Bourbaki

§ 13. Các đại số Lie đơn phân rã được cổ điển

Trong đoạn này, với mỗi kiểu của đại số Lie đơn phân rã được cổ điển, chúng tôi mô tả tường minh:

(I) một đại số thuộc kiểu này, chiều của nó và các đại số con Cartan tách của nó;

(II) các đối nghiệm của nó;

(III) các đại số con Borel và các đại số con parabolic của nó;

(IV) các biểu diễn đơn cơ bản của nó;

(V) những biểu diễn đơn cơ bản của nó là trực giao hoặc symplectic;

(VI) đại số các hàm đa thức bất biến;

(VII) một số tính chất của các nhóm Autg\mathfrak{g}, Aut0g_0\mathfrak{g}, Auteg_e\mathfrak{g};

(VIII) hạn chế của dạng Killing lên một đại số con Cartan;

(IX) các cấp Chevalley.

1. Các đại số kiểu al_{\boldsymbol{l}} (l≥\boldsymbol{l}\geq 1)

(I) Cho V là một không gian vectơ có chiều l+1l+ 1 trên kk, và cho g\mathfrak{g} là đại số sl(V)\mathfrak{s}\mathfrak{l}(V) gồm các tự đồng cấu của V có vết bằng không. Cho (ei)1≤i≤l+1(e_i)_{1\leq i\leq l+1} là một cơ sở của V; ánh xạ gán cho một phần tử của g\mathfrak{g} ma trận của nó đối với cơ sở này là một phép đồng nhất g\mathfrak{g} với đại số sl(l+1,k)\mathfrak{s}\mathfrak{l}(l+ 1, k) gồm các ma trận có vết bằng không. Ta biết rằng g\mathfrak{g} là nửa đơn (Ch. I, §6, no. 7, Mđ. 8).

Nhắc lại (Đại số, Ch. II, §10, no. 3) rằng EijE_{ij} ký hiệu ma trận (αmp)(\alpha_{mp}) sao cho αij=1\alpha_{ij}= 1 và αmp=0\alpha_{mp}= 0 với (m,p)≠(i,j)(m, p)\not= (i, j). Các ma trận

Eij(1≤i,j≤l+1,i≠j) E_{ij}(1\leq i, j\leq l+ 1, i\not=j)
Ei,i−Ei+1,i+1(1≤i≤l) E_{i,i}-E_{i+1,i+1}(1\leq i\leq l)

tạo thành một cơ sở của g\mathfrak{g}. Do đó

dimg=l(l+2)\mathfrak{g}=l(l+ 2).

Cho h^\widehat{\mathfrak{h}} là tập hợp các phần tử đường chéo của gl(l+1,k)\mathfrak{g}\mathfrak{l}(l+ 1, k); dãy (Eii)1≤i≤l+1(E_{ii})_{1\leq i\leq l+1} là một cơ sở của không gian vectơ h^\widehat{\mathfrak{h}}; cho (ε^i)1≤i≤l+1(\widehat{\varepsilon}_i)_{1\leq i\leq l+1} là cơ sở của h^∗\widehat{\mathfrak{h}}^* đối ngẫu với (Eii)1≤i≤l+1(E_{ii})_{1\leq i\leq l+1}. Với mọi h∈h^h\in \widehat{\mathfrak{h}},

[h,Eij]=(ε^i(h)−ε^j(h))Eij(1) [h, E_{ij}] = (\widehat{\varepsilon}_i(h)-\widehat{\varepsilon}_j(h))E_{ij} \tag{1}

theo Ch. I, §1, no. 2, các công thức (5). Cho h\mathfrak{h} là tập hợp các phần tử của h^\widehat{\mathfrak{h}} có vết bằng không, và đặt εi=ε^i∣h\varepsilon_i= \widehat{\varepsilon}_i|\mathfrak{h}. Khi đó h\mathfrak{h} là một đại số con Cartan của g\mathfrak{g} (Ch. VII, §2, no. 1, Ví dụ 4). Quan hệ (1) chứng minh rằng đại số con Cartan này là tách, và các nghiệm của (g,h)(\mathfrak{g},\mathfrak{h}) là các εi−εj(i≠j)\varepsilon_i-\varepsilon_j(i\not=j). Cho h^0∗\widehat{\mathfrak{h}}^*_0 là tập hợp các phần tử của h^∗\widehat{\mathfrak{h}}^* mà tổng các tọa độ của chúng đối với (ε^i)(\widehat{\varepsilon}_i) bằng không. Ánh xạ λ→λ∣h\lambda \rightarrow \lambda |\mathfrak{h} từ h^0∗\widehat{\mathfrak{h}}^*_0 vào h∗\mathfrak{h}^* là song ánh. Do đó, hệ nghiệm R của (g,h)(\mathfrak{g},\mathfrak{h}) có kiểu AlA_l (Ch. VI, §4, no. 7). Do đó, g\mathfrak{g} là đơn (§3, no. 2, Hệ quả 1 của Mđ. 6). Vậy g\mathfrak{g} là một đại số Lie đơn phân rã được kiểu AlA_l.

Mọi đại số con Cartan tách h′\mathfrak{h}' của g\mathfrak{g} đều là một biến đổi của h\mathfrak{h} dưới một tự đẳng cấu sơ cấp (§3, no. 3, Hệ quả của Mệnh đề 10). Vì Auteg_e\mathfrak{g} là tập hợp các tự đẳng cấu x→sxs−1x \rightarrow sxs^{-1} của g\mathfrak{g} với s∈SL(V)s\in \mathbf{S}\mathbf{L}(V) (Chương VII, §3, no. 1, Nhận xét 2; xem thêm (VII)), tồn tại một cơ sở β\beta của V sao cho h′\mathfrak{h}' là tập hβ\mathfrak{h}_{\beta} gồm các phần tử của g\mathfrak{g} có ma trận đối với cơ sở β\beta là đường chéo. Vì hβ\mathfrak{h}_{\beta} chứa một phần tử có các trị riêng phân biệt, các không gian con vectơ duy nhất của V ổn định dưới các phần tử của hβ\mathfrak{h}_{\beta} là những không gian được sinh bởi một tập con của β\beta. Suy ra rằng ánh xạ β→hβ\beta \rightarrow \mathfrak{h}_{\beta} cảm sinh bởi phép qua thương một song ánh từ tập hợp các phân tích của V thành tổng trực tiếp của l+1l+ 1 không gian con có chiều 1 đến tập hợp các đại số con Cartan tách của g\mathfrak{g}. (II) Cho α=εi−εj(i≠j)\alpha =\varepsilon_i-\varepsilon_j(i\not=j) là một nghiệm. Ta có gα=kEij\mathfrak{g}^{\alpha}=kE_{ij}. Vì

[Eij,Eji]=Eii−Ejj [E_{ij}, E_{ji}] =E_{ii}-E_{jj}

và vì α(Eii−Ejj)=2\alpha (E_{ii}-E_{jj}) = 2, ta có (§2, no. 2, Định lý 1 (ii))

Hα=Eii−Ejj H_{\alpha}=E_{ii}-E_{jj}

(III) Đặt α1=ε1−ε2,α2=ε2−ε3,...,αl=εl−εl+1\alpha_1=\varepsilon_1-\varepsilon_2, \alpha_2=\varepsilon_2-\varepsilon_3, . . . , \alpha_l=\varepsilon_l-\varepsilon_{l+1}. Theo Chương VI, §4, no. 7.I,(α1,...,αl)7.I, (\alpha_1, . . . , \alpha_l) là một cơ sở B của R; các nghiệm dương đối với B là các εi−εj\varepsilon_i-\varepsilon_j với i<ji < j. Đại số con Borel tương ứng b\mathfrak{b} là tập hợp các ma trận tam giác trên có vết bằng không.

Một cờ trong V là một tập hợp các không gian con vectơ của V, khác với {0}\{0\} và V, được sắp thứ tự toàn phần bởi phép bao hàm. Sắp thứ tự tập hợp các cờ của V bởi phép bao hàm. Các cờ cực đại là các tập hợp {W1,...,Wl}\{W_1, . . . ,W_l\}, trong đó WiW_i là một không gian con vectơ có chiều ii và

W1⊂⋯⊂Wl W_1\subset \cdots \subset W_l

Ví dụ, nếu ViV_i chỉ không gian con của V được sinh bởi e1,...,eie_1, . . . , e_i, thì {V1,...,Vl}\{V_1, . . . ,V_l\} là một cờ cực đại.

Ngay lập tức thấy rằng b\mathfrak{b} là tập hợp các phần tử của g\mathfrak{g} làm ổn định các phần tử của cờ cực đại {V1,...,Vl}\{V_1, . . . ,V_l\}. Ngược lại, vì b\mathfrak{b} chứa h\mathfrak{h} và các ma trận EijE_{ij} với i<ji < j, ta thấy rằng các ViV_i là các không gian con vectơ không tầm thường duy nhất ổn định dưới b\mathfrak{b}.

Bây giờ cho δ\delta là một cờ cực đại trong V. Suy ra từ điều trên rằng tập hợp bδ\mathfrak{b}_{\delta} gồm các phần tử của g\mathfrak{g} làm ổn định tất cả các phần tử của δ\delta là một đại số con Borel của g\mathfrak{g}. Vì mọi đại số con Borel của g\mathfrak{g} đều là một biến đổi của b\mathfrak{b} dưới một tự đẳng cấu sơ cấp, ta thấy rằng ánh xạ δ→bδ\delta \rightarrow \mathfrak{b}_{\delta} là một song ánh từ tập hợp các cờ cực đại đến tập hợp các đại số con Borel của g\mathfrak{g}.

Cho β\beta là một cơ sở của V. Theo (I) và phần trước, các đại số con Borel chứa hβ\mathfrak{h}_{\beta} là các đại số tương ứng với các cờ cực đại mà mỗi phần tử của chúng được sinh bởi một tập con của β\beta. Các cờ này tương ứng song ánh với các cấp toàn phần trên β\beta theo cách sau: với một cấp toàn phần ω\omega trên β\beta được liên kết cờ {W1,...,Wl}\{W_1, . . . ,W_l\}, trong đó WiW_i là không gian con vectơ được sinh bởi ii phần tử đầu tiên của β\beta theo cấp ω\omega. Vì có (l+(l+ 1)! cấp toàn phần trên β\beta, ta thu được lại rằng tồn tại (l+(l+ 1)! đại số con Borel của (sl(V),hβ)((\mathfrak{s}\mathfrak{l}(V),\mathfrak{h}_{\beta}) (§3, no. 3, Nhận xét).

Cho γ\gamma là một cờ trong V. Vì γ\gamma được chứa trong một cờ cực đại, tập hợp pγ\mathfrak{p}_{\gamma} gồm các phần tử của g\mathfrak{g} làm ổn định các phần tử của γ\gamma là một đại số con parabol của g\mathfrak{g}. Ta chứng minh rằng các không gian con vectơ không tầm thường duy nhất ổn định dưới pγ\mathfrak{p}_{\gamma} là các phần tử của γ\gamma. Để làm điều này, ta có thể giả sử rằng γ={Vi1,...,Viq}\gamma =\{V_{i_1}, . . . ,V_{i_q}\} với 1≤i1<⋯<iq≤l1\leq i_1<\cdots < i_q\leq l. Đặt i0=0,iq+1=l+1i_0= 0, i_{q+1}=l+ 1. Các khoảng không rỗng

i0+1,i1,i1+1,i2,...,iq+1,iq+1 i_0+ 1, i_1, i_1+ 1, i_2, . . . , i_q+ 1, i_{q+1}

tạo thành một phân hoạch của {1,...,l+1}\{1, . . . , l+ 1\}, do đó mọi ma trận bình phương cấp l+1l+ 1 có thể được viết thành một ma trận khối (Xab)1≤a,b≤q+1(X_{ab})_{1\leq a,b\leq q+1}. Đại số pγ\mathfrak{p}_{\gamma} khi đó là tập hợp pi1,...,iq\mathfrak{p}_{i_1,...,i_q} gồm các phần tử (Xab)1≤a,b≤q+1(X_{ab})_{1\leq a,b\leq q+1} của sl(l+1,k)\mathfrak{s}\mathfrak{l}(l+ 1, k) sao cho Xab=0X_{ab}= 0 với a>ba > b. Vì pi1,...,iq⊃b\mathfrak{p}_{i_1,...,i_q}\supset \mathfrak{b}, một không gian con vectơ không tầm thường ổn định dưới pi1,...,iq\mathfrak{p}_{i_1,...,i_q} là một trong các ViV_i; nếu ik<i<ik+1i_k< i < i_{k+1}, đại số pi1,...,iq\mathfrak{p}_{i_1,...,i_q} chứa Eik+1,iE_{i_{k+1},i} và ViV_i không ổn định, do đó ta có mệnh đề trên.

Do đó, 2l2^l cờ chứa trong cờ cực đại {V1,...,Vl}\{V_1, . . . ,V_l\} sinh ra 2l2^l đại số con parabol phân biệt chứa b\mathfrak{b}; vì có đúng 2l2^l đại số con parabol chứa b(\mathfrak{b}(§3, no. 4, Nhận xét), suy ra rằng ánh xạ γ→pγ\gamma \rightarrow \mathfrak{p}_{\gamma} là một song ánh từ tập hợp các cờ của V vào tập hợp các đại số con parabol của g\mathfrak{g}. Hơn nữa, pγ⊃pγ′\mathfrak{p}_{\gamma}\supset \mathfrak{p}_{\gamma'} khi và chỉ khi γ⊂γ′\gamma \subset \gamma '.

Nhắc lại đại số con parabol p=pi1,...,iq(1≤i1<⋯<iq≤l)\mathfrak{p}=\mathfrak{p}_{i_1,...,i_q}(1\leq i_1<\cdots < i_q\leq l). Gọi s\mathfrak{s} (tương ứng n\mathfrak{n}) là tập hợp các (Xab)1≤a,b≤q+1(X_{ab})_{1\leq a,b\leq q+1} trong sl(l+1,k)\mathfrak{s}\mathfrak{l}(l+ 1, k) sao cho Xab=0X_{ab}= 0 với a≠ba\not=b (tương ứng a≥ba\geq b). Theo Mệnh đề 13 của §3, no. 4, ta có p=s⊕n\mathfrak{p}=\mathfrak{s}\oplus \mathfrak{n}, đại số con s\mathfrak{s} là khả quy trong g\mathfrak{g} và n\mathfrak{n} vừa là iđêan lũy linh lớn nhất vừa là căn lũy linh của p\mathfrak{p}.

(IV) Với r=1,2,...,lr= 1,2, . . . , l, đặt ϖr=ε1+⋯+εr\varpi_r=\varepsilon_1+\cdots +\varepsilon_r. Ta có ϖi(Hαj)=δij\varpi_i(H_{\alpha_j}) =\delta_{ij}, do đó ϖr\varpi_r là trọng số cơ bản tương ứng với αr\alpha_r.

Gọi σ\sigma là biểu diễn đồng nhất của g\mathfrak{g} trên V. Lũy thừa ngoài ⋀rσ\bigwedge^r\sigma của σ\sigma là một biểu diễn trên E=⋀r(V)E =\bigwedge^r(V). Gọi (e1,...,el+1)(e_1, . . . , e_{l+1}) là cơ sở đã chọn của V. Các ei1∧⋯∧eire_{i_1}\wedge \cdots \wedge e_{i_r}, với i1<⋯<iri_1<\cdots < i_r, tạo thành một cơ sở của E. Nếu h∈hh\in \mathfrak{h},

(⋀rσ)(h).ei1∧⋯∧eir=(εi1+⋯+εir)(h)ei1∧⋯∧eir (\bigwedge^r\sigma )(h).e_{i_1}\wedge \cdots \wedge e_{i_r}= (\varepsilon_{i_1}+\cdots +\varepsilon_{i_r})(h)e_{i_1}\wedge \cdots \wedge e_{i_r}

Do đó, mọi trọng số đều có bội số 1,ϖr1,\varpi_r là một trọng số của ⋀rσ\bigwedge^r\sigma, và mọi trọng số khác đều có dạng ϖr−μ\varpi_r-\mu, trong đó μ\mu là một trọng số căn dương. Do đó, ϖr\varpi_r là trọng số cao nhất của ⋀rσ\bigwedge^r\sigma, và e1∧⋯∧ere_1\wedge \cdots \wedge e_r là một phần tử nguyên thủy. Theo Chương VI, §4, no. 7.IX, nhóm Weyl có thể được đồng nhất với nhóm đối xứng của

{ε1,...,εl+1} \{\varepsilon_1, . . . , \varepsilon_{l+1}\}

Quỹ đạo của ϖr\varpi_r dưới tác động của nhóm Weyl do đó chứa tất cả các εi1+⋯+εir\varepsilon_{i_1}+\cdots +\varepsilon_{i_r} với i1<⋯<iri_1<\cdots < i_r. Môđun con đơn sinh bởi phần tử nguyên thủy e1∧⋯∧ere_1\wedge \cdots \wedge e_r do đó nhận tất cả các εi1+⋯+εir\varepsilon_{i_1}+\cdots +\varepsilon_{i_r} làm các trọng số và do đó bằng E. Vậy ⋀rσ\bigwedge^r\sigma là bất khả quy với trọng số cao nhất ϖr\varpi_r.

Do đó, các biểu diễn ⋀rσ(1≤r≤l)\bigwedge^r\sigma (1\leq r\leq l) là các biểu diễn cơ bản. Ta có dim(⋀rσ\bigwedge^r\sigma ) =(rl+1)=(^{l+1}_r).

(V) Ta có w0(α1)=−αl,w0(α2)=−αl−1,..w_0(\alpha_1) =-\alpha_l, w_0(\alpha_2) =-\alpha_{l-1}, . .. (Chương VI, §4, no. 7, XI), do đó

−w0(ϖ1)=ϖl,−w0(ϖ2)=ϖl−1,... -w_0(\varpi_1) =\varpi_l,-w_0(\varpi_2) =\varpi_{l-1}, . . .

Đặt

ω=n1ϖ1+⋯+nlϖl(n1,...,nl∈N) \omega =n_1\varpi_1+\cdots +n_l\varpi_l(n_1, . . . , n_l\in \mathbf{N})

là một trọng số trội. Khi đó, biểu diễn đơn với trọng số cao nhất ω\omega là trực giao hoặc symplectic khi và chỉ khi

n1=nl,n2=nl−1,.. n_1=n_l,n_2=n_{l-1}, . .

