>0. Với mọi x,y trong L(G),
Đây là các trường hợp đặc biệt của Mệnh đề 4 của § 4, no. 3.
3. Các nhóm chuẩn†
Nếu S(X1,X2,…,Xn) là một chuỗi lũy thừa hình thức với các hệ số trong A, thì, với mọi x1,…,xr trong m, chuỗi S(x1,x2,…,xr) là hội tụ. Chính xác hơn, m×m×⋯×m được chứa trong miền hội tụ tuyệt đối của S (Các đa tạp khả vi và giải tích, R, 4.1.3).
Định nghĩa 1
Cho r là một số nguyên ≥0. Một nhóm chuẩn chiều r trên K là một nhóm Lie G có các tính chất sau: (i) đa tạp giải tích cơ sở của G là m×m×⋯×m (r thừa số); (ii) tồn tại một chuỗi lũy thừa hình thức F trong 2r biến với các hệ số trong Ar, không có số hạng hằng, sao cho x.y=F(x,y) với mọi x,y trong G.
Khi đó 0.0=0 và do đó phần tử đơn vị của G là gốc của m×m⋯×m.
† Các kết quả của các số 3 và 4 cùng với các chứng minh của chúng vẫn đúng khi đặc số của K là >0.
L(G) sẽ được đồng nhất với K'. Theo § 5, công thức (13), các hằng cấu trúc của L(G) đối với cơ sở chính tắc thuộc về A. Trong cùng một chứng minh, ta sẽ cần xét các phần tử của m × ... × m, lúc này như các phần tử của G, lúc khác như các phần tử của L(G).
Ví dụ
Cho G = 1 + M_n(m), là một tập con mở của M_n(K). Nếu x ∈ G, thì det x ∈ 1 + m và do đó G ⊂ GL(n, K). Rõ ràng GG ⊂ G. Nếu x = 1 + y với y ∈ M_n(m), phép tính nghịch đảo của một ma trận chứng minh trước hết rằng x^{-1} ∈ M_n(A); nếu ta viết x^{-1} = 1 + y', thì y + y' + yy' = 0, do đó y' ∈ M_n(m) và vì thế x^{-1} ∈ G. Vậy G là một nhóm con mở của GL(n, K). Ta đồng nhất G với m^{n^2} nhờ ánh xạ (\delta_{ij} + y_{ij}) ↦ (y_{ij}). Rõ ràng G là một nhóm chuẩn.
Định lý 4
Cho G là một nhóm Lie hữu hạn chiều. Tồn tại một nhóm con mở của G đẳng cấu với một nhóm chuẩn.
Bằng cách thay G bởi một nhóm đẳng cấu với một nhóm con mở của G, bài toán được quy về trường hợp G là một tập con mở của K', với phần tử đơn vị 0 và trong đó các tọa độ của tích x.y và nghịch đảo x^{[-1]} được cho bởi các công thức
(3)
(x.y)i=xi+yi+∣α∣≥1,∣β∣≥1∑cαβixαyβ(i=1,2,…,r)
(4)
(x[−1])i=−xi+∣α∣>1∑dαixα(i=1,2,…,r)
trong đó các chuỗi ở vế phải là hội tụ với x, y trong G (§ 5, no. 1). Cho λ ∈ K* và luật nhóm được chuyển từ G sang G' = λG bởi phép vị tự tỉ số λ. Với x', y' trong G', tích x'.y' và nghịch đảo x'^{[-1]} được tính trong G' có các tọa độ
Vì các chuỗi (3) và (4) là hội tụ, ta thấy rằng, với |λ| đủ lớn, với mọi α, β, i,
∣cαβi′∣≤1,∣dαi′∣≤1
nghĩa là c'_{\alpha \beta i} ∈ A và d'_{\alpha i} ∈ A; và mặt khác G' ⊃ m × m × ... × m. Khi đó m × m × ... × m là một nhóm con mở của G' và là một nhóm chuẩn.
4. Lọc các nhóm chuẩn
Ta lại sử dụng ký hiệu của Định nghĩa 1. Ta chọn một số a>1 và một định giá thực v của K sao cho ∣x∣=a−v(x) với mọi x∈K (Đại số giao hoán, Chương VI, § 6, Mệnh đề 3). Nếu a là một iđêan khác không (và do đó mở) của A được chứa trong m, ký hiệu G(a) là tập hợp các phần tử của G mà các tọa độ của chúng thuộc về a. Nếu λ∈R, ký hiệu aλ (tương ứng aλ+) là tập hợp các x∈K sao cho v(x)≥λ (tương ứng v(x)>λ); khi đó a0=A, a0+=m. Với x=(x1,…,xr)∈G, ta sẽ viết
ω(x)=inf(v(x1),…,v(xr)).
