Bourbaki

Bài tập 16, § 1

Nhãn 01KF, cố định. Trích dẫn là [Bourbaki, Tag 01KF].

Nhóm Lie và đại số Lie, VIII, 224

Bourbaki marks this one as harder than the rest.

Cho g\mathfrak{g} là một đại số Lie đơn có chiều 3, và gọi Φ\Phi là dạng Killing của nó. Ký hiệu o(Φ)\mathfrak{o}(\Phi ) là đại số trực giao của Φ\Phi, tức là đại số con của gl(g)\mathfrak{g}\mathfrak{l}(\mathfrak{g}) gồm các phần tử làm Φ\Phi bất biến.

a) Chỉ ra rằng ad:g→o(Φ):\mathfrak{g}\rightarrow \mathfrak{o}(\Phi ) là một đẳng cấu.

b) Chứng minh sự tương đương của các tính chất sau:

(i) g\mathfrak{g} chứa một vectơ đẳng hướng khác không (đối với Φ\Phi ).

(ii) g\mathfrak{g} chứa một phần tử lũy linh khác không.

(iii) g\mathfrak{g} đẳng cấu với s\mathfrak{s}.

c) Chỉ ra rằng tồn tại một mở rộng k1k_1 của kk, có bậc ≤2\leq 2, sao cho g(k1)=k1⊗kg\mathfrak{g}_{(k_1)}=k_1\otimes_k\mathfrak{g} đẳng cấu với s(k1)\mathfrak{s}_{(k_1)}.

8^8 Để biết thêm chi tiết về Bài tập 12, 13 và 14, xem: D. ARNAL và G. PINCZON,

Sur les représentations algébriquement irréductibles de l’algèbre de Lie sl\mathfrak{s}\mathfrak{l}(2), J.

Math. Phys., Vol. 15 (1974), pp. 350-359. d) Trang bị cho không gian vectơ A=k⊕gA =k\oplus \mathfrak{g} cấu trúc đại số duy nhất nhận 1 làm phần tử đơn vị, và sao cho tích g×g→A\mathfrak{g}\times \mathfrak{g}\rightarrow A được cho bởi công thức

x.y=18Φ(x,y).1+12[x,y](x,y∈g) x.y=\frac{1}{8}\Phi (x, y).1 +\frac{1}{2}[x, y](x, y\in \mathfrak{g})

Chỉ ra rằng A là một đại số quaternion trên kk, và g\mathfrak{g} là đại số Lie con của A gồm các phần tử có vết bằng không (rút gọn, bằng cách mở rộng trường cơ sở, về trường hợp g=s\mathfrak{g}=\mathfrak{s}, và chỉ ra rằng khi đó có thể đồng nhất A với đại số ma trận M2(k)\mathbf{M}_2(k)).

Ngược lại, nếu D là một đại số quaternion trên kk, thì các phần tử của D có vết bằng không tạo thành một đại số Lie đơn có chiều 3, và đại số tương ứng A có thể được đồng nhất với D.

e) Chứng minh các công thức

Φ(x,x)=−\Phi (x, x) =-8NrdA(x),Φ(x,y)=_A(x),\Phi (x, y) = 4TrdA(xy)_A(xy)

2[x,[y,z]]=Φ(x,y)z−Φ(x,z)y(x,y,z∈g) 2[x,[y, z]] =\Phi (x, y)z-\Phi (x, z)y(x, y, z\in \mathfrak{g})

f) Chỉ ra rằng biệt thức của Φ\Phi (đối với bất kỳ cơ sở nào của g\mathfrak{g}) có dạng −2λ2-2\lambda^2, với λ∈k∗\lambda \in k^*.

g) Gọi nn là một số nguyên ≥0\geq 0. Chỉ ra rằng g\mathfrak{g}-môđun Sn(g)\mathbf{S}^n(\mathfrak{g}) có một môđun con đơn duy nhất có chiều 2n+12n+ 1, và môđun này là đơn tuyệt đối (rút gọn về trường hợp g=s\mathfrak{g}=\mathfrak{s}, và dùng Bài tập 9).

Chỉ ra rằng g\mathfrak{g} chỉ có một môđun đơn tuyệt đối có chiều 2n2n nếu g\mathfrak{g} đẳng cấu với s\mathfrak{s}, tức là chỉ nếu A đẳng cấu với M2(k)\mathbf{M}_2(k). (Gọi V là một môđun như vậy. Nếu n≥2n\geq 2, chỉ ra bằng cách dùng Bài tập 6c6c) rằng g\mathfrak{g}-môđun V⊗gV\otimes \mathfrak{g} có một môđun con đơn tuyệt đối duy nhất có chiều 2n−22n-2. Sau đó rút gọn về trường hợp n=1n= 1, là trường hợp tầm thường.)

Lời giải

Chưa có lời giải nào được viết.

Được trích dẫn bởi

Trích dẫn đến

Bản dịch máy từ tiếng Anh, bởi gpt-5.4. Chưa được người kiểm tra.