(§7, no. 5, Mệnh đề 12). Đặc biệt, nếu ll là chẵn, không có biểu diễn cơ bản nào của sl(l+1,k)\mathfrak{s}\mathfrak{l}(l+ 1, k) là trực giao hoặc symplectic. Nếu ll là lẻ, biểu diễn ⋀iσ\bigwedge^i\sigma với i≠(l+1)/2i\not= (l+ 1)/2 không trực giao cũng không symplectic; theo Chương VI, §4, no. 7.VI, tổng các tọa độ của ϖ(l+1)/2\varpi_{(l+1)/2} đối với (α1,...,αl)(\alpha_1, . . . , \alpha_l) là

1l+1[l+12(1+2+⋯+l−12)+l+12(1+2+⋯+l+12)] \frac{1}{l + 1}[\frac{l + 1}{2}(1 + 2 +\cdots +\frac{l- 1}{2})+\frac{l + 1}{2}(1 + 2 +\cdots +\frac{l + 1}{2})]
=1+2+⋯+l−12+l+14 = 1 + 2 +\cdots +\frac{l- 1}{2}+\frac{l + 1}{4}

vì vậy ⋀(l+1)/2σ\bigwedge^{(l+1)/2}\sigma là trực giao nếu l≡−1l\equiv -1 (mod. 4) và symplectic nếu l≡1l\equiv 1 (mod. 4) (§7, no. 5, Mệnh đề 12). Kết quả cuối cùng này có thể được làm chính xác hơn như sau. Chọn một phần tử khác không ee trong ⋀l+1(V)\bigwedge^{l+1}(V). Phép nhân trong đại số ngoài V xác định một ánh xạ song tuyến tính từ

⋀(l+1)/2(V)×⋀(l+1)/2(V) \bigwedge^{(l+1)/2}(V)\times \bigwedge^{(l+1)/2}(V)

đến ⋀l+1\bigwedge^{l+1}(V), có thể viết dưới dạng (u,v)→Φ(u,v)e(u, v) \rightarrow \Phi (u, v)e, trong đó Φ\Phi là một dạng song tuyến tính trên ⋀(l+1)/2(V)\bigwedge^{(l+1)/2}(V). Người ta kiểm tra ngay lập tức rằng Φ\Phi khác không, bất biến dưới g\mathfrak{g} (và do đó không suy biến), đối xứng nếu (l+1)/2(l+ 1)/2 là chẵn, và phản xứng nếu (l+1)/2(l+ 1)/2 là lẻ.

(VI) Với mọi x∈gx\in \mathfrak{g}, đa thức đặc trưng của σ(x)=x\sigma (x) =x có thể được viết

Tl+1+f2(x)Tl−1+f3(x)Tl−2+⋯+fl+1(x) T^{l+1}+f_2(x)T^{l-1}+f_3(x)T^{l-2}+\cdots +f_{l+1}(x)

trong đó f2,...,fl+1f_2, . . . , f_{l+1} là các hàm đa thức bất biến dưới g(\mathfrak{g}(§8, no. 3, Bổ đề 2).

Nếu x=ξ1E11+⋯+ξl+1El+1l+1∈hx=\xi_1E_{11}+\cdots +\xi_{l+1}E_{l+1l+1}\in \mathfrak{h}, thì các fi(x)f_i(x), sai khác dấu, là các hàm đối xứng sơ cấp của ξ1,...,ξl+1\xi_1, . . . , \xi_{l+1} có bậc 2,...,l+12, . . . , l+ 1. Do đó, theo Chap. VI, §4, no. 7.IX, các fi∣hf_i|\mathfrak{h} sinh đại số của các phần tử của S(h∗)\mathbf{S}(\mathfrak{h}^*) bất biến dưới nhóm Weyl, và độc lập đại số. Suy ra (§8, no. 3, Mệnh đề 33) rằng f2,f3,...,fl+1f_2, f_3, . . . , f_{l+1} sinh đại số của các hàm đa thức bất biến dưới g\mathfrak{g}, và độc lập đại số.

(VII) Với mọi g∈GL(l+1,k)g\in \mathbf{G}\mathbf{L}(l+ 1, k), đặt φk(g)=φ(g)\varphi_k(g) =\varphi (g) là tự đẳng cấu x→gxg−1x \rightarrow gxg^{-1} của g\mathfrak{g}. Khi đó φ\varphi là một đồng cấu từ GL(l+1,k)\mathbf{G}\mathbf{L}(l+ 1, k) đến Aut(g\mathfrak{g}). Ta có

φ(SL(l+1,k))=\varphi (\mathbf{S}\mathbf{L}(l+ 1, k)) = Aute(g)_e(\mathfrak{g})

(Chap. VII, §3, no. 1, Nhận xét 2). Gọi k‾\overline{k} là một bao đóng đại số của kk. Ta có

GL(l+1,k‾)=k‾∗.SL(l+1,k‾) \mathbf{G}\mathbf{L}(l+ 1,\overline{k}) = \overline{k}^*.\mathbf{S}\mathbf{L}(l+ 1,\overline{k})

do đó φk‾(GL(l+1,k‾))=φk‾(SL(l+1,k‾))=\varphi_{\overline{k}}(\mathbf{G}\mathbf{L}(l+ 1,\overline{k})) =\varphi_{\overline{k}}(\mathbf{S}\mathbf{L}(l+ 1,\overline{k})) = Aute(g⊗kk‾)_e(\mathfrak{g}\otimes_k\overline{k}); suy ra rằng φ(GL(l+1,k))⊂\varphi (\mathbf{G}\mathbf{L}(l+ 1, k))\subset Aut0(g)_0(\mathfrak{g}). Mặt khác, Aut0(g)⊂φ(GL(l+1,k))_0(\mathfrak{g})\subset \varphi (\mathbf{G}\mathbf{L}(l+ 1, k)), theo Mệnh đề 2 của §7, no. 1, áp dụng cho biểu diễn đồng nhất của g\mathfrak{g}. Vì vậy,

Aut0(g)=φ(GL(l+1,k))_0(\mathfrak{g}) =\varphi (\mathbf{G}\mathbf{L}(l+ 1, k)).

Hạt nhân của φ\varphi là tập hợp các phần tử của GL(l+1,k)\mathbf{G}\mathbf{L}(l+ 1, k) giao hoán với mọi ma trận cấp l+1l+1, nghĩa là tập hợp k∗k^* các ma trận vô hướng khả nghịch. Do đó, Aut0(g)_0(\mathfrak{g}) có thể được đồng nhất với nhóm GL(l+1,k)/k∗=PGL(l+1,k)\mathbf{G}\mathbf{L}(l+ 1, k)/k^*=\mathbf{P}\mathbf{G}\mathbf{L}(l+ 1, k). Hạt nhân của φ′=φ∣SL(l+1,k)\varphi '=\varphi |\mathbf{S}\mathbf{L}(l+ 1, k) là μl+1(k)\mu_{l+1}(k), trong đó μl+1(k)\mu_{l+1}(k) chỉ tập hợp các căn đơn vị bậc (l+(l+ 1) trong kk. Do đó, Aute(g)_e(\mathfrak{g}) có thể được đồng nhất với nhóm SL(l+1,k)/μl+1(k)=PSL(l+1,k)\mathbf{S}\mathbf{L}(l+ 1, k)/\mu_{l+1}(k) =\mathbf{P}\mathbf{S}\mathbf{L}(l+ 1, k). Mặt khác, ta có dãy khớp

1 ⟶SL(l+1,k)⟶GL(l+1,k)⟶detk∗⟶\longrightarrow \mathbf{S}\mathbf{L}(l+ 1, k)\longrightarrow \mathbf{G}\mathbf{L}(l+ 1, k)\longrightarrow^{det}k^*\longrightarrow 1

và ảnh của k∗k^* qua det là k∗l+1k^{*l+1}. Suy ra rằng có các đẳng cấu chính tắc

Aut0(g)/_0(\mathfrak{g})/Aute(g)⟶PGL(l+1,k)/PSL(l+1,k)_e(\mathfrak{g})\longrightarrow \mathbf{P}\mathbf{G}\mathbf{L}(l+ 1, k)/\mathbf{P}\mathbf{S}\mathbf{L}(l+ 1, k)

⟶GL(l+1,k)/k∗.SL(l+1,k)⟶k∗/k∗l+1 \longrightarrow \mathbf{G}\mathbf{L}(l+ 1, k)/k^*.\mathbf{S}\mathbf{L}(l+ 1, k)\longrightarrow k^*/k^{*l+1}

Nếu kk = R\mathbf{R}, ta thấy rằng Aut0(g)=_0(\mathfrak{g}) = Aute(g)_e(\mathfrak{g}) nếu l+1l+ 1 là lẻ, và rằng Aut0(g)/_0(\mathfrak{g})/Aute(g)_e(\mathfrak{g}) là đẳng cấu với Z/2Z\mathbf{Z}/2\mathbf{Z} nếu l+1l+ 1 là chẵn.

Với các ký hiệu của §5,f(TQ)5,f(T_{\mathbf{Q}}) là tập hợp các tự đẳng cấu của g\mathfrak{g} cảm sinh đồng nhất trên h\mathfrak{h}, và do đó bằng φ\varphi(D), trong đó D là tập hợp các phần tử đường chéo của GL(l+1,k)(\mathbf{G}\mathbf{L}(l+ 1, k) (§5, Mệnh đề 4). Gọi D′D' là tập hợp các phần tử đường chéo của SL(l+1,k)\mathbf{S}\mathbf{L}(l+ 1, k). Theo Mệnh đề 3 của §5, và sự xác định của Aute(g)_e(\mathfrak{g}), ta có f(q(TP))⊂φ(D′)f(q(T_P))\subset \varphi (D'). Ta chứng minh rằng f(q(TP))=φ(D′)f(q(T_P)) =\varphi (D'). Cho

λ1\lambda_1 0

d=d= . ..

0 λl+1\lambda_{l+1}

là một phần tử của D′D'. Có một ζ∈\zeta \in Hom(Q(R),k∗, k^*) =TQ= T_Q sao cho ζ(εi−εj)=λiλj−1\zeta (\varepsilon_i-\varepsilon_j) =\lambda_i\lambda^{-1}_j với mọi ii và jj. Dễ dàng kiểm tra rằng f(ζ)=φ(d)f(\zeta ) =\varphi (d). Theo Chap. VI, §4, no. 7.VIII, P(R) được sinh bởi Q(R) và phần tử ε=ε1\varepsilon =\varepsilon_1, mà ảnh của nó trong P(R)/Q(R)P(R)/Q(R) có cấp l+1l+ 1; nhưng

ζ((l+1)ε)=ζ((ε1−ε2)+(ε1−ε3)+⋯+(ε1−εl+1)) \zeta ((l+ 1)\varepsilon ) =\zeta ((\varepsilon_1-\varepsilon_2) + (\varepsilon_1-\varepsilon_3) +\cdots + (\varepsilon_1-\varepsilon_{l+1}))
=λ1lλ2−1λ3−1...λl+1−1=λ1l+1 =\lambda^l_1\lambda^{-1}_2\lambda^{-1}_3. . . \lambda^{-1}_{l+1}=\lambda^{l+1}_1

nên ζ\zeta mở rộng thành một đồng cấu từ P(R) đến k∗k^*. Điều này chứng minh rằng ζ∈q(TP)\zeta \in q(T_P), do đó φ(d)∈f(q(TP))\varphi (d)\in f(q(T_P)).

Nhắc lại (§5, no. 3, Hệ quả 2 của Mệnh đề 5) rằng Aut(g\mathfrak{g}) == Aut0(g)_0(\mathfrak{g}) với l=1l= 1, và rằng Aut(g\mathfrak{g})//Aut0(g)_0(\mathfrak{g}) là đẳng cấu với Z/2Z\mathbf{Z}/2\mathbf{Z} với l≥2l\geq 2. Ánh xạ θ:x→−tx\theta :x \rightarrow -^tx là một tự đẳng cấu của sl(l+1,k)\mathfrak{s}\mathfrak{l}(l+ 1, k) và a0=θ∣h∉Wa_0=\theta |\mathfrak{h}\notin W nếu l≥2l\geq 2 (Ch. VI, §4, no. 7.XI), do đó lớp của a0a_0 trong Aut(g\mathfrak{g})//Aut0(g)_0(\mathfrak{g}) là phần tử không tầm thường của nhóm này (§5, no. 2, Mệnh đề 4).

(VIII) Hạn chế của dạng Killing trên h\mathfrak{h} là

Φ(ξ1E11+⋯+ξl+1El+1,l+1,ξ1′E11+⋯+ξl+1′El+1,l+1) \Phi (\xi_1E_{11}+\cdots +\xi_{l+1}E_{l+1,l+1}, \xi '_1E_{11}+\cdots +\xi '_{l+1}E_{l+1,l+1})
=∑i≠j(ξi−ξj)(ξi′−ξj′)=∑i,j(ξi−ξj)(ξi′−ξj′) =\sum_{i\not=j}(\xi_i-\xi_j)(\xi '_i-\xi '_j) =\sum_{i,j}(\xi_i-\xi_j)(\xi '_i-\xi '_j)
=(l+1)∑iξiξi′+(l+1)∑jξjξj′−2(∑iξi)(∑jξj′ = (l+ 1)\sum_i\xi_i\xi '_i+ (l+ 1)\sum_j\xi_j\xi '_j-2(\sum_i\xi_i)(\sum_j\xi '_j
=2(l+1)∑iξiξi′ = 2(l+ 1)\sum_i\xi_i\xi '_i

(IX) Với 1≤i<j≤l+11\leq i < j\leq l+ 1, đặt

Xεi−εj=EijXεj−εi=−Eji X_{\varepsilon_i-\varepsilon_j}=E_{ij}X_{\varepsilon_j-\varepsilon_i}=-E_{ji}

Khi đó, với mọi α∈R\alpha \in R, ta có [Xα,X−α]=−Hα[X_{\alpha}, X_{-\alpha}] =-H_{\alpha} và θ(Xα)=X−α\theta (X_{\alpha}) =X_{-\alpha} (trong đó θ\theta là tự đẳng cấu x→−txx \rightarrow -^tx được đưa vào trong (VII)). Do đó, (Xα)α∈R(X_{\alpha})_{\alpha\in R} là một hệ Chevalley trong (g,h)(\mathfrak{g},\mathfrak{h}).

Lấy k=Qk=\mathbf{Q}. Các dàn cho phép trong h(\mathfrak{h}(§12, no. 6, Định. 1) là những dàn nằm giữa Z\mathbf{Z}-môđun Q(R∨)Q(R^{\vee}) được sinh bởi các Eii−Ei+1,i+1E_{ii}-E_{i+1,i+1}, nghĩa là gồm các ma trận đường chéo thuộc sl(l+1,Z)\mathfrak{s}\mathfrak{l}(l+ 1,\mathbf{Z}), và Z\mathbf{Z}-môđun P(R∨)P(R^{\vee}) được sinh bởi Q(R∨)Q(R^{\vee}) và E11−(l+1)−1∑EiiE_{11}-(l+ 1)^{-1}\sum E_{ii} (Ch. VI, §4, no. 7.VIII), nghĩa là gồm các ma trận đường chéo có vết bằng không dạng x+(l+1)−1a.1x+ (l+ 1)^{-1}a.1, trong đó xx có các phần tử nguyên và a∈Za\in \mathbf{Z}. Suy ra rằng sl(l+1,Z)\mathfrak{s}\mathfrak{l}(l+1,\mathbf{Z}) là cấp Chevalley trong (g,h)(\mathfrak{g},\mathfrak{h}) liên kết với dàn cho phép Q(R∨)Q(R^{\vee}) và hệ Chevalley (Xα)(X_{\alpha}). Dễ dàng kiểm tra rằng ⋀rZl+1\bigwedge^r\mathbf{Z}^{l+1} là một dàn khả dụng trong ⋀rQl+1\bigwedge^r\mathbf{Q}^{l+1} đối với sl(l+1,Z)(\mathfrak{s}\mathfrak{l}(l+ 1,\mathbf{Z}) (§12, no. 8, Định. 3).

Mặt khác, gl(l+1,Z)\mathfrak{g}\mathfrak{l}(l+ 1,\mathbf{Z}) là một dàn Chevalley trong đại số khả quy tách gl(l+1,Q)\mathfrak{g}\mathfrak{l}(l+ 1,\mathbf{Q}); phép chiếu của nó lên sl(l+1,Q)\mathfrak{s}\mathfrak{l}(l+ 1,\mathbf{Q}) song song với tâm Q.1\mathbf{Q}.1 của gl(l+1,Q)\mathfrak{g}\mathfrak{l}(l+1,\mathbf{Q}) là dàn Chevalley trong (g,h)(\mathfrak{g},\mathfrak{h}) được xác định bởi dàn cho phép P(R∨)P(R^{\vee}) trong h\mathfrak{h} và hệ Chevalley (Xα)(X_{\alpha}). Ta nhận xét rằng gl(l+1,Z)\mathfrak{g}\mathfrak{l}(l+ 1,\mathbf{Z}) không phải là tổng trực tiếp của các giao của nó với sl(l+1,Q)\mathfrak{s}\mathfrak{l}(l+ 1,\mathbf{Q}) và tâm của gl(l+1,Q)\mathfrak{g}\mathfrak{l}(l+ 1,\mathbf{Q}).

2. Các đại số kiểu bl_{\boldsymbol{l}} (l≥\boldsymbol{l}\geq 1)

(I) Cho V là một không gian vectơ hữu hạn chiều, và Ψ\Psi là một dạng song tuyến tính đối xứng không suy biến trên V. Tập hợp các tự đồng cấu xx của V sao cho Ψ(xv,v′)+Ψ(v,xv′)=0\Psi (xv, v') +\Psi (v, xv') = 0 với mọi v,v′∈Vv, v'\in V là một đại số Lie con của sl\mathfrak{s}\mathfrak{l}(V), nửa đơn với dim V≠2V\not= 2 (Chương I, §6, no. 7, Mệnh đề 9). Ta ký hiệu nó bởi o(Ψ)\mathfrak{o}(\Psi ) và gọi nó là đại số Lie trực giao liên kết với Ψ\Psi.