Mệnh đề 5
Cho G là một nhóm chuẩn.
(i) Nếu a là một iđêan khác không của A được chứa trong m, G(a) là một nhóm con chuẩn mở của G.
(ii) Các G(aλ), với λ>0, tạo thành một hệ cơ bản các lân cận của e trong G.
(iii) Giả sử rằng aλ⊂a với λ≥λ0 và cho G(a)/G(aλ), với λ≥λ0, có tôpô rời rạc. Khi đó nhóm tôpô G(a) là giới hạn ngược của các nhóm G(a)/G(aλ).
(iv) Cho a,b là các iđêan khác không của A được chứa trong m sao cho a⊃b⊃a2. Ánh xạ x↦(x1modb,…,xrmodb) của G(a) vào (a/b)×⋯×(a/b) xác định khi chuyển qua thương một đẳng cấu của nhóm G(a)/G(b) lên nhóm cộng (a/b)×⋯×(a/b).
Nếu x∈G và y∈G(a), các tọa độ của x và x.y bằng nhau modulo a. Do đó, với x′,x′′ trong G và y′,y′′ trong G(a), các tọa độ của x′.x′′ và (x′.y′).(x′′.y′′) bằng nhau modulo a. Điều này chứng minh (i).
(ii) là hiển nhiên.
(iii) suy ra từ các kết quả trên và Tôpô đại cương, Chương III, § 7, Mệnh đề 2.
Nếu x∈G(a) và y∈G(a), các tọa độ của x.y đồng dư với các tọa độ của x+y modulo G(a2) theo công thức (4) của § 5. Điều này chứng minh (iv).
Hệ quả
Giả sử rằng K là compact địa phương và đặt q=Card(A/m).
(i) Nếu a=ma và b=mb với b≥a≥1, G(a)/G(b) là một p-nhóm có lực lượng qr(b−a).
(ii) G(a) là một giới hạn ngược của các p-nhóm.
Số phần tử của G(a)/G(b) là (Card(a/b))r; nếu b=a+1, a/b là một không gian vectơ 1 chiều trên A/m, do đó (i) trong trường hợp này; trường hợp tổng quát suy ra bằng quy nạp theo b−a. Mệnh đề (ii) suy ra từ (i) và Mệnh đề 5 (iii).
Mệnh đề 6
Cho a,b,c,c′ là các iđêan khác không của A được chứa trong m sao cho
c′⊂c,ab⊂c,ab2⊂c′,a2b⊂c′.
Nếu x∈G(a) và y∈G(b), thì x[−1]y[−1]x.y,x.y.x[−1]y[−1] và [x,y] thuộc G(c′) và đồng dư modulo G(c′).
Theo § 5, no. 2, Mệnh đề 1, tồn tại cαβ∈A′ sao cho
x[−1]y[−1]x.y−[x,y]=∣α∣+∣β∣≥3∑cαβxαyβ.
Nếu x=0 hoặc y=0, thì x[−1]y[−1]x.y−[x,y]=0; do đó c0β=cα0=0. Mặt khác, các điều kiện
x∈G(a),y∈G(b),∣α∣≥1,∣β∣≥1,∣α∣+∣β∣≥3
suy ra
cαβxαyβ∈G(a2b+ab2)⊂G(c′)
và do đó x[−1]y[−1]x.y−[x,y]∈G(c′). Tương tự, ta thấy rằng
x.y.x[−1]y[−1]−[x,y]∈G(c′).
Cuối cùng, theo § 5, công thức (13), [x,y]∈G(ab)⊂G(c).
Mệnh đề 7
(i) Họ(G(aλ))là một phép lọc trung tâm trênG(Chương II, § 4, no. 4, Định nghĩa 2). (ii) Đối vớiλ∈R+∗, G(aλ)={x∈G∣ω(x)≥λ}, G(aλ+)={x∈G∣ω(x)>λ}. (ii) là hiển nhiên. Ta chứng minh (i). Rõ ràng G(aλ)=⋂μ<λG(aμ) và G=⋃λ>0G(aλ). Mặt khác, nếu x∈G(aλ) và y∈G(aμ), thì
x[−1]y[−1]x.y∈G(aλ+μ)
theo Mệnh đề 6 được áp dụng với a=aλ,b=aμ,c=c′=aλ+μ.