Giả sử rằng V có chiều lẻ 2l+1≥32l+ 1\geq 3 và rằng Ψ\Psi có chỉ số cực đại ll. Ký hiệu bởi Q dạng toàn phương sao cho Ψ\Psi liên kết với Q. Ta có Q(x)=12Ψ(x,x)Q(x) =\frac{1}{2}\Psi (x, x) với x∈Vx\in V. Theo Đại số, Chương IX, §4, no. 2, V có thể được viết thành tổng trực tiếp của hai không gian con hoàn toàn đẳng hướng cực đại F và F′F' và phần bù trực giao G của F+F′F + F', là không đẳng hướng và 1 chiều. Bằng cách nhân Ψ\Psi với một hằng khác không, ta có thể giả sử rằng tồn tại e0∈Ge_0\in G sao cho Ψ(e0,e0)=−2\Psi (e_0, e_0) =-2. Mặt khác, F và F′F' đối ngẫu với nhau qua Ψ\Psi; gọi (ei)1≤i≤l(e_i)_{1\leq i\leq l} là một cơ sở của F và (e−i)1≤i≤l(e_{-i})_{1\leq i\leq l} là cơ sở đối ngẫu của F′F'. Khi đó

(e1,...,el,e0,e−l,...,e−1) (e_1, . . . , e_l, e_0, e_{-l}, . . . , e_{-1})

là một cơ sở của V; ta có

Q(∑xiei)=−x02+∑i=1i=lxix−i Q(\sum x_ie_i)=-x^2_0+\sum_{i=1}^{i=l}x_ix_{-i}

và ma trận của Ψ\Psi đối với cơ sở này là ma trận vuông cấp 2l+12l+ 1

0 0 ⋯\cdots 0 1

0 0 ss 0 0 ⋯\cdots 1 0

S=S= 0 −2-2 0 ,s=,s= ... ... . .. ... ...,

ss 0 0 0 1 ⋯\cdots 0 0

1 0 ⋯\cdots 0 0

trong đó ss là ma trận vuông cấp ll mà tất cả các phần tử của nó đều bằng không ngoại trừ các phần tử trên đường chéo thứ hai6^6 bằng 1. Một cơ sở của V có các tính chất trước đó sẽ được gọi là một cơ sở Witt của V. Đại số g=o(Ψ)\mathfrak{g}=\mathfrak{o}(\Psi ) khi đó có thể được đồng nhất với đại số oS(2l+1,k)\mathfrak{o}_S(2l+ 1, k) của các ma trận vuông aa cấp 2l+12l+ 1 sao cho a=−S−1aS(a=-S^{-1}aS(Đại số, Chương IX, §1, no. 10, công thức (50)). Một tính toán đơn giản cho thấy rằng g\mathfrak{g} là tập hợp các ma trận có dạng

A2stxB A2s^txB

yy 0 xx (2)

C2styD C2s^tyD

trong đó xx và yy là các ma trận có 1 hàng và ll cột và A,B,C,DA, B, C, D là các ma trận vuông cấp ll sao cho B=−stBs,C=−stCsB=-s^tBs, C=-s^tCs, và D=−stAsD=-s^tAs. Vì ánh xạ A→stAsA \rightarrow s^tAs từ Ml(k)\mathbf{M}_l(k) vào chính nó là phép đối xứng đối với đường chéo thứ hai, nên suy ra

dimg=2l+l2+2l(l−1)2=l(2l+1)\mathfrak{g}= 2l+l^2+ 2\frac{l(l-1)}{2}=l(2l+ 1).

Gọi h\mathfrak{h} là tập hợp các phần tử đường chéo của g\mathfrak{g}. Đây là một đại số con giao hoán của g\mathfrak{g}, với cơ sở là các phần tử

6^6 Đường chéo thứ hai của một ma trận vuông (aij)1≤i,j≤n(a_{ij})_{1\leq i,j\leq n} là họ các aija_{ij} sao cho

i+j=n+1 i+j=n+ 1
Hi=Ei,i−E−i,−i(1≤i≤l) H_i=E_{i,i}-E_{-i,-i}(1\leq i\leq l)

Gọi (εi)(\varepsilon_i) là cơ sở đối ngẫu của h∗\mathfrak{h}^* đối với (Hi)(H_i). Đặt

Xεi=2Ei,0+E0,−i(1≤i≤l) X_{\varepsilon_i}= 2E_{i,0}+E_{0,-i}(1\leq i\leq l)

X−εiX_{-\varepsilon_i} = −2E−i,0−E0,i(1≤i≤l)-2E_{-i,0}-E_{0,i}(1\leq i\leq l)

Xεi−εjX_{\varepsilon_i-\varepsilon_j} = Ei,j−E−j,−i(1≤i<j≤l)E_{i,j}-E_{-j,-i}(1\leq i < j\leq l)

Xεj−εiX_{\varepsilon_j-\varepsilon_i} = −Ej,i+E−i,−j(1≤i<j≤l)-E_{j,i}+E_{-i,-j}(1\leq i < j\leq l) (3)

Xεi+εjX_{\varepsilon_i+\varepsilon_j} = Ei,−j−Ej,−i(1≤i<j≤l)E_{i,-j}-E_{j,-i}(1\leq i < j\leq l)

X−εi−εjX_{-\varepsilon_i-\varepsilon_j} = −E−j,i+E−i,j(1≤i<j≤l)-E_{-j,i}+E_{-i,j}(1\leq i < j\leq l).

Dễ dàng kiểm tra rằng các phần tử này tạo thành một cơ sở của một phần bù của h\mathfrak{h} trong g\mathfrak{g} và rằng, với h∈hh\in \mathfrak{h},

[h,Xα]=α(h)Xα(4) [h, X_{\alpha}] =\alpha (h)X_{\alpha} \tag{4}

với mọi α∈R\alpha \in R, trong đó R là tập hợp các ±εi\pm \varepsilon_i và các ±εi±εj(1≤i<j≤l)\pm \varepsilon_i\pm \varepsilon_j(1\leq i < j\leq l). Suy ra rằng h\mathfrak{h} bằng chuẩn hóa của nó trong g\mathfrak{g}, và do đó là một đại số con Cartan của g\mathfrak{g}, rằng h\mathfrak{h} tách, và rằng các nghiệm của (g,h)(\mathfrak{g},\mathfrak{h}) là các phần tử của R. Hệ nghiệm R của (g,h)(\mathfrak{g},\mathfrak{h}) có kiểu BlB_l với l≥2l\geq 2, và có kiểu A1A_1 (cũng nói là có kiểu B1B_1) với l=1l= 1 (Chương VI, §4, no. 5.I, mở rộng cho trường hợp l=1l= 1). Do đó, g\mathfrak{g} là một đại số Lie đơn tách được kiểu BlB_l.

Mọi đại số con Cartan tách của o(Ψ)\mathfrak{o}(\Psi ) là một biến đổi của h\mathfrak{h} bởi một tự đẳng cấu sơ cấp của o(Ψ)\mathfrak{o}(\Psi ), và do đó bởi một phần tử của O(Ψ)\mathbf{O}(\Psi ) (xem (VII)), và vì vậy là tập hợp hβ\mathfrak{h}_{\beta} gồm các phần tử của g\mathfrak{g} mà ma trận của chúng đối với một cơ sở Witt β\beta của V là đường chéo. Ta kiểm tra ngay lập tức rằng các không gian con vectơ duy nhất bất biến dưới hβ\mathfrak{h}_{\beta} là các không gian được sinh bởi một tập con của β\beta.

Nếu l=1l= 1, các đại số o(Ψ)\mathfrak{o}(\Psi ) và sl(2,k)\mathfrak{s}\mathfrak{l}(2, k) có cùng các hệ nghiệm, và do đó đẳng cấu với nhau (xem thêm §1, Bài tập 16). Từ đây trở đi, ta giả sử rằng l≥2l\geq 2.

(II) Hệ nghiệm R∨R^{\vee} được xác định nhờ Chương VI, §4, no. 5.V, và ta thấy rằng

Hεi=2Hi,Hεi−εj=Hi−Hj,Hεi+εj=Hi+Hj H_{\varepsilon_i}= 2H_i, H_{\varepsilon_i-\varepsilon_j}=H_i-H_j, H_{\varepsilon_i+\varepsilon_j}=H_i+H_j

(III) Đặt α1=ε1−ε2,...,αl−1=εl−1−εl,αl=εl\alpha_1=\varepsilon_1-\varepsilon_2, . . . , \alpha_{l-1}=\varepsilon_{l-1}-\varepsilon_l, \alpha_l=\varepsilon_l. Theo Chương VI, §4, no. 5.II, (α1,...,αl)(\alpha_1, . . . , \alpha_l) là một cơ sở B của R; các nghiệm dương tương ứng với B là các εi\varepsilon_i và các εi±εj(i<j)\varepsilon_i\pm \varepsilon_j(i < j). Đại số con Borel tương ứng b\mathfrak{b} là tập hợp các ma trận tam giác trên trong g\mathfrak{g}.

Ta kiểm tra ngay lập tức rằng các không gian con vectơ duy nhất của V khác {0}\{0\} và V và ổn định dưới b\mathfrak{b} là các phần tử của cờ cực đại tương ứng với cơ sở (ei)(e_i), nghĩa là các không gian con toàn đẳng hướng V1,...,VlV_1, . . . ,V_l, trong đó ViV_i được sinh bởi e1,...,eie_1, . . . , e_i, cùng với các phần bù trực giao của chúng V−1,...,V−i:V_{-1}, . . . ,V_{-i}: phần bù trực giao V−iV_{-i} của ViV_i được sinh bởi e1,...,el,e0,e−l,...,e−i−1e_1, . . . , e_l, e_0, e_{-l}, . . . , e_{-i-1} và không toàn đẳng hướng. Mặt khác, nếu một phần tử của g\mathfrak{g} giữ ổn định một không gian con vectơ, thì nó giữ ổn định phần bù trực giao của không gian đó. Do đó, b\mathfrak{b} là tập hợp các phần tử của g\mathfrak{g} giữ ổn định các phần tử của cờ {V1,...,Vl}\{V_1, . . . ,V_l\}.

Một cờ được gọi là đẳng hướng nếu mỗi phần tử của nó là toàn đẳng hướng. Cờ {V1,...,Vl}\{V_1, . . . ,V_l\} là một cờ đẳng hướng cực đại. Vì nhóm O(Ψ)\mathbf{O}(\Psi ) tác động bắc cầu vừa trên các đại số con Borel của g\mathfrak{g} (xem (VII)) vừa trên các cờ đẳng hướng cực đại (Đại số, Chương IX, §4, no. 3, Định lý 1), ta thấy rằng, với mọi cờ đẳng hướng cực đại δ\delta trong V, tập hợp bδ\mathfrak{b}_{\delta} gồm các phần tử của g\mathfrak{g} giữ ổn định các phần tử của δ\delta là một đại số con Borel của g\mathfrak{g} và ánh xạ δ→bδ\delta \rightarrow \mathfrak{b}_{\delta} là một song ánh từ tập hợp các cờ đẳng hướng cực đại đến tập hợp các đại số con Borel của g\mathfrak{g}.

Cho δ\delta là một cờ đẳng hướng và cho pδ\mathfrak{p}_{\delta} là tập hợp các phần tử của g\mathfrak{g} làm ổn định các phần tử của δ\delta. Nếu δ⊂{V1,...,Vl}\delta \subset \{V_1, . . . ,V_l\}, thì pδ\mathfrak{p}_{\delta} là một đại số con parabolic của g\mathfrak{g} chứa b\mathfrak{b}, và dễ dàng kiểm tra rằng các không gian con đẳng hướng toàn phần ≠{0}\not=\{0\} duy nhất ổn định dưới pδ\mathfrak{p}_{\delta} là các phần tử của δ\delta. Điều này cho 2l2^l đại số con parabolic của g\mathfrak{g} chứa b\mathfrak{b}. Ta thấy như trên rằng ánh xạ δ→pδ\delta \rightarrow \mathfrak{p}_{\delta} là một song ánh từ tập hợp các cờ đẳng hướng trong V đến tập hợp các đại số con parabolic của g\mathfrak{g}. Hơn nữa, pδ⊂pδ′\mathfrak{p}_{\delta}\subset \mathfrak{p}_{\delta'} khi và chỉ khi δ⊃δ′\delta \supset \delta '.

(IV) Các trọng số cơ bản tương ứng với α1,...,αl\alpha_1, . . . , \alpha_l là, theo Ch. VI, §4, no. 5.VI,

ϖi=ε1+⋯+εi(1≤i≤l−1) \varpi_i=\varepsilon_1+\cdots +\varepsilon_i(1\leq i\leq l-1)
ϖl=12(ε1+⋯+εl) \varpi_l=\frac{1}{2}(\varepsilon_1+\cdots +\varepsilon_l)

Cho σ\sigma là biểu diễn đồng nhất của g\mathfrak{g} trên V. Lũy thừa ngoài ⋀rσ\bigwedge^r\sigma tác động trên E=⋀rVE =\bigwedge^rV. Nếu h∈hh\in \mathfrak{h},

σ(h).ei=εi(h)ei\sigma (h).e_i=\varepsilon_i(h)e_i for 1≤i≤l1\leq i\leq l

σ(h).e0=0 \sigma (h).e_0= 0

σ(h).e−i=−εi(h)e−i\sigma (h).e_{-i}=-\varepsilon_i(h)e_{-i} for 1≤i≤l1\leq i\leq l.

Suy ra rằng, với 1≤r≤l,ε1+⋯+εr1\leq r\leq l,\varepsilon_1+\cdots +\varepsilon_r là trọng số cao nhất của ⋀rσ\bigwedge^r\sigma, các phần tử có trọng số ε1+⋯+εr\varepsilon_1+\cdots +\varepsilon_r là các phần tử tỉ lệ với e1∧⋯∧e_1\wedge \cdots \wedge ere_r. Ta sẽ chứng minh rằng với 1≤r≤l−11\leq r\leq l-1, biểu diễn ⋀rσ\bigwedge^r\sigma là một biểu diễn cơ bản của g\mathfrak{g} có trọng số cao nhất ϖr\varpi_r. Để làm điều này, chỉ cần chứng minh rằng ⋀rσ\bigwedge^r\sigma là bất khả quy với 0≤r≤2l+10\leq r\leq 2l+ 1. Nhưng dạng song tuyến tính Φ\Phi trên ⋀rV×⋀2l+1−rV\bigwedge^rV\times \bigwedge^{2l+1-r}V được xác định bởi

x∧y=Φ(x,y)e1∧⋯∧el∧e0∧e−l∧⋯∧e−1 x\wedge y=\Phi (x, y)e_1\wedge \cdots \wedge e_l\wedge e_0\wedge e_{-l}\wedge \cdots \wedge e_{-1}

là bất biến dưới g\mathfrak{g} và đặt ⋀rV\bigwedge^rV và ⋀2l+1−rV\bigwedge^{2l+1-r}V trong đối ngẫu. Do đó, biểu diễn ⋀2l+1−rσ\bigwedge^{2l+1-r}\sigma là đối ngẫu của ⋀rσ\bigwedge^r\sigma và chỉ cần chứng minh tính bất khả quy của ⋀rσ\bigwedge^r\sigma với 0≤r≤l0\leq r\leq l, hay rằng không gian con nhỏ nhất TrT_r của ⋀rV\bigwedge^rV chứa e1∧⋯∧ere_1\wedge \cdots \wedge e_r và ổn định dưới g\mathfrak{g} là toàn bộ ⋀rV\bigwedge^rV. Điều này là ngay lập tức đối với r=0r= 0 và r=1r= 1 (xem công thức (2)). Đối với r=2r= 2 (và do đó l≥2l\geq 2), biểu diễn ⋀2σ\bigwedge^2\sigma và biểu diễn phụ hợp của g\mathfrak{g} (vốn là bất khả quy) có cùng chiều l(2l+1)l(2l+ 1) và cùng trọng số cao nhất ε1+ε2\varepsilon_1+\varepsilon_2 (Chap. VI, §4, no. 5.IV). Ta kết luận rằng ⋀2σ\bigwedge^2\sigma tương đương với biểu diễn phụ hợp, và do đó là bất khả quy. Điều này chứng minh mệnh đề của ta đối với l=1l= 1 và l=2l= 2.

Bây giờ ta lập luận bằng quy nạp theo ll, và giả sử rằng l≥r≥3l\geq r\geq 3. Trước hết ta nhận xét rằng nếu W là một không gian con không đẳng hướng của V có chiều lẻ, với phần bù trực giao W′W', thì hạn chế ΨW\Psi_W của Ψ\Psi lên W là không suy biến và o(ΨW)\mathfrak{o}(\Psi_W) có thể được đồng nhất với đại số con của g\mathfrak{g} gồm các phần tử triệt tiêu trên W′W'. Nếu dim W<W< dim V, và nếu ΨW\Psi_W có chỉ số cực đại, giả thiết quy nạp suy ra rằng nếu TrT_r chứa một phần tử khác không có dạng w′∧ww'\wedge w, với w′∈⋀r−kW′w'\in \bigwedge^{r-k}W' và w∈⋀kW(0≤k≤r)w\in \bigwedge^kW (0\leq k\leq r), thì TrT_r chứa w′∧⋀kW:w'\wedge \bigwedge^kW: thật vậy, ta có a.(w′∧w)=w′∧a.wa.(w'\wedge w) =w'\wedge a.w với mọi a∈o(ΨW)a\in \mathfrak{o}(\Psi_W). Ta chứng minh bằng quy nạp theo p∈0,rp\in 0, r rằng TrT_r chứa các phần tử

x=ei1∧⋯∧eir−p∧ej1∧⋯∧ejp x=e_{i_1}\wedge \cdots \wedge e_{i_{r-p}}\wedge e_{j_1}\wedge \cdots \wedge e_{j_p}

với 1≤i1<⋯<ir−p≤l1\leq i_1<\cdots < i_{r-p}\leq l và −l≤j1<⋯<jp≤0-l\leq j_1<\cdots < j_p\leq 0. Với p=0p= 0, điều này suy ra từ tính bất khả quy của phép toán của gl(F)\mathfrak{g}\mathfrak{l}(F) trên ⋀rF\bigwedge^rF (no. 1), vì

g\mathfrak{g} chứa các phần tử giữ cố định F=Vl=∑i=1lkeiF = V_l=\sum_{i=1}^lke_i và cảm sinh trên đó một tự đồng cấu bất kỳ (xem công thức (2)). Nếu p=1p= 1, lấy q∈(1,l)q\in (1, l) sao cho q≠−j1q\not=-j_1 và sao cho tồn tại λ∈1,r−p\lambda \in 1, r-p với q=iλq=i_{\lambda}; nếu p≥2p\geq 2, lấy q∈1,lq\in 1, l sao cho −q∈{j1,...,jp}-q\in \{j_1, . . . , j_p\}. Sau khi hoán vị các eie_i nếu cần, ta có thể giả sử rằng q=1q= 1. Bây giờ lấy W là phần bù trực giao của W′=ke1+ke−1W'=ke_1+ke_{-1}. Nếu p=1p= 1, ta có x∈e1∧⋀r−1Wx\in e_1\wedge \bigwedge^{r-1}W; vì TrT_r chứa e1∧⋯∧ere_1\wedge \cdots \wedge e_r, suy ra TrT_r chứa xx. Nếu p≥2p\geq 2, hoặc x∈e−1∧⋀r−1Wx\in e_{-1}\wedge \bigwedge^{r-1}W hoặc x∈e1∧e−1∧⋀r−2Wx\in e_1\wedge e_{-1}\wedge \bigwedge^{r-2}W; vì theo giả thiết quy nạp, TrT_r chứa e−1∧e2∧⋯∧er−1e_{-1}\wedge e_2\wedge \cdots \wedge e_{r-1} và e−1∧e1∧e2∧⋯∧er−2e_{-1}\wedge e_1\wedge e_2\wedge \cdots \wedge e_{r-2}, suy ra TrT_r chứa xx, điều này hoàn tất chứng minh.

Để xem một chứng minh khác về tính bất khả quy của ⋀rσ\bigwedge^r\sigma, xem Bài tập 6.

Bây giờ ta sẽ xác định biểu diễn cơ bản có trọng số cao nhất ϖl\varpi_l.

Bổ đề 1 018T

Cho V là một không gian vectơ hữu hạn chiều, Q một dạng toàn phương không suy biến trên V,Ψ,\Psi dạng song tuyến tính đối xứng liên kết với Q, C(Q) đại số Clifford của V đối với Q,f0,f_0 hợp của các ánh xạ chính tắc

o(Ψ)⟶gl(V)⟶V⊗V∗⟶V⊗V⟶C+(Q) \mathfrak{o}(\Psi )\longrightarrow \mathfrak{g}\mathfrak{l}(V)\longrightarrow V\otimes V^*\longrightarrow V\otimes V\longrightarrow C^+(Q)

(trong đó ánh xạ thứ 1 là đơn ánh chính tắc, ánh xạ thứ 3 được xác định bởi đẳng cấu chính tắc từ V∗V^* đến V tương ứng với Ψ\Psi, ánh xạ thứ 4 được xác định bởi phép nhân trong C(Q), xem Đại số, Chương IX, § 9, no. 1). Đặt f=12f0f=\frac{1}{2}f_0.

(i) Nếu (er),(er′)(e_r),(e'_r) là các cơ sở của V sao cho Ψ(er,es′)=δrs\Psi (e_r, e'_s) =\delta_{rs}, ta có f0(a)=f_0(a) = ∑r(aer)er′\sum_r(ae_r)e'_r với mọi a∈o(Ψ)a\in \mathfrak{o}(\Psi ).

(ii) Nếu a,b∈o(Ψ)a, b\in \mathfrak{o}(\Psi ), ta có ∑r(aer)(ber′)=−∑r(aber)er′\sum_r(ae_r)(be'_r) =-\sum_r(abe_r)e'_r.

(iii) Nếu a∈o(Ψ)a\in \mathfrak{o}(\Psi ) và v∈Vv\in V, ta có [f(a),v]=av[f(a), v] =av.

(iv) Nếu a,b∈o(Ψ)a, b\in \mathfrak{o}(\Psi ), ta có [f(a),f(b)]=f([a,b])[f(a), f(b)] =f([a, b]).

(v) f(o(Ψ))f(\mathfrak{o}(\Psi )) sinh ra đại số kết hợp C^+(Q).

(vi) Cho N là một C^+(Q)-môđun trái và ρ\rho là đồng cấu tương ứng từ C^+(Q) vào Endk(N)_k(N). Khi đó ρ∘f\rho \circ f là một biểu diễn của o(Ψ)\mathfrak{o}(\Psi ) trên N. Nếu N là đơn, thì ρ∘f\rho \circ f là bất khả quy.

Mệnh đề (i) là hiển nhiên. Nếu a,b∈o(Ψ)a, b\in \mathfrak{o}(\Psi ), ta có (đặt Ψ(x,y)=⟨x,y⟩\Psi (x, y) =\langle x, y\rangle )::

∑r(aer)(ber′)=∑r,s,t⟨aer,es′⟩⟨ber′,et⟩eset′=∑r,s,t⟨er,aes′⟩⟨er′,bet⟩eset′ \sum_r(ae_r)(be'_r) =\sum_{r,s,t}\langle ae_r, e'_s\rangle \langle be'_r, e_t\rangle e_se'_t=\sum_{r,s,t}\langle e_r, ae'_s\rangle \langle e'_r, be_t\rangle e_se'_t
=∑s,t⟨aes′,bet⟩eset′=−∑s,t⟨es′,abet⟩eset′=−∑t(abet)et′ =\sum_{s,t}\langle ae'_s, be_t\rangle e_se'_t=-\sum_{s,t}\langle e'_s, abe_t\rangle e_se'_t=-\sum_t(abe_t)e'_t

điều này chứng minh (ii). Tiếp theo, với mọi v∈Vv\in V, theo (i),

1 ′′''

[f(a),v]=∑((aer)erv−v(aer)er) [f(a), v] =\sum((ae_r)e_rv-v(ae_r)e_r)

2

= 1∑r((aer)er′v+(aer)ver′−(aer)ver′−v(aer)er′)1\sum^r((ae_r)e'_rv+ (ae_r)ve'_r-(ae_r)ve'_r-v(ae_r)e'_r)

2

rr

1 ′′''

= ∑((aer)⟨er,v⟩−⟨aer,v⟩er)\sum((ae_r)\langle e_r, v\rangle - \langle ae_r, v\rangle e_r)

2

= 1a(∑r⟨er′,v⟩er)+1∑⟨er,av⟩er′=1av+1av=av1a(\sum^r\langle e'_r, v\rangle e_r)+1\sum\langle e_r, av\rangle e'_r=1av+1av=av,

2 r_r 2 r_r 2 2

điều này chứng minh (iii). Khi đó

[f(a),f(b)]=[f(a),12∑(ber)er′][f(a), f(b)] =[f(a),\frac{1}{2}\sum(be_r)e'_r] theo (i)

rr

=12∑([f(a),ber]er′+(ber)[f(a),er′])=\frac{1}{2}\sum([f(a), be_r]e'_r+ (be_r)[f(a), e'_r]) =12∑r((aber)er′+(ber)(aer′))=\frac{1}{2}\sum^r((abe_r)e'_r+ (be_r)(ae'_r)) theo (iii)

rr

=12∑((aber)er′−(baer)er′)=\frac{1}{2}\sum((abe_r)e'_r-(bae_r)e'_r) theo (ii)

rr

=f([a,b])=f([a, b]) theo (i)

điều này chứng minh (iv). Để chứng minh (v), ta có thể, bằng cách mở rộng vô hướng, giả sử rằng kk đóng đại số. Khi đó chọn một cơ sở (er)(e_r) của V sao cho Ψ(er,es)=δrs\Psi (e_r, e_s) =\delta_{rs}, nên er′=ere'_r=e_r. Nếu i≠ji\not=j, thì Eij−Eji∈o(Ψ)E_{ij}-E_{ji}\in \mathfrak{o}(\Psi ) và

f(Eij−Eji)=12(eiej−ejei)=eiej f(E_{ij}-E_{ji}) =\frac{1}{2}(e_ie_j-e_je_i) =e_ie_j

nhưng các eieje_ie_j sinh C+(Q)C^+(Q).

Mệnh đề (vi) suy ra từ (iv) và (v). Q.E.D.

Bây giờ nhắc lại các ký hiệu đã dùng ở đầu số này. Đặt V~=F+F′\widetilde{V} = F + F' và gọi Q~\widetilde{Q} (tương ứng Ψ~\widetilde{\Psi}) là hạn chế của Q (tương ứng Ψ\Psi ) trên V~\widetilde{V}. Khi đó Q~\widetilde{Q} là một dạng toàn phương không suy biến có chỉ số cực đại ll trên không gian V~\widetilde{V} có chiều 2l2l và đại số Clifford C(Q~)C( \widetilde{Q}) là một đại số đơn tâm có chiều 22l(2^{2l}(Đại số, Chương IX, §9, no. 4, Định lý 2). Gọi N là đại số ngoài của không gian con đẳng hướng cực đại F′F' sinh bởi e−1,...,e−le_{-1}, . . . , e_{-l}. Đồng nhất F với không gian đối ngẫu của F′F' nhờ Ψ\Psi và với x∈F′x\in F' (tương ứng y∈Fy\in F) ký hiệu λ(x)\lambda (x) (tương ứng λ(y)\lambda (y)) tích ngoài trái với xx (tương ứng phép co trái với yy) trong N; nếu a1,...,ak∈F′a_1, . . . , a_k\in F', thì

λ(x).(a1∧⋯∧ak)=x∧a1∧⋯∧ak \lambda (x).(a_1\wedge \cdots \wedge a_k) =x\wedge a_1\wedge \cdots \wedge a_k
λ(y).(a1∧⋯∧ak)=∑i=1k(−1)i−1Ψ(ai,y)a1∧⋯∧ai−1∧ai+1∧⋯∧ak \lambda (y).(a_1\wedge \cdots \wedge a_k) =\sum_{i=1}^k(-1)^{i-1}\Psi (a_i, y)a_1\wedge \cdots \wedge a_{i-1}\wedge a_{i+1}\wedge \cdots \wedge a_k

Dễ dàng kiểm tra rằng λ(x)2=λ(y)2=0\lambda (x)^2=\lambda (y)^2= 0 và rằng

λ(x)λ(y)+λ(y)λ(x)=Ψ(x,y).1 \lambda (x)\lambda (y) +\lambda (y)\lambda (x) =\Psi (x, y).1

Suy ra (Đại số, Chương IX, §9, no. 1) rằng tồn tại một đồng cấu duy nhất (vẫn ký hiệu là λ\lambda ) từ C(Q~)C( \widetilde{Q}) vào End(N) mở rộng ánh xạ λ:F∪F′→\lambda : F\cup F'\rightarrow End(N). Vì dim N=2lN = 2^l và vì C(Q~)C( \widetilde{Q}) có một lớp duy nhất các môđun đơn, có chiều 2l(2^l(Đại số, Chương IX, §9, no. 4, Th. 2), biểu diễn của C(Q~)C( \widetilde{Q}) trên N xác định bởi λ\lambda là bất khả quy và là một biểu diễn spinor của C(Q~)(C( \widetilde{Q}) (loc. cit.).

Xét ánh xạ μ:v→e0v\mu:v \rightarrow e_0v từ V~\widetilde{V} vào C+(Q)C^+(Q). Với v∈V~v\in \widetilde{V}, ta có

(e0v)2=−e02v2=−Q(e0)Q(v)=Q(v)=Q~(v) (e_0v)^2=-e^2_0v^2=-Q(e_0)Q(v) = Q(v) = \widetilde{Q}(v)

và μ\mu mở rộng duy nhất thành một đồng cấu, vẫn ký hiệu là μ\mu, từ C(Q~)C( \widetilde{Q}) vào C+(Q)C^+(Q). Vì C(Q~)C( \widetilde{Q}) là đơn và vì

dim C+(Q)=C^+(Q) = dim C(Q~)=22lC( \widetilde{Q}) = 2^{2l},

ta thấy μ\mu là một đẳng cấu. Do đó, λ∘μ−1\lambda \circ \mu^{-1} xác định một cấu trúc môđun đơn của C+C^+(Q) trên N và ρ=λ∘μ−1∘f\rho =\lambda \circ \mu^{-1}\circ f là một biểu diễn bất khả quy của g\mathfrak{g} trên N (Bổ đề 1 (vi)).

Mặt khác, theo Bổ đề 1 (i), ta có

f(Hi)=12(eie−i−e−iei) f(H_i) =\frac{1}{2}(e_ie_{-i}-e_{-i}e_i)

Vì eie−i=−e02eie−i=e0eie0e−ie_ie_{-i}=-e^2_0e_ie_{-i}=e_0e_ie_0e_{-i} và eie−i+e−iei=1e_ie_{-i}+e_{-i}e_i= 1, ta có

−1_{-1} 1 1

μ∘f(Hi)=−e−iei=−+eie−i \mu\circ f(H_i) =-e_{-i}e_i=-+e_ie_{-i}

2 2 Ta suy ra rằng, với 1≤i1<⋯<ik≤l:1\leq i_1<\cdots < i_k\leq l:

ρ(H)(e∧⋯∧e)={−12e−i1∧⋯∧e−ik\rho (H)(e\wedge \cdots \wedge e) =\{-\frac{1}{2}e_{-i_1}\wedge \cdots \wedge e_{-i_k} nếu i∈{i1,...,ik}i\in \{i_1, . . . , i_k\}

i−i1−ik12e−i1∧⋯∧e−ik^{i-i_1}-_{i_k}\frac{1}{2}e_{-i_1}\wedge \cdots \wedge e_{-i_k} nếu i∉{i1,...ik}i \notin \{i_1, . . . i_k\}

và với h∈hh\in \mathfrak{h}

ρ(h)(e−i1∧⋯∧e−ik)(5) \rho (h)(e_{-i_1}\wedge \cdots \wedge e_{-i_k}) \tag{5}
=(12(ε1+⋯+εl)−(εi1+⋯+εik))(h)(e−i1∧⋯∧e−ik) = (\frac{1}{2}(\varepsilon_1+\cdots +\varepsilon_l)-(\varepsilon_{i_1}+\cdots +\varepsilon_{i_k}))(h)(e_{-i_1}\wedge \cdots \wedge e_{-i_k})

Điều này cho thấy rằng trọng số cao nhất của ρ\rho là ϖl\varpi_l. Ta gọi ρ\rho là biểu diễn spinor của g\mathfrak{g}. Chú ý rằng các trọng số của nó đều đơn (hơn nữa, ϖl\varpi_l là một trọng lượng minuscule).

(V) Ta có w0=−1w_0=-1, do đó mọi biểu diễn đơn hữu hạn chiều của g\mathfrak{g} đều trực giao hoặc symplectic. Theo Chap. VI, §4, no. 5.VI, tổng các tọa độ của ϖr\varpi_r đối với (α1,...,αl)(\alpha_1, . . . , \alpha_l) là nguyên với 1≤r≤l−1:1\leq r\leq l-1: do đó, biểu diễn ⋀rσ\bigwedge^r\sigma là trực giao. Hơn nữa, nó bất biến đối với mở rộng Ψ(r)\Psi_{(r)} của Ψ\Psi lên ⋀rV\bigwedge^rV.

Đối với biểu diễn spinor, tổng các tọa độ của ϖl\varpi_l đối với (α1,...,αl)(\alpha_1, . . . , \alpha_l) là 12(1+⋯+l)=l(l+1)4(\frac{1}{2}(1 +\cdots +l) =\frac{l(l+1)}{4}(loc. cit.). Vì vậy, nó trực giao đối với l≡0l\equiv 0 hoặc −1-1 (mod. 4) và symplectic đối với l≡1l\equiv 1 hoặc 2 (mod. 4). Thực vậy, xét dạng song tuyến tính Φ\Phi trên N=⋀F′N =\bigwedge F' được xác định như sau: nếu x∈⋀pF′x\in \bigwedge^pF' và y∈⋀qF′y\in \bigwedge^qF', đặt Φ(x,y)=0\Phi (x, y) = 0 nếu p+q≠lp+q\not=l và

x∧y=(−1)2p(p+1)Φ(x,y)e−1∧⋯∧e−r x\wedge y= (-1)^{^{p(p+1)}_2}\Phi (x, y)e_{-1}\wedge \cdots \wedge e_{-r}

nếu p+q=lp+q=l. Dễ dàng kiểm tra được rằng Φ\Phi là không suy biến và là trực giao đối với l≡0,−1l\equiv 0,-1 (mod. 4) và phản xứng đối với l≡1,2l\equiv 1,2 (mod. 4). Mặt khác, theo Bổ đề 1 (i),

f(Xεi)=e0ei,f(X−εi)=−e0e−i f(X_{\varepsilon_i}) =e_0e_i,f(X_{-\varepsilon_i}) =-e_0e_{-i}

với 1≤i≤l1\leq i\leq l và

f(Xεi−εj)=12(eie−j−e−jei)=eie−j=e0eie0e−j f(X_{\varepsilon_i-\varepsilon_j}) =\frac{1}{2}(e_ie_{-j}-e_{-j}e_i) =e_ie_{-j}=e_0e_ie_0e_{-j}

với 1≤i<j≤l1\leq i < j\leq l, và tương tự

f(Xεj−εi)=−e0eje0e−i,f(Xεi+εj)=e0eie0ej,f(X−εi−εj)=e0e−ie0e−j f(X_{\varepsilon_j-\varepsilon_i}) =-e_0e_je_0e_{-i}, f(X_{\varepsilon_i+\varepsilon_j}) =e_0e_ie_0e_j, f(X_{-\varepsilon_i-\varepsilon_j}) =e_0e_{-i}e_0e_{-j}

do đó

μ−1∘f(Xεi)=ei,μ−1f(X−εi)=−e−i \mu^{-1}\circ f(X_{\varepsilon_i}) =e_i,\mu^{-1}f(X_{-\varepsilon_i}) =-e_{-i}

và

μ−1∘f(X±εi±εj)=ce±ie±j\mu^{-1}\circ f(X_{\pm\varepsilon_i\pm\varepsilon_j}) =ce_{\pm i}e_{\pm j} với 1≤i,j≤l,i≠j1\leq i, j\leq l, i\not=j và c∈{1,−1}c\in \{1,-1\}. Bây giờ việc kiểm tra rằng Φ\Phi thực sự là g\mathfrak{g}-bất biến là không còn khó khăn (xem Bài tập 18).