Theo Chương II, § 4, no. 4, ta có thể lập nhóm gr(G) liên kết với nhóm G, với phép lọc trung tâm (G(aλ)). Viết Gλ=G(aλ)/G(aλ+) với mọi λ>0, ta thu được gr(G)=⨁λ>0Gλ. Nhắc lại ( cùng chỗ đã dẫn, Mệnh đề 1) rằng giao hoán tử trong G cho phép ta định nghĩa một móc trong gr(G), nhờ đó gr(G) là một đại số Lie, như sau: nếu xˉ∈Gλ và yˉ∈Gμ, chọn một đại diện x của xˉ trong G(aλ) và một đại diện y của yˉ trong G(aμ); khi đó [xˉ,yˉ] là lớp của x[−1]y[−1]x.y∈G(aλ+μ) trong Gλ+μ. Theo Mệnh đề 6, được áp dụng với a=aλ,b=aμ,c=aλ+μ,c′=aλ+μ+, ta thấy rằng [xˉ,yˉ] cũng là lớp của [x,y] trong Gλ+μ. Vì vậy, khi G được xem như một đại số con Lie của L(G)=Kr, được lọc bởi các G(aλ), đại số Lie phân bậc liên kết (Chương II, § 4, no. 3) bằng gr(G).
5. Lũy thừa trong các nhóm chuẩn
Ta giữ nguyên ký hiệu của no. 4.
Mệnh đề 8
Cho* n∈Zvàhnlà ánh xạx↦xncủaGvàoG. Choalà một iđêan khác không củaAđược chứa trongm, sao chon∈/a. Khi đóhn∣G(a)là một đẳng cấu của đa tạp giải tíchG(a)lên đa tạp giải tíchG(na).
Theo định nghĩa của các nhóm chuẩn, hn bằng trên toàn bộ G tổng của một chuỗi nguyên với các hệ số trong A′. Theo § 5, công thức (4), chuỗi này có dạng
hn(x)=nx+∣α∣≥2∑aαxα.
Do đó, với x∈G,
hn(nx)=n2x+∣α∣≥2∑aαn∣α∣−2xα=n2S(x)
trong đó ta viết S(x)=x+∑∣α∣≥2aαn∣α∣−2xα. Chuỗi này S(x) xác định một ánh xạ giải tích, cũng được ký hiệu là S, từ G vào G. Theo Đại số, Chương IV, § 6, Mệnh đề 8, tồn tại một chuỗi nguyên S′ trong r biến với các hệ số trong A′ sao cho S′(S(X))=S(S′(X))=X. Do đó S là một đẳng cấu của đa tạp giải tích G lên chính nó và, với mọi iđêan khác không b của A được chứa trong m, S(G(b))⊂G(b), S′(G(b))⊂G(b) và do đó
S(G(b))=G(b).
Vì hn(y)=n2S(n1y) với y∈nG, ta thấy rằng hn∣nG(b) là một đẳng cấu của đa tạp giải tích nG(b) lên đa tạp giải tích n2G(b). Nhưng, vì n∈/a, ∣n∣>∣λ∣ với mọi λ∈a, do đó n−1a⊂m và do đó a có dạng nb trong đó b là một iđêan khác không của A được chứa trong m.
Hệ quả
Nếu n khả nghịch trong A, hn là một đẳng cấu của đa tạp giải tích* Glên chính nó. Với mọi iđêan khác khôngacủaAđược chứa trongm, hn(G(a))=G(a). Với mọix∈G, ω(xn)=ω(x).
Điều này suy ra ngay lập tức từ Mệnh đề 8.
Mệnh đề 9
Giả sử rằng p=0. (i) Cho a,b là các iđêan khác không của A sao cho b⊂a⊂m. Trong nhóm G(a)/G(b), mọi phần tử đều có cấp là một lũy thừa của p. (ii) Giả sử rằng v(p)=1. Nếu x∈G sao cho ω(x)>p−11, thì*
ω(xp)=ω(x)+1.
Theo § 5, công thức (4), với mọi x∈G,
xp=px+∣α∣≥2∑cαxα
trong đó cα∈A′ với mọi α. Ngay cả khi chứng minh (i), có thể giả sử rằng v(p)=1. Khi đó nếu ω(x)≥1, suy ra rằng ω(xp)≥ω(x)+1 và do đó ω(xpn) tiến tới +∞ khi n tiến tới +∞; điều này chứng minh (i). Vì (ip) chia hết cho p đối với 1≤i≤p−1, Mệnh đề 2 của § 5, no. 3, chứng minh rằng cα∈pA′ đối với
2≤∣α∣≤p−1
và do đó
ω(cαxα)>ω(px)=ω(x)+1đoˆˊi với 2≤∣α∣≤p−1.
Mặt khác, nếu ∣α∣≥p, ω(cαxα)≥pω(x) và pω(x)>ω(x)+1 nếu ω(x)>p−11. Điều này chứng minh (ii).
6. Ánh xạ lôgarit
Bổ đề 1
Giả sử rằng p=0. Cho G là một nhóm Lie, G1 là một nhóm con mở của G đẳng cấu với một nhóm chuẩn và x∈G. Các điều kiện sau là tương đương: (i) tồn tại một lũy thừa của x thuộc về G1; (ii) tồn tại một dãy ngặt tăng (ni) các số nguyên sao cho xni tiến tới e khi i tiến tới +∞. (ii) ⇒ (i): hiển nhiên. (i) ⇒ (ii): giả sử rằng y=xm∈G1. Theo Mệnh đề 9 (i) của no. 5, ypn tiến tới e khi n tiến tới +∞, nói cách khác xmpn tiến tới e khi n tiến tới +∞.
Mệnh đề 10
Giả sử rằng p=0. Cho G là một nhóm Lie hữu hạn chiều. Cho Gf là tập hợp các x∈G sao cho tồn tại một dãy tăng ngặt (ni) các số nguyên sao cho xni tiến tới e khi i tiến tới +∞. (i) Gf là mở trong G. (ii) Tồn tại duy nhất một ánh xạ ψ của Gf vào L(G) có các tính chất sau: (a) ψ(xn)=nψ(x) với mọi x∈Gf và mọi n∈Z; (b) tồn tại một lân cận mở V của e trong G sao cho ψ∣V là ánh xạ nghịch đảo của một ánh xạ mũ đơn ánh. (iii) Ánh xạ ψ là giải tích.
Tồn tại một nhóm con mở của G đẳng cấu với một nhóm chuẩn (no. 3, Định lý 4). Mệnh đề (i) suy ra khi đó từ Bổ đề 1.
Cho U là một nhóm con mở của L(G) và ϕ:U→ϕ(U) là một ánh xạ mũ của G với các tính chất của Mệnh đề 3 của no. 2. Có thể giả sử rằng U đủ nhỏ để ϕ(U)⊂Gf. Cho x∈Gf. Tồn tại m∈Z−{0} sao cho xm∈ϕ(U). Phần tử m1ϕ−1(xm) không phụ thuộc vào việc lựa chọn m. Thật vậy, cho m′∈Z sao cho xm′∈ϕ(U). Khi đó xmm′∈ϕ(U) và
m′ϕ−1(xm)=ϕ−1(xmm′)=mϕ−1(xm′)
do đó có mệnh đề của chúng ta. Đặt ψ(x)=m1ϕ−1(xm). Khi đó ψ∣ϕ(U)=ϕ−1. Mặt khác, nếu n∈Z, thì
ψ(xn)=m1ϕ−1(xnm)=mnϕ−1(xm)=nψ(x).
Vậy ψ có các tính chất (a) và (b) của mệnh đề. Trong một lân cận của x, ψ là hợp thành của các ánh xạ x↦xm, y↦ϕ−1(y) và z↦m1z; do đó ψ là giải tích trên Gf.
Cuối cùng, cho ψ′ là một ánh xạ từ Gf vào L(G) và V′ là một lân cận của e trong Gf sao cho ψ′(xn)=nψ′(x) với x∈Gf và n∈Z và sao cho ψ′∣V′ là ánh xạ nghịch đảo của một ánh xạ mũ đơn ánh. Khi đó ψ và ψ′ trùng nhau trên một lân cận W của e. Nếu x∈Gf, tồn tại n∈Z sao cho xn∈W. Khi đó
nψ′(x)=ψ′(xn)=ψ(xn)=nψ(x)
và do đó ψ=ψ′.