(VI) Với x∈gx\in \mathfrak{g}, đa thức đặc trưng của σ(x)\sigma (x) có dạng

T2l+1+f1(x)T2l+f2(x)T2l−1+⋯+f2l+1(x) T^{2l+1}+f_1(x)T^{2l}+f_2(x)T^{2l-1}+\cdots +f_{2l+1}(x)

trong đó f1,...,f2l+1f_1, . . . , f_{2l+1} là các hàm đa thức bất biến trên g\mathfrak{g}.

Nếu x=ξ1H1+⋯+ξlHl∈hx=\xi_1H_1+\cdots +\xi_lH_l\in \mathfrak{h}, thì các fi(x)f_i(x), sai khác một dấu, là các hàm đối xứng sơ cấp của ξ1,...,ξl,−ξ1,...,−ξl\xi_1, . . . , \xi_l,-\xi_1, . . . ,-\xi_l; các hàm đối xứng này bằng không ở các bậc lẻ, và

T2l+1+f2(x)T2l−1+f4(x)T2l−3+⋯+f2l(x)T=T(T2−ξ12)...(T2−ξl2) T^{2l+1}+f_2(x)T^{2l-1}+f_4(x)T^{2l-3}+\cdots +f_{2l}(x)T = T(T^2-\xi_1^2). . .(T^2-\xi^2_l)

do đó f2,...,f2lf_2, . . . , f_{2l}, sai khác một dấu, là các hàm đối xứng sơ cấp của ξ12,...,ξl2\xi_1^2, . . . , \xi_l^2, là các phần tử sinh độc lập đại số của S(h∗)W\mathbf{S}(\mathfrak{h}^*)^W (Chương VI, §4, no. 5.IX). Theo §8, no. 3, Định lý 1 (i), ta thấy rằng f1=f3=f5=⋯=0f_1=f_3=f_5=\cdots = 0 và (f2,f4,...,f2l)(f_2, f_4, . . . , f_{2l}) là một họ tự do đại số sinh ra đại số các hàm đa thức bất biến trên g\mathfrak{g}.

(VII) Vì tự đẳng cấu duy nhất của đồ thị Dynkin là đồng nhất, ta có Aut(g\mathfrak{g}) == Aut0(g)_0(\mathfrak{g}).

Cho Σ\Sigma là nhóm các phép đồng dạng của V đối với Ψ\Psi. Với mọi g∈Σg\in \Sigma, đặt φ(g)\varphi (g) là tự đẳng cấu x→gxg−1x \rightarrow gxg^{-1} của g\mathfrak{g}. Khi đó φ\varphi là một đồng cấu từ Σ\Sigma vào Aut(g\mathfrak{g}). Ta chứng minh rằng nó là toàn ánh. Cho α∈\alpha \in Aut(g\mathfrak{g}) == Aut0(g)_0(\mathfrak{g}). Theo Mệnh đề 2 của §7, no. 1, tồn tại s∈GL(V)s\in \mathbf{G}\mathbf{L}(V) sao cho α(x)=sxs−1\alpha (x) =sxs^{-1} với mọi x∈gx\in \mathfrak{g}. Khi đó ss biến Ψ\Psi thành một dạng song tuyến tính Ψ′\Psi ' trên V bất biến đối với g\mathfrak{g}, và do đó tỉ lệ với Ψ(\Psi (§7, no. 5, Mệnh đề 12). Điều này chứng minh rằng s∈Σs\in \Sigma.

Vì biểu diễn đồng nhất của g\mathfrak{g} là bất khả quy, hoán tập của nó thu gọn về các vô hướng (§6, no. 1, Mệnh đề 1), nên hạt nhân của φ\varphi là k∗k^*. Do đó nhóm Aut(g\mathfrak{g}) == Aut0(g)_0(\mathfrak{g}) có thể được đồng nhất với Σ/k∗\Sigma /k^*. Nhưng, từ Đại số, Chương IX, §6, no. 5 suy ra rằng nhóm Σ\Sigma là tích của các nhóm k∗k^* và SO(Ψ)\mathbf{S}\mathbf{O}(\Psi ); vì vậy Aut(g\mathfrak{g}) == Aut0(g)_0(\mathfrak{g}) có thể được đồng nhất với SO(Ψ)\mathbf{S}\mathbf{O}(\Psi ).

Cho O0+(Ψ)\mathbf{O}^+_0(\Psi ) là nhóm trực giao thu gọn của Ψ(\Psi (Đại số, Chương IX, §9, no. 5). Vì SO(Ψ)/O0+(Ψ)\mathbf{S}\mathbf{O}(\Psi )/\mathbf{O}^+_0(\Psi ) là giao hoán (loc. cit.), nhóm Aute(g)_e(\mathfrak{g}) được chứa trong O0+(Ψ)(\mathbf{O}^+_0(\Psi ) (§11, no. 2, Mệnh đề 3); thực ra, nó bằng nhóm đó (Bài tập 7).

(VIII) Dạng song tuyến tính chính tắc ΦR\Phi_R trên h∗\mathfrak{h}^* được cho bởi

ΦR(ξ1ε1+⋯+ξlεl,ξ′ε1+⋯+ξ′εl)=\Phi_R(\xi_1\varepsilon_1+\cdots +\xi_l\varepsilon_l, \xi '\varepsilon_1+\cdots +\xi '\varepsilon_l) = 1 (ξ1ξ′+⋯+ξlξ′)(\xi_1\xi '+\cdots +\xi_l\xi ')

1l4l−2‾1l ^1l\overline{4l- 2}^1l

(Chương VI, §4, no. 5.V). Đẳng cấu từ h\mathfrak{h} đến h∗\mathfrak{h}^* được xác định bởi ΦR\Phi_R biến HiH_i thành (4l−2).εi(4l-2).\varepsilon_i. Vì vậy, dạng nghịch đảo của ΦR\Phi_R, nghĩa là hạn chế trên h\mathfrak{h} của dạng Killing, là

Φ(ξ1H1+⋯+ξlHl,ξ1′H1+⋯+ξl′Hl)=(4l−2)(ξ1ξ1′+⋯+ξlξl′) \Phi (\xi_1H_1+\cdots +\xi_lH_l, \xi '_1H_1+\cdots +\xi '_lH_l) = (4l-2)(\xi_1\xi '_1+\cdots +\xi_l\xi '_l)

(IX) Nhắc lại Xα(α∈R)X_{\alpha}(\alpha \in R) được xác định bởi các công thức (3). Dễ dàng kiểm tra rằng [Xα,X−α]=−Hα[X_{\alpha}, X_{-\alpha}] =-H_{\alpha} với α∈R\alpha \in R. Mặt khác, cho M là ma trận I+E0,0I+E_{0,0}; vì M=StM−1SM=S^tM^{-1}S, ánh xạ

θ:g→−M−1tgM \theta :g \rightarrow -M^{-1t}gM

là một tự đẳng cấu của g\mathfrak{g} và θ(Xα)=X−α\theta (X_{\alpha}) =X_{-\alpha} với mọi α∈R\alpha \in R. Do đó, (Xα)(X_{\alpha}) là một hệ Chevalley trong (g,h)(\mathfrak{g},\mathfrak{h}).

Giả sử rằng k=Qk=\mathbf{Q}. Đại số con Cartan h\mathfrak{h} có hai dàn khả dĩ: dàn Q(R∨)Q(R^{\vee}) sinh bởi các HαH_{\alpha} và dàn P(R∨)P(R^{\vee}) được sinh bởi các HiH_i và gồm các ma trận đường chéo trong h\mathfrak{h} có các phần tử là số nguyên. Suy ra rằng oS(2l+1,Z)\mathfrak{o}_S(2l+ 1,\mathbf{Z}) (tập hợp các ma trận trong g\mathfrak{g} có các phần tử là số nguyên) là cấp Chevalley P(R∨)+∑Z.XαP(R^{\vee}) +\sum\mathbf{Z}.X_{\alpha} trong g\mathfrak{g}. Vì (X±εi)2=2E±i,∓i,(X±εi)3=0(X_{\pm\varepsilon_i})^2= 2E_{\pm i,\mp i},(X_{\pm\varepsilon_i})^3= 0 và (X±εi±εj)2=0(X_{\pm\varepsilon_i\pm\varepsilon_j})^2= 0, ta thấy rằng dàn V\mathscr{V} được sinh bởi cơ sở Witt (ei)−l≤i≤l(e_i)_{-l\leq i\leq l} là một dàn khả dung cho oS(2l+1,Z)\mathfrak{o}_S(2l+ 1,\mathbf{Z}) trong V. Điều tương tự cũng đúng đối với ⋀rV\bigwedge^r\mathscr{V} trong ⋀rV\bigwedge^rV.

Bây giờ xét biểu diễn spinơ ρ\rho của g\mathfrak{g} trên N=⋀F′N =\bigwedge F'. Vì các trọng của nó không biến P(R∨)P(R^{\vee}) thành Z\mathbf{Z}, nó không có dàn khả dung cho oS(2l+1,Z)\mathfrak{o}_S(2l+ 1,\mathbf{Z}). Mặt khác, dàn N\mathscr{N} được sinh bởi cơ sở chính tắc (e−i1∧⋯∧e−ik)(e_{-i_1}\wedge \cdots \wedge e_{-i_k}) của N (với 1≤i1<⋯<ik≤l1\leq i_1<\cdots < i_k\leq l) là một dàn khả dung cho cấp Chevalley G=Q(R∨)+∑α∈RZ.Xα\mathscr{G}= Q(R^{\vee}) +\sum_{\alpha\in R}\mathbf{Z}.X_{\alpha}. Thật vậy, ngay lập tức thấy rằng N\mathscr{N} ổn định dưới

phép tích ngoài với các e−ie_{-i} và phép tích trong với các eie_i (với 1≤i≤l1\leq i\leq l). Các công thức của (V) khi đó cho thấy rằng N\mathscr{N} ổn định dưới ρ(G)\rho (\mathscr{G}). Hơn nữa, vì ρ(Xα)2=0\rho (X_{\alpha})^2= 0 với mọi α∈R\alpha \in R, suy ra rằng N\mathscr{N} là khả dung.

3. Đại số kiểu cl_{\boldsymbol{l}} (l≥\boldsymbol{l}\geq 1)

(I) Cho Ψ\Psi là một dạng song tuyến tính phản xứng không suy biến trên một không gian vectơ V có số chiều hữu hạn 2l≥22l\geq 2; tập hợp các tự đồng cấu xx của V sao cho Ψ(xv,v′)+Ψ(v,xv′)=0\Psi (xv, v') +\Psi (v, xv') = 0 với mọi v,v′∈Vv, v'\in V là một đại số con Lie nửa đơn của sl(V)\mathfrak{s}\mathfrak{l}(V) (Ch. I, §6, no. 7, Prop. 9). Ta ký hiệu nó bởi sp(Ψ)\mathfrak{s}\mathfrak{p}(\Psi ) và gọi nó là đại số Lie symplectic liên kết với Ψ\Psi.

Theo Đại số, Chương IX, §4, no. 2, V có thể được viết thành tổng trực tiếp của hai không gian con hoàn toàn đẳng hướng cực đại F và F′F', chúng đối ngẫu với nhau đối với Ψ\Psi. Cho (ei)1≤i≤l(e_i)_{1\leq i\leq l} là một cơ sở của F, và (e−i)1≤i≤l(e_{-i})_{1\leq i\leq l} là cơ sở đối ngẫu của F′F'. Khi đó

(e1,...,el,e−l,...,e−1) (e_1, . . . , e_l, e_{-l}, . . . , e_{-1})

là một cơ sở của V; ta nói rằng nó là một cơ sở Witt (hay cơ sở symplectic) của V. Ma trận của Ψ\Psi đối với cơ sở này là ma trận bình phương cấp 2l2l

(0s) (0s)

J=−sJ=-s 0

trong đó ss là ma trận vuông cấp ll mà mọi phần tử đều bằng không, ngoại trừ các phần tử trên đường chéo thứ hai đều bằng 1, xem no. 2.I.

Đại số g=sp(Ψ)\mathfrak{g}=\mathfrak{s}\mathfrak{p}(\Psi ) có thể được đồng nhất với đại số sp(2l,k)\mathfrak{s}\mathfrak{p}(2l, k) gồm các ma trận vuông aa cấp 2l2l sao cho a=−J−1taJ=JtaJ(a=-J^{-1t}aJ=J^taJ(Đại số, Chương IX, §1, no. 10, formulas (50)), tức là có dạng

(AB) (AB)
a=C−stAs a=C-s^tAs

trong đó A,B,CA, B, C là các ma trận vuông cấp ll sao cho B=stBsB=s^tBs và C=C= ctCsc^tCs; nói cách khác, BB và CC đối xứng đối với đường chéo thứ hai. Do đó

dimg=l2+2l(l+1)2=l(2l+1)\mathfrak{g}=l^2+ 2\frac{l(l + 1)}{2}=l(2l+ 1).

Cho h\mathfrak{h} là tập hợp các ma trận đường chéo trong g\mathfrak{g}. Đây là một đại số con giao hoán của g\mathfrak{g}, với cơ sở gồm các phần tử Hi=Ei,i−E−i,−iH_i=E_{i,i}-E_{-i,-i} với 1≤i≤l1\leq i\leq l. Gọi (εi)1≤i≤l(\varepsilon_i)_{1\leq i\leq l} là cơ sở đối ngẫu của (Hi)(H_i). Với 1≤i<j≤l1\leq i < j\leq l, đặt

X2εiX_{2\varepsilon_i} = Ei,−iE_{i,-i}

X−2εiX_{-2\varepsilon_i} = −E−i,i-E_{-i,i}

Xεi−εjX_{\varepsilon_i-\varepsilon_j} = Ei,j−E−j,−iE_{i,j}-E_{-j,-i}

X−εi+εjX_{-\varepsilon_i+\varepsilon_j} = −Ej,i+E−i,−j-E_{j,i}+E_{-i,-j} (6)

Xεi+εjX_{\varepsilon_i+\varepsilon_j} = Ei,−j+Ej,−iE_{i,-j}+E_{j,-i}

X−εi−εjX_{-\varepsilon_i-\varepsilon_j} = −E−i,j−E−j,i-E_{-i,j}-E_{-j,i}.

Dễ dàng kiểm tra rằng các phần tử này tạo thành một cơ sở của một phần bù của h\mathfrak{h} trong g\mathfrak{g} và rằng, với h∈hh\in \mathfrak{h},

[h,Xα]=α(h)Xα(7) [h, X_{\alpha}] =\alpha (h)X_{\alpha} \tag{7}

với mọi α∈R\alpha \in R, trong đó R là tập hợp các ±2εi\pm 2\varepsilon_i và các ±εi±εj(i<j)\pm \varepsilon_i\pm \varepsilon_j(i < j). Do đó h\mathfrak{h} bằng bộ chuẩn hóa của chính nó trong g\mathfrak{g}, và vì thế là một đại số con Cartan của g\mathfrak{g}, h\mathfrak{h} là tách, và các nghiệm của (g,h)(\mathfrak{g},\mathfrak{h}) là các phần tử của R. Hệ nghiệm R của (g,h)(\mathfrak{g},\mathfrak{h}) có kiểu ClC_l với l≥2l\geq 2, và có kiểu A1A_1 (nói cách khác, kiểu C1C_1) với l=1l= 1 (Chap. VI, §4, no. 6.I mở rộng cho trường hợp l=1l= 1). Do đó, g\mathfrak{g} là một đại số Lie đơn tách được kiểu ClC_l.

Mọi đại số con Cartan tách của g\mathfrak{g} đều được biến đổi thành h\mathfrak{h} bởi một tự đẳng cấu sơ cấp, do đó bởi một phần tử của nhóm symplectic Sp(Ψ)\mathbf{S}\mathbf{p}(\Psi ) (xem (VII)), và do đó là tập hợp hβ\mathfrak{h}_{\beta} gồm các phần tử của g\mathfrak{g} mà ma trận của chúng đối với một cơ sở Witt β\beta của g\mathfrak{g} là đường chéo. Ngay lập tức kiểm tra được rằng các không gian vectơ con duy nhất của V ổn định dưới hβ\mathfrak{h}_{\beta} là những không gian được sinh bởi một tập con của β\beta.

Ta có sp(2,k)=sl(2,k)\mathfrak{s}\mathfrak{p}(2, k) =\mathfrak{s}\mathfrak{l}(2, k). Mặt khác, các đại số sp(4,k)\mathfrak{s}\mathfrak{p}(4, k) và oS(5,k)\mathfrak{o}_S(5, k) có cùng hệ nghiệm, và do đó đẳng cấu (xem Bài tập 3). Từ đây về sau, ta giả sử rằng l≥2l\geq 2.

(II) Hệ nghiệm R∨R^{\vee} được xác định theo Chương VI, §4, no. 6.I và 6.V; ta có

H2εi=Hi,Hεi−εj=Hi−Hj,Hεi+εj=Hi+Hj H_{2\varepsilon_i}=H_i, H_{\varepsilon_i-\varepsilon_j}=H_i-H_j, H_{\varepsilon_i+\varepsilon_j}=H_i+H_j

(III) Đặt α1=ε1−ε2,...,αl−1=εl−1−εl,αl=2εl\alpha_1=\varepsilon_1-\varepsilon_2, . . . , \alpha_{l-1}=\varepsilon_{l-1}-\varepsilon_l, \alpha_l= 2\varepsilon_l. Theo Chương VI, §4, no. 6.II, {α1,...,αl}\{\alpha_1, . . . , \alpha_l\} là một cơ sở B của R; các nghiệm dương đối với B là 2εi2\varepsilon_i và εi±εj(i<j)\varepsilon_i\pm \varepsilon_j(i < j). Đại số con Borel tương ứng b\mathfrak{b} là tập hợp các ma trận tam giác trên trong g\mathfrak{g}.

Cho δ\delta là một cờ đẳng hướng trong V (nghĩa là các phần tử của nó đều là các không gian con hoàn toàn đẳng hướng đối với Ψ\Psi), và cho pδ\mathfrak{p}_{\delta} là đại số con gồm các phần tử của g\mathfrak{g} làm cho các phần tử của δ\delta ổn định. Ta chứng minh như trong no. 2.III rằng ánh xạ δ→pδ\delta \rightarrow \mathfrak{p}_{\delta} là một song ánh từ tập hợp các cờ đẳng hướng (resp. các cờ đẳng hướng cực đại) lên tập hợp các đại số con parabolic (resp. Borel) của g\mathfrak{g}; ta có pδ⊃pδ′\mathfrak{p}_{\delta}\supset \mathfrak{p}_{\delta'} khi và chỉ khi δ⊂δ′\delta \subset \delta '.