Định nghĩa 2
Ánh xạ ψ của Mệnh đề 10 được gọi là ánh xạ logarit của G và được ký hiệu bởi logG hoặc đơn giản là log.
Mệnh đề 11
Giả sử rằng p=0. Cho x,y là hai phần tử giao hoán được của Gf. Khi đó xy∈Gf và log(xy)=logx+logy.
Việc xy∈Gf suy ra từ Bổ đề 1. Cho U là một nhóm con mở của nhóm cộng tính L(G) và ϕ:U→ϕ(U) là một ánh xạ mũ của G với các tính chất của Mệnh đề 3 của no. 2; có thể giả sử rằng U đủ nhỏ để log∣ψ(U)∣ là ánh xạ nghịch đảo của ϕ. Với n∈Z−{0} được chọn thích hợp, xn∈ϕ(U), yn∈ϕ(U). Đặt u=logxn, v=logyn, do đó xn=ϕ(u), yn=ϕ(v). Theo công thức (2), [u,v]=0. Công thức Hausdorff chứng minh khi đó rằng ϕ(λ(u+v))=ϕ(λu)ϕ(λv) với ∣λ∣ đủ nhỏ; do đó, với mọi số nguyên i đủ lớn,
ϕ(pi(u+v))=ϕ(piu)ϕ(piv)
nghĩa là
pi(logxn+logyn)=log(xnpiynpi)
hoặc
npi(logx+logy)=npilog(xy).
Mệnh đề 12
Giả sử rằng p=0. Cho x∈Gf. Các điều kiện sau là tương đương: (i) logx=0; (ii) x có cấp hữu hạn trong G.
Nếu tồn tại một số nguyên n>0 sao cho xn=e, ta suy ra
nlogx=logxn=0,
do đó logx=0. Nếu logx=0, gọi V là một lân cận của e trong Gf sao cho log∣V∣ là ánh xạ nghịch đảo của một ánh xạ mũ đơn ánh. Tồn tại một số nguyên n>0 sao cho xn∈V; đẳng thức logxn=0 kéo theo xn=e.
Mệnh đề 13
Giả sử rằng p=0. Nếu G là compact hoặc chuẩn, thì Gf=G.
Nếu G là chuẩn, chỉ cần sử dụng Bổ đề 1. Giả sử rằng G là compact. Cho x∈G và V là một lân cận của e trong G. Gọi y là một điểm giới hạn của dãy (xn)n≥0. Với mọi n>0, tồn tại hai số nguyên n1,n2 sao cho n1≥2n2≥n và xn1∈yV,xn2∈yV, do đó xn1−n2∈V−1V và n1−n2≥n. Suy ra x∈Gf.
Hệ quả
Giả sử rằng K là compact địa phương. Khi đó Gf là hợp của các nhóm con compact của G.
Cho x∈G. Nếu x thuộc một nhóm con compact của G, thì x∈Gf (Mệnh đề 13). Giả sử rằng x∈Gf. Vì K là compact địa phương, tồn tại một nhóm con mở G1 của G là compact. Khi đó tồn tại một số nguyên m>0 sao cho xm∈G1. Nhóm con đóng G2 sinh bởi xm được chứa trong G1 và do đó là compact. Khi đó x giao hoán với các phần tử của G2 và vì vậy G2∪xG2∪⋯∪xm−1G2 là một nhóm con compact của G chứa x.
Ví dụ
Giả sử rằng K là compact địa phương. Gọi U là tập hợp các phần tử khả nghịch của A; nó là một nhóm con mở compact của nhóm Lie K∗. Khi đó U⊂(K∗)f theo Mệnh đề 13; mặt khác, nếu x∈K∗ sao cho x∈/U, thì hoặc xn tiến tới 0 khi n tiến tới +∞, hoặc xn tiến tới 0 khi n tiến tới −∞; do đó U=(K∗)f. Hàm logK∗ được xác định và giải tích trên U, với các giá trị trong L(K∗)=K, và sao cho logK∗(xy)=logK∗(x)+logK∗(y) với mọi x,y trong U; các phần tử x của U sao cho logK∗(x)=0 là các căn đơn vị của K.
Ta lại sử dụng ký hiệu của các số 3, 4 và 5.
Mệnh đề 14
Giả sử rằng p=0 và v được chọn sao cho v(p)=1. Cho G là một nhóm chuẩn và E(X) (tương ứng L(X)) là khai triển của hàm mũ của G (tương ứng hàm lôgarit của G) thành một chuỗi nguyên quanh 0.