(IV) Các trọng số cơ bản tương ứng với α1,...,αl\alpha_1, . . . , \alpha_l là, theo Chương VI, §4, no. 6.VI, ϖi=ε1+⋯+εi(1≤i≤l)\varpi_i=\varepsilon_1+\cdots +\varepsilon_i(1\leq i\leq l).

Ta sẽ chỉ ra cách biểu diễn cơ bản σr\sigma_r có trọng số ϖr\varpi_r có thể được thực hiện như một biểu diễn con của ⋀rσ\bigwedge^r\sigma, trong đó σ\sigma là biểu diễn đồng nhất của g\mathfrak{g} trên V, và để làm điều đó ta sẽ nghiên cứu phân tích của biểu diễn ⋀σ\bigwedge\sigma của g\mathfrak{g} trên đại số ngoài ⋀V\bigwedge V.

Gọi (ei∗)(e^*_i) là cơ sở của V∗V^* đối ngẫu với (ei)(e_i). Dạng song tuyến tính phản xứng Ψ\Psi có thể được đồng nhất với một phần tử Γ∗∈⋀2V∗(\Gamma^*\in \bigwedge^2V^*(Đại số, Chương III, §7, no. 4, Prop. 7 and §11, no. 10) và dễ dàng kiểm tra rằng

Γ∗=−∑i=1lei∗∧e−i∗ \Gamma^*=-\sum_{i=1}^le^*_i\wedge e^*_{-i}

Gọi Ψ∗\Psi^* là dạng nghịch đảo của Ψ\Psi (Đại số, Chương IX, §1, no. 7); ngay lập tức có

Ψ∗(ei∗,ej∗)=0 \Psi^*(e^*_i, e^*_j) = 0

với i≠−ji\not=-j và Ψ∗(ei∗,e−i∗)=−1\Psi^*(e^*_i, e^*_{-i}) =-1 với 1≤i≤l1\leq i\leq l. Nếu ta đồng nhất Ψ∗\Psi^* với một phần tử Γ∈⋀2V\Gamma \in \bigwedge^2V, thì

Γ=∑i=1lei∧e−i \Gamma =\sum_{i=1}^le_i\wedge e_{-i}

Ký hiệu X−X_- là tự đồng cấu của ⋀V\bigwedge V cho bởi phép nhân ngoài trái với Γ\Gamma và X+X_+ là tự đồng cấu của ⋀V\bigwedge V cho bởi phép nhân trong trái với −Γ∗:-\Gamma^*:

X−u=(∑i=1lei∧e−i)∧u X_-u=(\sum_{i=1}^le_i\wedge e_{-i})\wedge u
X+u=(∑i=1lei∗∧e−i∗)∧u X_+u=(\sum_{i=1}^le^*_i\wedge e^*_{-i})\wedge u

Để tính X+X_+ và X−X_-, đưa vào một cơ sở của ⋀V\bigwedge V theo cách sau: với mọi bộ ba (A,B,C)(A,B,C) được tạo bởi ba tập con rời nhau của 1,l1, l, đặt

eA,B,C=ea1∧⋯∧eam∧e−b1∧⋯∧e−bn∧ec1∧e−c1∧⋯∧ecp∧e−cp e_{A,B,C}=e_{a_1}\wedge \cdots \wedge e_{a_m}\wedge e_{-b_1}\wedge \cdots \wedge e_{-b_n}\wedge e_{c_1}\wedge e_{-c_1}\wedge \cdots \wedge e_{c_p}\wedge e_{-c_p}

trong đó (a1,...,am)(a_1, . . . , a_m) (tương ứng (b1,...,bn),(c1,...,cp)(b_1, . . . , b_n),(c_1, . . . , c_p)) là các phần tử của A (tương ứng B,CB,C) được sắp xếp theo thứ tự tăng. Ta thu được theo cách này một cơ sở của ⋀V\bigwedge V và các phép tính đơn giản cho thấy rằng

X−.eA,B,C=∑eA,B,C∪{j}(8) X_-.e_{A,B,C}=\sum e_{A,B,C\cup \{j\}} \tag{8}
j∈1,l,j∉A∪B∪Cj\in 1,l ,j \notin A\cup B\cup C
X+.eA,B,C=−∑j∈CeA,B,C−{j}(9) X_+.e_{A,B,C}=-\sum_{j\in C}e_{A,B,C-\{j\}} \tag{9}

Gọi HH là tự đồng cấu của ⋀V\bigwedge V thu gọn thành phép nhân với (l−r)(l-r) trên ⋀rV(0≤r≤2l)\bigwedge^rV (0\leq r\leq 2l). Không khó để kiểm tra (xem Bài tập 19) rằng

[X+,X−]=−H [X_+, X_-] =-H
[H,X+]=2X+ [H, X_+] = 2X_+
[H,X−]=−2X− [H, X_-] =-2X_-

Nói cách khác, không gian con vectơ s\mathfrak{s} sinh bởi X+,X−X_+, X_- và HH là một đại số Lie con của End(⋀V\bigwedge V), đẳng cấu với sl(2,k)\mathfrak{s}\mathfrak{l}(2, k), và ⋀rV\bigwedge^rV là không gian con của các phần tử có trọng số l−rl-r. Ký hiệu ErE_r là không gian con của ⋀rV\bigwedge^rV gồm các phần tử nguyên thủy, nghĩa là, Er=(⋀rV)∩E_r= (\bigwedge^rV)\cap KerX+X_+. Suy ra từ §1 rằng, với r<lr < l, hạn chế của X−X_- trên ⋀rV\bigwedge^rV là đơn ánh và rằng, với r≤lr\leq l, ⋀rV\bigwedge^rV phân tích thành một tổng trực tiếp

⋀rV=Er⊕X−(Er−2)⊕X−2(Er−4)⊕⋯ \bigwedge^rV = E_r\oplus X_-(E_{r-2})\oplus X_-^2(E_{r-4})\oplus \cdots
=Er⊕X−(⋀r−2V) = E_r\oplus X_-(\bigwedge^{r-2}V)

Điều này đặc biệt cho thấy rằng dim Er=(r2l)−(r−22l)E_r=(^{2l}_r)-(_{r-2}^{2l}) với 0≤r≤l0\leq r\leq l.

Mặt khác, chính định nghĩa của sp(Ψ)\mathfrak{s}\mathfrak{p}(\Psi ) cho thấy rằng Γ∗\Gamma^* bị triệt tiêu bởi lũy thừa ngoại thứ hai của đối ngẫu của σ\sigma. Tương tự, Γ\Gamma bị triệt tiêu bởi ⋀2σ\bigwedge^2\sigma. Do đó, ngay lập tức suy ra rằng X+X_+ và X−X_-, và do đó cả HH, giao hoán với các tự đồng cấu ⋀σ(g)\bigwedge\sigma (g) với g∈gg\in \mathfrak{g}. Do đó, các không gian con ErE_r với 0≤r≤l0\leq r\leq l ổn định dưới ⋀rσ\bigwedge^r\sigma; ta sẽ chứng minh rằng hạn chế của ⋀rσ\bigwedge^r\sigma trên ErE_r là một biểu diễn cơ bản σr\sigma_r có trọng số ϖr(1≤r≤l)\varpi_r(1\leq r\leq l).

Trước hết, ta nhận xét rằng các trọng số của ⋀rσ\bigwedge^r\sigma đối với h\mathfrak{h} là

εi1+⋯+εik−(εj1+⋯+εjr−k) \varepsilon_{i_1}+\cdots +\varepsilon_{i_k}-(\varepsilon_{j_1}+\cdots +\varepsilon_{j_{r-k}})

trong đó i1,...,iki_1, . . . , i_k (tương ứng j1,...,jr−kj_1, . . . , j_{r-k}) là các phần tử phân biệt của 1,l1, l; do đó, trọng số cao nhất của ⋀rσ\bigwedge^r\sigma thực sự là

ϖr=ε1+⋯+εr \varpi_r=\varepsilon_1+\cdots +\varepsilon_r

và các vectơ có trọng số ϖ‾r\overline{\varpi}_r là những vectơ tỉ lệ với e1∧⋯∧er=e{1,…,r},∅,∅e_1\wedge\cdots\wedge e_r=e_{\{1,\ldots,r\},\varnothing,\varnothing}. Công thức (9) cho thấy rằng e1∧⋯∧er∈Ere_1\wedge\cdots\wedge e_r\in E_r. Do đó, chỉ cần chứng minh rằng hạn chế của ⋀rσ\bigwedge^r\sigma trên ErE_r là bất khả quy.

Nếu s∈Sp(Ψ)s\in\mathbf{Sp}(\Psi), mở rộng của ss lên ⋀V\bigwedge V (tương ứng ⋀V∗\bigwedge V^*) giữ cố định Γ\Gamma (tương ứng Γ∗\Gamma^*), và do đó giao hoán với X+X_+ và X−X_- và giữ ErE_r ổn định. Do đó, ErE_r chứa không gian vectơ con FrF_r sinh bởi các ảnh của e1∧⋯∧ere_1\wedge\cdots\wedge e_r qua Sp(Ψ)\mathbf{Sp}(\Psi). Định lý Witt cho thấy rằng đó là các rr-vectơ phân tích được khác không sao cho không gian vectơ con tương ứng của VV là một không gian con hoàn toàn đẳng hướng, các rr-vectơ mà ta sẽ gọi là đẳng hướng.

Bổ đề 2 01K8

Với 1≤r≤ℓ1\leq r\leq\ell, cho FrF_r là không gian con của ⋀rV\bigwedge^r V sinh bởi các rr-vectơ đẳng hướng. Khi đó

⋀rV=Fr+X−(⋀r−2V)=Fr+(∑i=1ℓei∧e−i)∧⋀r−2V. \bigwedge^r V=F_r+X_-\left(\bigwedge^{r-2}V\right) =F_r+\left(\sum_{i=1}^{\ell}e_i\wedge e_{-i}\right)\wedge\bigwedge^{r-2}V.

Trước hết ta chứng minh cách Bổ đề 2 suy ra mệnh đề của ta. Vì Fr⊂ErF_r\subset E_r và Er∩X−(⋀r−2V)={0}E_r\cap X_-\left(\bigwedge^{r-2}V\right)=\{0\}, bổ đề suy ra rằng Fr=ErF_r=E_r. Mặt khác, cho s∈Sp(Ψ)s\in\mathbf{Sp}(\Psi); tự đẳng cấu a↦sas−1a\mapsto sas^{-1} của End⁡(V)\operatorname{End}(V) bảo toàn g\mathfrak{g} và cảm sinh trên nó một phần tử của Aut⁡0(g)\operatorname{Aut}_0(\mathfrak{g}) (xem (§7, no. 1, Mệnh đề 2), và do đó biến mọi biểu diễn bất khả quy của g\mathfrak{g} thành một biểu diễn tương đương (§7, no. 1, Mệnh đề 2). Vì e1∧⋯∧ere_1\wedge\cdots\wedge e_r thuộc một thành phần bất khả quy của ⋀rσ\bigwedge^r\sigma, và vì Er=FrE_r=F_r được sinh bởi các ảnh của e1∧⋯∧ere_1\wedge\cdots\wedge e_r qua Sp(Ψ)\mathbf{Sp}(\Psi), suy ra biểu diễn của g\mathfrak{g} trên ErE_r là đẳng kiểu. Nhưng bội số của trọng số cao nhất của nó ϖ‾r\overline{\varpi}_r là 11, do đó nó là bất khả quy.

Còn lại là chứng minh bổ đề. Điều này hiển nhiên đối với r=1r=1. Ta lập luận bằng quy nạp, và giả sử rằng r≥2r\geq 2. Theo giả thiết quy nạp, ta quy về việc chứng minh rằng

Fr−1∧V⊂Fr+Γ∧⋀r−2V, F_{r-1}\wedge V\subset F_r+\Gamma\wedge\bigwedge^{r-2}V,

hay rằng, nếu yy là một (r−1)(r-1)-vectơ phân tích được và x∈Vx\in V, thì

z=y∧x∈Fr+Γ∧⋀r−2V. z=y\wedge x\in F_r+\Gamma\wedge\bigwedge^{r-2}V.

Cho (fi)1≤±i≤ℓ(f_i)_{1\leq\pm i\leq\ell} là một cơ sở Witt của VV sao cho y=f1∧⋯∧fr−1y=f_1\wedge\cdots\wedge f_{r-1}. Chỉ cần thực hiện chứng minh khi x=fix=f_i. Nếu i∉[1−r,−1]i\notin[1-r,-1], rr-vectơ f1∧⋯∧fr−1∧fif_1\wedge\cdots\wedge f_{r-1}\wedge f_i là đẳng hướng. Ngược lại, ta có thể giả sử, bằng cách đánh lại số các fif_i nếu cần, rằng i=1−ri=1-r. Khi đó Γ=∑j=1ℓfj∧f−j\Gamma=\displaystyle\sum_{j=1}^{\ell}f_j\wedge f_{-j}, do đó

fr−1∧f1−r=1ℓ−r+2(Γ−∑i=1r−2fi∧f−i+∑j=rℓ(fr−1∧f1−r−fj∧f−j)), f_{r-1}\wedge f_{1-r} = \frac{1}{\ell-r+2} \left( \Gamma-\sum_{i=1}^{r-2}f_i\wedge f_{-i} +\sum_{j=r}^{\ell}(f_{r-1}\wedge f_{1-r}-f_j\wedge f_{-j}) \right),
z=1ℓ−r+2Γ∧f1∧⋯∧fr−2+1ℓ−r+2∑j=rℓ(f1∧⋯∧fr−2)∧(fr−1∧f1−r−fj∧f−j). z= \frac{1}{\ell-r+2}\Gamma\wedge f_1\wedge\cdots\wedge f_{r-2} + \frac{1}{\ell-r+2}\sum_{j=r}^{\ell} (f_1\wedge\cdots\wedge f_{r-2})\wedge (f_{r-1}\wedge f_{1-r}-f_j\wedge f_{-j}).

Nhưng

fr−1∧f1−r−fj∧f−j=(fr−1+fj)∧(f1−r−f−j)−fj∧f1−r+fr−1∧f−j f_{r-1}\wedge f_{1-r}-f_j\wedge f_{-j}= (f_{r-1}+f_j)\wedge (f_{1-r}-f_{-j})-f_j\wedge f_{1-r}+f_{r-1}\wedge f_{-j}

và ta kiểm tra ngay lập tức rằng các rr-vectơ

f1∧⋯∧fr−2∧(fr−1+fj)∧(f1−r−f−j) f_1\wedge \cdots \wedge f_{r-2}\wedge (f_{r-1}+f_j)\wedge (f_{1-r}-f_{-j})

f1∧⋯∧fr−2∧fj∧f1−rf_1\wedge \cdots \wedge f_{r-2}\wedge f_j\wedge f_{1-r} và f1∧⋯∧fr−1∧f−jf_1\wedge \cdots \wedge f_{r-1}\wedge f_{-j}

là đẳng hướng đối với r≤j≤lr\leq j\leq l. Do đó, z∈Fr+Γ∧⋀r−2Vz\in F_r+\Gamma \wedge \bigwedge^{r-2}V, điều này hoàn tất chứng minh.

(V) Ta có w0=−1w_0=-1, do đó mọi biểu diễn đơn hữu hạn chiều của g\mathfrak{g} đều là trực giao hoặc symplectic. Theo Chương VI, §4, no. 6.VI, tổng các tọa độ của ϖr\varpi_r đối với (α1,...,αl)(\alpha_1, . . . , \alpha_l) là

r r
1+2+⋯+(r−1)+r+r+⋯+r+ 1 + 2 +\cdots + (r-1) +r+r+\cdots +r+

2

do đó σr\sigma_r là trực giao đối với rr chẵn và symplectic đối với rr lẻ.

Vì e1∧⋯∧ere_1\wedge \cdots \wedge e_r và e−1∧⋯∧e−re_{-1}\wedge \cdots \wedge e_{-r} thuộc ErE_r và vì

Ψ(r)(e1∧⋯∧er,e−1∧⋯∧e−r)=1 \Psi_{(r)}(e_1\wedge \cdots \wedge e_r, e_{-1}\wedge \cdots \wedge e_{-r}) = 1

ta thấy rằng hạn chế của Ψ(r)\Psi_{(r)} trên ErE_r là khác không: nó, sai khác một nhân tử hằng, chính là dạng song tuyến tính; nó đối xứng nếu rr chẵn, phản xứng nếu rr lẻ, và bất biến dưới σr\sigma_r.

(VI) Với mọi x∈gx\in \mathfrak{g}, đa thức đặc trưng của σ(x)\sigma (x) có dạng

T2l+f1(x)T2l−1+⋯+f2l(x) T^{2l}+f_1(x)T^{2l-1}+\cdots +f_{2l}(x)

trong đó f1,...,f2lf_1, . . . , f_{2l} là các hàm đa thức bất biến trên g\mathfrak{g}.

Nếu x=ξ1H1+⋯+ξlHl∈hx=\xi_1H_1+\cdots +\xi_lH_l\in \mathfrak{h}, thì fi(x)f_i(x), sai khác dấu, là các hàm đối xứng sơ cấp của ξ1,...,ξl,−ξ1,...,−ξl\xi_1, . . . , \xi_l,-\xi_1, . . . ,-\xi_l; các hàm đối xứng này bằng không ở các bậc lẻ, và

T2l+f2(x)T2l−2+⋯+f2l(x)=(T2−ξ12)...(T2−ξl2) T^{2l}+f_2(x)T^{2l-2}+\cdots +f_{2l}(x) = (T^2-\xi_1^2). . .(T^2-\xi^2_l)

Như trong no. 2.VI, suy ra rằng f1=f3=f5=⋯=0f_1=f_3=f_5=\cdots = 0, và

(f2,f4,...,f2l) (f_2, f_4, . . . , f_{2l})

là một họ tự do đại số sinh đại số các hàm đa thức bất biến trên g\mathfrak{g}.

(VII) Vì tự đẳng cấu duy nhất của đồ thị Dynkin là đồng nhất, ta có Aut(g\mathfrak{g}) == Aut0(g)_0(\mathfrak{g}).