(i) Miền hội tụ tuyệt đối (Differentiable and Analytic Manifolds, R, 4.1.3) của E chứa tập hợp Δ gồm các x∈G sao cho ω(x)>p−11. Gọi E′ là ánh xạ được xác định trên Δ bởi chuỗi này. Khi đó E′ là một ánh xạ mũ của G và là một đẳng cấu của đa tạp Δ lên chính nó.
(ii) Miền hội tụ tuyệt đối của L chứa G. Gọi L′ là ánh xạ trên G được xác định bởi chuỗi này. Khi đó L′ là ánh xạ logarit của G và hạn chế của L′ lên Δ là ánh xạ nghịch đảo của E′.
(iii) Ánh xạ E′ là một đẳng cấu của Δ, với luật Hausdorff, lên nhóm con Δ của G.
Sử dụng ký hiệu của § 5, các số 3 và 4, E=∑m≥1m!ψm,m (§5, no. 4, Mệnh đề 3). Vì các hệ số cαβγ thuộc A, ∥ψm,m∥≤1 (Differentiable and Analytic Manifolds, R, Phụ lục) Kr được giả sử có chuẩn
∥(λ1,…,λr)∥=sup(∣λ1∣,…,∣λr∣)
Theo Chương II, § 8, no. 1, Bổ đề 1, v(m!)≤p−1m−1. Nếu ω(x)>p−11, ta thấy rằng mω(x)−v(m!) tiến tới +∞ khi m tiến tới vô hạn, do đó
m!ψm,m∥x∥m≤∣m!∣1∥x∥m
tiến tới 0 khi m tiến tới +∞ và
ω(m!ψm,m(x))>p−1m−p−1m−1=p−11cho m≥1.
Do đó Δ được chứa trong miền hội tụ tuyệt đối của E và E′(Δ)⊂Δ. Rõ ràng E′ là một ánh xạ mũ.
Nếu Lm là thành phần thuần nhất của L có bậc m, Mệnh đề 3 của § 5, no. 4, chứng minh rằng mỗi hệ số của Lm có dạng
a1+21a2+⋯+m1am
với a1,a2,…,am thuộc A; nhưng
inf(v(1),v(21),…,v(m1))=o(logm)as m tends to +∞
và
inf(v(1),v(21),…,v(m1))≥v(m!1)≥−p−1m−1.
Do đó, nếu ω(x)>0, ∥Lm∥⋅∥x∥m tiến tới 0 khi m tiến tới +∞, vì vậy G được chứa trong miền hội tụ tuyệt đối của L. Mặt khác, nếu ω(x)>p−1m, thì ω(Lm(x))>p−1m−p−1m−1=p−11 với m≥1 và do đó L′(Δ)⊂Δ.
Vì các chuỗi lũy thừa hình thức L(E(X)) và E(L(X)) đều bằng X, no. 4.1.5 của Differentiable and Analytic Manifolds, R, chứng minh rằng
L′(E′(x))=E′(L′(x))=x
với x∈Δ. Do đó E′ là một đẳng cấu của đa tạp Δ lên chính nó và đẳng cấu nghịch đảo là hạn chế của L′ lên Δ.
L(X[n])=nL(X) với n là một số nguyên >0 (xem § 5, no. 4). Vì G được chứa trong miền hội tụ tuyệt đối của L và X[n], do đó L′(xn)=nL′(x) với mọi x∈G. Quan hệ L′∣Δ=E′−1 kéo theo rằng L′(xn)=logxn với n đủ lớn. Suy ra L′(x)=logx. Như vậy ta đã chứng minh được (i) và (ii).
Gọi H=∑r,s≥0Hr,s là chuỗi lũy thừa hình thức Hausdorff và h là hàm Hausdorff tương ứng với L(G). Miền hội tụ tuyệt đối của H~ chứa Δ×Δ và h được xác định trên Δ×Δ (Chương II, § 8, Mệnh đề 2). Khi đó
E′(x)E′(y)=E′(h(x,y))
với x,y đủ gần 0 (§4, Định lý 4 (v)). Do đó, theo ký hiệu của no. 3, Định nghĩa 1, các chuỗi lũy thừa hình thức F(E(X),E(Y)) và E(H(X,Y)) bằng nhau. Cho x,y là các phần tử của Δ. Khi đó