Gọi Σ\Sigma là nhóm các phép đồng dạng của V đối với Ψ(\Psi (Đại số, Chap. IX, §6, end of no. 5). Ta chứng minh như trong no. 2.VII rằng các tự đẳng cấu của g\mathfrak{g} là các ánh xạ x→sxs−1x \rightarrow sxs^{-1} với s∈Σs\in \Sigma, do đó Aut(g\mathfrak{g}) == Aut0(g)_0(\mathfrak{g}) có thể được đồng nhất với Σ/k∗\Sigma /k^*.

Với mọi s∈Σs\in \Sigma, gọi μ(s)\mu(s) là nhân tử của ss. Ánh xạ s→μ(s)s \rightarrow \mu(s) mod k∗2k^{*2} từ Σ\Sigma vào k∗/k∗2k^*/k^{*2} là một đồng cấu có hạt nhân chứa k∗.1k^*.1, và do đó cho một đồng cấu λ\lambda từ Σ/k∗\Sigma /k^* vào k∗/k∗2k^*/k^{*2}. Ta có Sp(Ψ)∩k∗={1,−1}\mathbf{S}\mathbf{p}(\Psi )\cap k^*=\{1,-1\}. Xét dãy các đồng cấu

1 ⟶Sp(Ψ)/{1,−1}⟶ιΣ/k∗⟶λk∗/k∗2⟶1\longrightarrow \mathbf{S}\mathbf{p}(\Psi )/\{1,-1\}\longrightarrow^{\iota}\Sigma /k^*\longrightarrow^{\lambda}k^*/k^{*2}\longrightarrow 1. (10) Ánh xạ ι\iota là đơn ánh, và Im(ι\iota )⊂\subset Kerλ\lambda vì nhân tử của một phần tử của Sp(Ψ)\mathbf{S}\mathbf{p}(\Psi ) là 1. Nếu nhân tử của s∈Σs\in \Sigma là một phần tử của k∗2k^{*2}, tồn tại ν∈k∗\nu \in k^* sao cho νs∈Sp(Ψ)\nu s\in \mathbf{S}\mathbf{p}(\Psi ); do đó, Im(ι\iota ) == Ker(λ\lambda ). Tóm lại, dãy (10) là khớp. Ta đồng nhất Sp(Ψ)/{1,−1}\mathbf{S}\mathbf{p}(\Psi )/\{1,-1\} với một nhóm con của Σ/k∗\Sigma /k^*. Vì k∗/k∗2k^*/k^{*2} là giao hoán, Sp(Ψ)/{1,−1}\mathbf{S}\mathbf{p}(\Psi )/\{1,-1\} chứa nhóm dẫn xuất của Σ/k∗\Sigma /k^*. Do đó, Aute(g)_e(\mathfrak{g}) được chứa trong Sp(Ψ)/{1,−1}(\mathbf{S}\mathbf{p}(\Psi )/\{1,-1\}(§11, no. 2, Mệnh đề 3). Thực ra, nó bằng nhóm này, và Aut(g\mathfrak{g})//Aute(g)_e(\mathfrak{g}) được đồng nhất với k∗/k∗2k^*/k^{*2} (Bài tập 9).

(VIII) Dạng song tuyến tính chính tắc ΦR\Phi_R trên h∗\mathfrak{h}^* được cho bởi

ΦR(ξ1ε1+⋯+ξlεl,ξ1′ε1+⋯+ξl′εl)=14(l+1)(ξ1ξ1′+⋯+ξlξl′) \Phi_R(\xi_1\varepsilon_1+\cdots +\xi_l\varepsilon_l, \xi '_1\varepsilon_1+\cdots +\xi '_l\varepsilon_l) =\frac{1}{4(l + 1)}(\xi_1\xi '_1+\cdots +\xi_l\xi '_l)

(Chương VI, §4, no. 6.V). Do đó, dạng nghịch đảo của ΦR\Phi_R, tức là hạn chế của dạng Killing lên h\mathfrak{h}, là

Φ(ξ1H1+⋯+ξlHl,ξ1′H1+⋯+ξl′Hl)=4(l+1)(ξ1ξ1′+⋯+ξlξl′) \Phi (\xi_1H_1+\cdots +\xi_lH_l, \xi '_1H_1+\cdots +\xi '_lH_l) = 4(l+ 1)(\xi_1\xi '_1+\cdots +\xi_l\xi '_l)

(IX) Nhắc lại các XαX_{\alpha} được xác định bởi các công thức (6)(α∈R)(6) (\alpha \in R). Dễ dàng kiểm tra rằng [Xα,X−α]=−Hα[X_{\alpha}, X_{-\alpha}] =-H_{\alpha} với α∈R\alpha \in R. Mặt khác, ánh xạ θ:a→−ta\theta :a \rightarrow -^ta là một tự đẳng cấu của g\mathfrak{g} và θ(Xα)=X−α\theta (X_{\alpha}) =X_{-\alpha} với mọi α∈R\alpha \in R. Do đó, (Xα)α∈R(X_{\alpha})_{\alpha\in R} là một hệ Chevalley trong (g,h)(\mathfrak{g},\mathfrak{h}).

Giả sử rằng k=Qk=\mathbf{Q}. Đại số con Cartan h\mathfrak{h} có hai dàn khả dụng Q(R∨)=∑i=1lZ.HiQ(R^{\vee}) =\sum_{i=1}^l\mathbf{Z}.H_i và P(R∨)=Q(R∨)+12Z.∑i=1lHiP(R^{\vee}) = Q(R^{\vee}) +\frac{1}{2}\mathbf{Z}.\sum_{i=1}^lH_i (Chương VI, §4,

no. 5.VIII). Ta thấy rằng Q(R∨)Q(R^{\vee}) là tập hợp các ma trận có các phần tử là số nguyên thuộc h\mathfrak{h}. Suy ra cấp Chevalley Q(R∨)+∑α∈RZ.XαQ(R^{\vee}) +\sum_{\alpha\in R}\mathbf{Z}.X_{\alpha} là tập hợp sp(2l,Z)\mathfrak{s}\mathfrak{p}(2l,\mathbf{Z}) gồm các ma trận trong g\mathfrak{g} có các phần tử là số nguyên.

Xét đại số Lie khả quy sp(Ψ)+Q.1\mathfrak{s}\mathfrak{p}(\Psi ) +\mathbf{Q}.1. Dễ thấy rằng tập hợp các phần tử của nó có các phần tử là số nguyên là một cấp Chevalley, mà phép chiếu của nó lên sp(Ψ)\mathfrak{s}\mathfrak{p}(\Psi ) song song với Q.1\mathbf{Q}.1 là cấp Chevalley P(R∨)+∑Z.XαP(R^{\vee}) +\sum\mathbf{Z}.X_{\alpha}.

Cuối cùng, Xα2=0X_{\alpha}^2= 0 với mọi α∈R\alpha \in R. Suy ra rằng dàn V\mathscr{V} trong V sinh bởi các eie_i là khả dụng đối với cấp Chevalley sp(2l,Z)\mathfrak{s}\mathfrak{p}(2l,\mathbf{Z}). Điều tương tự cũng đúng đối với dàn Er∩⋀rVE_r\cap \bigwedge^r\mathscr{V} trong ErE_r.

Cuối cùng, ErE_r có một dàn khả chấp nhận được đối với cấp Chevalley

P(R∨)+∑Z.Xα P(R^{\vee}) +\sum\mathbf{Z}.X_{\alpha}

chỉ khi rr chẵn; khi đó Er∩⋀rVE_r\cap \bigwedge^r\mathscr{V} là một dàn như vậy.

4. Đại số kiểu Dl\boldsymbol{D}_{\boldsymbol{l}} (l≥\boldsymbol{l}\geq 2)

(I) Cho V là một không gian vectơ có chiều chẵn 2l≥42l\geq 4 và Ψ\Psi là một dạng song tuyến tính đối xứng không suy biến có chỉ số cực đại ll trên V. Theo Đại số, Chap. IX, §4, no. 2, V có thể viết thành tổng trực tiếp của hai không gian con hoàn toàn đẳng hướng cực đại F và F′F'. Gọi (ei)1≤i≤l(e_i)_{1\leq i\leq l} là một cơ sở của F và (e−i)1≤i≤l(e_{-i})_{1\leq i\leq l} là cơ sở đối ngẫu của F′F' (đối với song đối ngẫu giữa F và F′F' xác định bởi Ψ\Psi ). Khi đó e1,...,el,e−l,...,e−1e_1, . . . , e_l, e_{-l}, . . . , e_{-1} là một cơ sở của V; ta sẽ gọi nó là một cơ sở Witt của V. Ma trận của Ψ\Psi đối với cơ sở này là ma trận vuông S cấp 2l2l, tất cả các phần tử của nó đều bằng không, ngoại trừ những phần tử nằm trên đường chéo thứ hai, bằng 1. Đại số g=o(Ψ)\mathfrak{g}=\mathfrak{o}(\Psi ) có thể được đồng nhất với đại số oS(2l,k)\mathfrak{o}_S(2l, k) gồm các ma trận vuông gg cấp 2l2l sao cho g=−StgSg=-S^tgS. Nó có chiều l(2l−1)l(2l-1). Một phép tính dễ dàng cho thấy g\mathfrak{g} là tập hợp các ma trận có dạng

(AB) (AB)
CD CD

trong đó A,B,C,DA, B, C, D là các ma trận vuông cấp ll sao cho B=−stBs,C=B=-s^tBs, C= −stCs-s^tCs và D=−stAs(sD=-s^tAs(s là ma trận cấp ll mà tất cả các phần tử đều bằng không, ngoại trừ những phần tử nằm trên đường chéo thứ hai, bằng 1).

Gọi h\mathfrak{h} là tập hợp các ma trận đường chéo thuộc g\mathfrak{g}. Đây là một đại số con giao hoán của g\mathfrak{g}, với cơ sở gồm các phần tử Hi=Ei,i−E−i,−iH_i=E_{i,i}-E_{-i,-i} với 1≤i≤l1\leq i\leq l. Gọi (εi)(\varepsilon_i) là cơ sở của h∗\mathfrak{h}^* đối ngẫu với (Hi)(H_i). Đặt, với 1≤i<j≤l1\leq i < j\leq l,

Xεi−εjX_{\varepsilon_i-\varepsilon_j} = Ei,j−E−j,−iE_{i,j}-E_{-j,-i}

X−εi+εjX_{-\varepsilon_i+\varepsilon_j} = −Ej,i+E−i,−j-E_{j,i}+E_{-i,-j}

Xεi+εjX_{\varepsilon_i+\varepsilon_j} = Ei,−j−Ej,−iE_{i,-j}-E_{j,-i} (11)

X−εi−εjX_{-\varepsilon_i-\varepsilon_j} = −E−j,i+E−i,j-E_{-j,i}+E_{-i,j}.

Các phần tử này tạo thành một cơ sở của một phần bù của h\mathfrak{h} trong g\mathfrak{g}. Với h∈hh\in \mathfrak{h},

[h,Xα]=α(h)Xα [h, X_{\alpha}] =\alpha (h)X_{\alpha}

với mọi α∈R\alpha \in R, trong đó R là tập hợp các ±εi±εj(i<j)\pm \varepsilon_i\pm \varepsilon_j(i < j). Do đó, h\mathfrak{h} là một đại số con Cartan tách của g\mathfrak{g}, và các nghiệm của (g,h)(\mathfrak{g},\mathfrak{h}) là các phần tử của R. Hệ nghiệm R của (g,h)(\mathfrak{g},\mathfrak{h}) do đó có kiểu DlD_l với l≥3l\geq 3, có kiểu A1×A1A_1\times A_1 (nói cách khác là kiểu D2D_2) với l=2l= 2 (Chương VI, §4, no. 8.I mở rộng cho trường hợp l=2l= 2). Do đó, g\mathfrak{g} là một đại số Lie đơn tách được kiểu DlD_l nếu l≥3l\geq 3.

Mọi đại số con Cartan tách của g\mathfrak{g} đều được biến đổi thành h\mathfrak{h} bởi một tự đẳng cấu sơ cấp của g\mathfrak{g}, và do đó bởi một phần tử của O(Ψ)\mathbf{O}(\Psi ) (xem (VII)) và do đó là tập hợp hβ\mathfrak{h}_{\beta} của các phần tử của g\mathfrak{g} mà ma trận của chúng đối với một cơ sở Witt β\beta của V là đường chéo. Ta kiểm tra ngay lập tức rằng các không gian con duy nhất bất biến dưới hβ\mathfrak{h}_{\beta} là các không gian được sinh bởi một tập con của β\beta.

Vì các đại số oS(4,k)\mathfrak{o}_S(4, k) và sl(2,k)×sl(2,k)\mathfrak{s}\mathfrak{l}(2, k)\times \mathfrak{s}\mathfrak{l}(2, k) có cùng các hệ nghiệm, nên chúng đẳng cấu. Tương tự, oS(6,k)\mathfrak{o}_S(6, k) và sl(4,k)\mathfrak{s}\mathfrak{l}(4, k) đẳng cấu (xem thêm Bài tập 3). Từ nay, ta giả sử rằng l≥3l\geq 3. (II) Ta xác định R∨R^{\vee} bằng cách dùng Chương VI, §4, no. 8.V. Ta tìm được rằng

Hεi−εj=Hi−Hj,Hεi+εj=Hi+Hj H_{\varepsilon_i-\varepsilon_j}=H_i-H_j,H_{\varepsilon_i+\varepsilon_j}=H_i+H_j

(III) Đặt α1=ε1−ε2,α2=ε2−ε3,...,αl−1=εl−1−εl,αl=εl−1+εl\alpha_1=\varepsilon_1-\varepsilon_2, \alpha_2=\varepsilon_2-\varepsilon_3, . . . , \alpha_{l-1}=\varepsilon_{l-1}-\varepsilon_l, \alpha_l=\varepsilon_{l-1}+\varepsilon_l. Theo Chương VI, §4, no. 8.II, (α1,...,αl)(\alpha_1, . . . , \alpha_l) là một cơ sở B của R; các nghiệm dương tương ứng với B là các εi±εj(i<j)\varepsilon_i\pm \varepsilon_j(i < j). Đại số con Borel tương ứng b\mathfrak{b} là tập hợp các ma trận tam giác trên thuộc g\mathfrak{g}.

Dễ dàng kiểm tra rằng các không gian con vectơ không tầm thường duy nhất bất biến dưới b\mathfrak{b} là các không gian con đẳng hướng hoàn toàn V1,...,Vl,Vl′V_1, . . . ,V_l,V'_l, trong đó ViV_i được sinh bởi e1,...,eie_1, . . . , e_i và Vl′V'_l bởi e1,...,el−1,e−le_1, . . . , e_{l-1}, e_{-l}, và các không gian trực giao V−1,...,V−l+1V_{-1}, . . . ,V_{-l+1} của V1,...,Vl−1V_1, . . . ,V_{l-1}; không gian trực giao V−iV_{-i} của ViV_i được sinh bởi e1,...,el,e−l,...,e−(i+1)e_1, . . . , e_l, e_{-l}, . . . , e_{-(i+1)}. Nhưng một tính toán ngay lập tức cho thấy rằng, nếu một phần tử a∈ga\in \mathfrak{g} giữ ổn định Vl−1V_{l-1}, ma trận của nó có dạng

AxB AxB

(λ(\lambda 0 ))

0 0 −λy-\lambda y

0 0 DD

trong đó A,B,DA, B, D là các ma trận vuông cấp l−1,xl-1,x (resp. yy) là một ma trận có 2 cột và l−1l-1 hàng (resp. 2 hàng và l−1l-1 cột), và λ∈k\lambda \in k. Suy ra rằng aa giữ ổn định VlV_l và Vl′V'_l. Do đó, b\mathfrak{b} là tập hợp các a∈ga\in \mathfrak{g} giữ ổn định mọi phần tử của cờ đẳng hướng (V1,...,Vl−1)(V_1, . . . ,V_{l-1}). Chú ý rằng điều vừa nêu và định lý Witt (Đại số, Chap. IX, §4, no. 3, Th. 1) suy ra rằng VlV_l và Vl′V'_l là các không gian con đẳng hướng toàn phần cực đại duy nhất chứa Vl−1V_{l-1}.

Ta nói rằng một cờ đẳng hướng là gần cực đại nếu nó gồm l−1l-1 không gian con đẳng hướng toàn phần có các chiều lần lượt là 1,...,l−11, . . . , l-1. Khi đó, như trong no. 2, ta thấy rằng, với mọi cờ đẳng hướng gần cực đại δ\delta, tập hợp bδ\mathfrak{b}_{\delta} gồm các a∈ga\in \mathfrak{g} giữ ổn định các phần tử của δ\delta là một đại số con Borel của g\mathfrak{g} và ánh xạ δ→bδ\delta \rightarrow \mathfrak{b}_{\delta} là một song ánh từ tập hợp các cờ đẳng hướng gần cực đại lên tập hợp các đại số con Borel.

Ta nói rằng một cờ đẳng hướng là thực sự nếu nó không chứa đồng thời một không gian con có chiều ll và một không gian con có chiều l−1l-1. Cho δ\delta là một cờ đẳng hướng như vậy và gọi pδ\mathfrak{p}_{\delta} là tập hợp các a∈ga\in \mathfrak{g} giữ ổn định các phần tử của δ\delta. Nếu δ⊂{V1,...,Vl,Vl′}\delta \subset \{V_1, . . . ,V_l,V'_l\}, thì pδ\mathfrak{p}_{\delta} là một đại số con parabolic của g\mathfrak{g}, chứa b\mathfrak{b}, và dễ dàng kiểm tra rằng các không gian con đẳng hướng toàn phần ≠{0}\not=\{0\} duy nhất ổn định dưới pδ\mathfrak{p}_{\delta} là các phần tử của δ\delta. Vì có 2l−22^{l-2} cờ đẳng hướng thực sự chứa trong {V1,...,Vl,Vl′}\{V_1, . . . ,V_l,V'_l\} và chứa Vl−1V_{l-1} (resp. VlV_l, resp. Vl′V'_l, resp. chứa cả Vl−1V_{l-1}, VlV_l, Vl′V'_l), nên điều này cho 2l2^l đại số con parabolic chứa b\mathfrak{b}. Suy ra như trên rằng ánh xạ δ→pδ\delta \rightarrow \mathfrak{p}_{\delta} là một song ánh từ tập hợp các cờ đẳng hướng thực sự lên tập hợp các đại số con parabolic của g\mathfrak{g}.

(IV) Các trọng số cơ bản tương ứng với α1,...,αl\alpha_1, . . . , \alpha_l là, theo Chap. VI, §4, no. 8.VI,

ϖi=ε1+ε2+⋯+εi(1≤i≤l−2) \varpi_i=\varepsilon_1+\varepsilon_2+\cdots +\varepsilon_i(1\leq i\leq l-2)
ϖl−1=12(ε1+ε2+...+εl−2+εl−1−εl) \varpi_{l-1}=\frac{1}{2}(\varepsilon_1+\varepsilon_2+. . .+\varepsilon_{l-2}+\varepsilon_{l-1}-\varepsilon_l)
ϖl=12(ε1+ε2+...+εl−2+εl−1+εl) \varpi_l=\frac{1}{2}(\varepsilon_1+\varepsilon_2+. . .+\varepsilon_{l-2}+\varepsilon_{l-1}+\varepsilon_l)

Cho σ\sigma là biểu diễn đồng nhất của g\mathfrak{g} trên V. Lũy thừa ngoài ⋀rσ\bigwedge^r\sigma tác động trên E=⋀r(V)E =\bigwedge^r(V). Nếu h∈hh\in \mathfrak{h}, ta có

σ(h)ei=εi(h)ei,σ(h)e−i=−εi(h)e−i \sigma (h)e_i=\varepsilon_i(h)e_i,\sigma (h)e_{-i}=-\varepsilon_i(h)e_{-i}

for 1≤i≤l1\leq i\leq l. Do đó, với 1≤r≤l,ε1+⋯+εr1\leq r\leq l,\varepsilon_1+\cdots +\varepsilon_r là trọng số cao nhất của ⋀rσ\bigwedge^r\sigma, các phần tử có trọng số ε1+⋯+εr\varepsilon_1+\cdots +\varepsilon_r là những phần tử tỉ lệ với e1∧⋯∧ere_1\wedge \cdots \wedge e_r.

Ta sẽ chứng minh rằng, với 1≤r≤l−21\leq r\leq l-2, biểu diễn ⋀rσ\bigwedge^r\sigma là một biểu diễn cơ bản có trọng số ϖr\varpi_r.

Để làm điều này, chỉ cần chứng minh rằng ⋀rσ\bigwedge^r\sigma là bất khả quy với 1≤r≤l−11\leq r\leq l-1 (chú ý rằng biểu diễn ⋀lσ\bigwedge^l\sigma không bất khả quy, xem Bài tập 10), hay rằng không gian con nhỏ nhất TrT_r của ⋀rV\bigwedge^rV chứa e1∧⋯∧ere_1\wedge \cdots \wedge e_r và ổn định dưới g\mathfrak{g} là toàn bộ ⋀rV\bigwedge^rV. Điều này ngay lập tức đúng với r=1r= 1. Với r=2r= 2, ta thấy như trong no. 2 rằng ⋀2σ\bigwedge^2\sigma tương đương với biểu diễn phụ hợp của g\mathfrak{g}, biểu diễn này bất khả quy vì g\mathfrak{g} là đơn. Chứng minh được hoàn tất bằng cách quy nạp theo ll, như trong no. 2, nhưng giả sử rằng l−1≥r≥3l-1\geq r\geq 3.

Bây giờ ta sẽ xác định các biểu diễn cơ bản có trọng số cao nhất ϖl−1\varpi_{l-1} và ϖl\varpi_l. Gọi Q là dạng toàn phương x→12Ψ(x,x)x \rightarrow \frac{1}{2}\Psi (x, x). Trong no. 2.IV, ta đã định nghĩa biểu diễn spinor λ\lambda của đại số Clifford C(Q) trên N=⋀F′N =\bigwedge F'. Ta thấy ngay lập tức rằng không gian con N+N_+ (tương ứng N−N_-) của N cho bởi tổng của các ⋀pF′\bigwedge^pF' với pp chẵn (tương ứng lẻ) là ổn định dưới hạn chế của λ\lambda lên C+(Q)C^+(Q). Do đó, các biểu diễn λ+\lambda_+ và λ−\lambda_- của C+(Q)C^+(Q) trên N+N_+ và N−N_- tương ứng là các biểu diễn bán-spinor của C+(Q)(C^+(Q) (Đại số, Chap. IX, §9, no. 4); chúng bất khả quy, có chiều 2l−12^{l-1} và không tương đương. Gọi ρ+=λ+∘f\rho_+=\lambda_+\circ f và ρ−=λ−∘f\rho_-=\lambda_-\circ f là các biểu diễn bất khả quy tương ứng của g\mathfrak{g} (no. 2, Bổ đề 1 (vi)). Theo Bổ đề 1 (i), ta có

f(Hi)=12(eie−i−e−iei)=eie−i−12=12−e−iei f(H_i) =\frac{1}{2}(e_ie_{-i}-e_{-i}e_i) =e_ie_{-i}-\frac{1}{2}=\frac{1}{2}-e_{-i}e_i

và ta thấy, như trong no. 2.IV, rằng, với h∈hh\in \mathfrak{h} và 1≤i1<⋯<ik≤l1\leq i_1<\cdots < i_k\leq l,

λ∘f(h)(e−i1∧⋯∧e−ik) \lambda \circ f(h)(e_{-i_1}\wedge \cdots \wedge e_{-i_k})
=(12(ε1+⋯+εl)−(εi1+⋯+εik))(h)(e−i1∧⋯∧e−ik) = (\frac{1}{2}(\varepsilon_1+\cdots +\varepsilon_l)-(\varepsilon_{i_1}+\cdots +\varepsilon_{i_k}))(h)(e_{-i_1}\wedge \cdots \wedge e_{-i_k})

Do đó, trọng số cao nhất của ρ+\rho_+ (tương ứng ρ−\rho_-) là ϖl\varpi_l (tương ứng ϖl−1\varpi_{l-1}).

Ta gọi ρ+\rho_+ và ρ−\rho_- là các biểu diễn bán-spinor của g\mathfrak{g}. Tất cả các trọng số của chúng đều đơn. Ta cũng gọi ρ=λ∘f=ρ+⊕ρ−\rho =\lambda \circ f=\rho_+\oplus \rho_- là biểu diễn spinor của g\mathfrak{g}.

(V) Với 1≤r≤l−21\leq r\leq l-2, biểu diễn cơ bản ⋀rσ\bigwedge^r\sigma là trực giao: nó bảo toàn dạng mở rộng của Ψ\Psi trên ⋀rV\bigwedge^rV.

Xét bây giờ biểu diễn spinor ρ\rho của g\mathfrak{g}. Ta chứng minh như trong no. 2 rằng, với 1≤i,j≤l,i≠j1\leq i, j\leq l, i\not=j,

f(Xεi−εj)=±eie−j f(X_{\varepsilon_i-\varepsilon_j}) =\pm e_ie_{-j}
f(Xεi+εj)=±eiej f(X_{\varepsilon_i+\varepsilon_j}) =\pm e_ie_j
f(X−εi−εj)=±e−ie−j f(X_{-\varepsilon_i-\varepsilon_j}) =\pm e_{-i}e_{-j}

Suy ra rằng dạng song tuyến tính không suy biến Φ\Phi được đưa vào trong no. 2.V là bất biến dưới ρ(g)\rho (\mathfrak{g}). Do đó, biểu diễn spinor ρ\rho bảo toàn một dạng không suy biến, đối xứng với l≡0,−1l\equiv 0,-1 (mod. 4) và phản xứng với l≡1,2l\equiv 1,2 (mod. 4).

Nếu ll chẵn, các hạn chế của Φ\Phi lên N+N_+ và N−N_- là không suy biến và các biểu diễn nửa spinor là trực giao với l≡0l\equiv 0 (mod. 4) và symplectic với l≡2l\equiv 2 (mod. 4). Hơn nữa, ta nhận xét rằng w0=−1w_0=-1 (Chương VI, §4, no. 8.XI).

Mặt khác, nếu ll lẻ, N+N_+ và N−N_- hoàn toàn đẳng hướng đối với Φ\Phi. Hơn nữa, −w0(αi)=αi-w_0(\alpha_i) =\alpha_i với 1≤i≤l−2,−w0(αl)=αl−11\leq i\leq l-2,-w_0(\alpha_l) =\alpha_{l-1} và −w0(αl−1)=αl-w_0(\alpha_{l-1}) =\alpha_l (Chương VI, §4, no. 8.XI), nên −w0(ϖl)=ϖl−1-w_0(\varpi_l) =\varpi_{l-1} và các biểu diễn nửa spinor không trực giao cũng không symplectic; mỗi biểu diễn trong chúng đẳng cấu với đối ngẫu của biểu diễn kia.

(VI) Với mọi x∈gx\in \mathfrak{g}, đa thức đặc trưng của σ(x)\sigma (x) có dạng

T2l+f1(x)T2l−1+⋯+f2l(x) T^{2l}+f_1(x)T^{2l-1}+\cdots +f_{2l}(x)

Ta thấy như trong no. 3 rằng f1=f3=f5=⋯=0f_1=f_3=f_5=\cdots = 0. Theo Chương VI, §4, no. 8.IX và §8, no. 3, Định lý 1, tồn tại một hàm đa thức f~\widetilde{f} trên g\mathfrak{g} sao cho f2,f4,...,f2l−2,f~f_2, f_4, . . . , f_{2l-2},\widetilde{f} sinh đại số I(g∗)I(\mathfrak{g}^*) của các hàm đa thức bất biến trên g\mathfrak{g}, độc lập đại số, và hơn nữa f~2=(−1)lf2l\widetilde{f}^2= (-1)^lf_{2l}.

Với mọi x∈gx\in \mathfrak{g}, ta có t(Sx)=txS=−Sx^t(Sx) =^txS=-Sx, nên ta có thể xét Pf(SxSx), là một hàm đa thức của xx. Khi đó:

f2l(x)=f_{2l}(x) = det(xx) =(−1)l= (-1)^l det(SxSx) =(−1)l= (-1)^l(Pf(SxSx))2^2.

Do đó, ta có thể lấy f~(x)=\widetilde{f}(x) = Pf(SxSx).

(VII) Nhắc lại (§5, no. 3, Hệ quả 1 của Mệnh đề 5) rằng Aut(g\mathfrak{g})//Aut0(g)_0(\mathfrak{g}) có thể được đồng nhất với nhóm Aut(D) gồm các tự đẳng cấu của đồ thị Dynkin D của (g,h)(\mathfrak{g},\mathfrak{h}). Khi l≠4l\not= 4, Aut(D) là nhóm cấp 2 gồm các hoán vị của α1,...,αl\alpha_1, . . . , \alpha_l giữ cố định α1,...,αl−2\alpha_1, . . . , \alpha_{l-2}. Khi l=4l= 4, Aut(D) gồm các hoán vị của α1,...,α4\alpha_1, . . . , \alpha_4 giữ cố định α2\alpha_2; nó đẳng cấu với S3\mathfrak{S}_3 (cf. Chap. VI, §4, no. 8.XI). Trong mọi trường hợp, nhóm con của Aut(D) gồm các phần tử giữ cố định α1\alpha_1 có cấp 2. Ta ký hiệu Aut′(g)'(\mathfrak{g}) là nhóm con tương ứng của Aut(g\mathfrak{g}); ta có Aut′(g)='(\mathfrak{g}) = Aut(g\mathfrak{g}) nếu l≠4l\not= 4 và (Aut(g\mathfrak{g}) :: Aut′(g)'(\mathfrak{g})) =3= 3 nếu l=4l= 4; hơn nữa,

(Aut′(g):'(\mathfrak{g}) : Aut0(g)_0(\mathfrak{g})) =2= 2.

Một phần tử s∈s\in Aut(g\mathfrak{g}) thuộc Aut′(g)'(\mathfrak{g}) khi và chỉ khi σ∘s\sigma \circ s tương đương với σ\sigma (điều này suy ra từ sự kiện rằng ϖ1\varpi_1 là trọng số cao nhất của σ\sigma ). Ta kết luận như trong no. 2.VII rằng Aut′(g)'(\mathfrak{g}) có thể được đồng nhất với Σ/k∗\Sigma /k^*, trong đó Σ\Sigma là nhóm các phép đồng dạng của V đối với Ψ\Psi.

Cho s∈Σs\in \Sigma, và gọi λ(s)\lambda (s) là nhân tử của ss. Ta có det(ss) =λ(s)l=\lambda (s)^l nếu ss là trực tiếp, và det(ss) =−λ(s)l=-\lambda (s)^l nếu ss là nghịch đảo (Đại số, Chap. IX, §6, no. 5). Các phép đồng dạng trực tiếp tạo thành một nhóm con Σ0\Sigma_0 có chỉ số 2 trong Σ\Sigma; ta có Σ0⊃k∗\Sigma_0\supset k^*. Nhóm Σ0/k∗\Sigma_0/k^* bằng nhóm con Aut0(g)_0(\mathfrak{g}) của Aut′(g)=Σ/k∗'(\mathfrak{g}) =\Sigma /k^*. Thật vậy, chỉ cần kiểm tra điều này khi kk đóng đại số: trong trường hợp đó Aut0(g)=_0(\mathfrak{g}) = Aute(g)_e(\mathfrak{g}) bằng nhóm dẫn xuất của nó (§11, no. 2, Mệnh đề 3), do đó được chứa trong Σ0/k∗\Sigma_0/k^*, và vì cả hai đều có chỉ số 2 trong Σ/k∗\Sigma /k^*, nên chúng bằng nhau.

Mặt khác, như trong no. 3.VII có một dãy khớp

1⟶SO(Ψ)/{1,−1}⟶Σ0/k∗⟶k∗/k∗2⟶1 1\longrightarrow \mathbf{S}\mathbf{O}(\Psi )/\{1,-1\} \longrightarrow \Sigma_0/k^*\longrightarrow k^*/k^{*2}\longrightarrow 1

Đồng nhất SO(Ψ)/{1,−1}\mathbf{S}\mathbf{O}(\Psi )/\{1,-1\} với một nhóm con của Σ0/k∗=\Sigma_0/k^*= Aut0(g)_0(\mathfrak{g}). Vì k∗/k∗2k^*/k^{*2} là giao hoán, ta có Aute(g)⊂SO(Ψ)/{1,−1}_e(\mathfrak{g})\subset \mathbf{S}\mathbf{O}(\Psi )/\{1,-1\}. Thực ra, có thể chứng minh (Bài tập 11) rằng Aute(g)_e(\mathfrak{g}) bằng ảnh trong SO(Ψ)/{1,−1}\mathbf{S}\mathbf{O}(\Psi )/\{1,-1\} của nhóm trực giao rút gọn O0+(Ψ)\mathbf{O}^+_0(\Psi ) của Ψ(\Psi (Đại số, Chương IX, §9, no. 5).

(VIII) Dạng song tuyến tính chính tắc ΦR\Phi_R trên h∗\mathfrak{h}^* được cho bởi

′′'' 1 ′′''

ΦR(ξ1ε1+⋯+ξlεl,ξ1ε1+⋯+ξlεl)=(ξ1ξ+⋯+ξlξ) \Phi_R(\xi_1\varepsilon_1+\cdots +\xi_l\varepsilon_l, \xi_1\varepsilon_1+\cdots +\xi_l\varepsilon_l) =(\xi_1\xi +\cdots +\xi_l\xi )
4(l−1)‾1l \overline{4(l- 1)}^1l

(Chương VI, §4, no. 8.V). Do đó, hạn chế của dạng Killing trên h\mathfrak{h} là

Φ(ξ1H1+⋯+ξlHl,ξ1′H1+⋯+ξl′Hl)=4(l−1)(ξ1ξ1′+⋯+ξlξl′) \Phi (\xi_1H_1+\cdots +\xi_lH_l, \xi '_1H_1+\cdots +\xi '_lH_l) = 4(l-1)(\xi_1\xi '_1+\cdots +\xi_l\xi '_l)

(IX) Nhắc lại các Xα(α∈R)X_{\alpha}(\alpha \in R) được xác định bởi các công thức (11). Ta dễ dàng kiểm tra rằng [Xα,X−α]=−Hα[X_{\alpha}, X_{-\alpha}] =-H_{\alpha} với α∈R\alpha \in R. Mặt khác, ánh xạ θ:a→−ta\theta :a \rightarrow -^ta là một tự đẳng cấu của g\mathfrak{g} và θ(Xα)=X−α\theta (X_{\alpha}) =X_{-\alpha} với mọi α∈R\alpha \in R. Do đó (Xα)α∈R(X_{\alpha})_{\alpha\in R} là một hệ Chevalley trong (g,h)(\mathfrak{g},\mathfrak{h}).

Giả sử rằng k=Qk=\mathbf{Q}. Theo Chương VI, §4, no. 8.VIII, đại số con h\mathfrak{h} có ba dàn khả dĩ nếu ll lẻ và bốn dàn khả dĩ nếu ll chẵn. Đặc biệt, dàn H\mathscr{H} sinh bởi các HiH_i là khả dĩ. Nhưng dàn này là tập hợp các ma trận đường chéo trong g\mathfrak{g} có các phần tử là số nguyên. Suy ra oS(2l,Z)\mathfrak{o}_S(2l,\mathbf{Z}) là thứ tự Chevalley H+∑Z.Xα\mathscr{H}+\sum\mathbf{Z}.X_{\alpha} trong g\mathfrak{g}. Vì Xα2=0X_{\alpha}^2= 0 với mọi α∈R\alpha \in R, ta thấy rằng dàn V\mathscr{V} trong V sinh bởi cơ sở Witt (ei)(e_i) là một dàn khả dụng trong V đối với oS(2l,Z)\mathfrak{o}_S(2l,\mathbf{Z}). Điều tương tự đúng đối với ⋀rV\bigwedge^r\mathscr{V} trong ⋀rV\bigwedge^rV.

Mặt khác, nếu ta lấy P(R∨)=Z.12∑i=1lHi+HP(R^{\vee}) =\mathbf{Z}.\frac{1}{2}\sum_{i=1}^lH_i+\mathscr{H} làm dàn khả dĩ và G=P(R∨)+∑Z.Xα\mathscr{G}= P(R^{\vee}) +\sum\mathbf{Z}.X_{\alpha} làm thứ tự Chevalley, ta thấy rằng ⋀rV\bigwedge^rV có một dàn khả dụng chỉ khi rr chẵn; khi đó ⋀rV\bigwedge^r\mathscr{V} là khả dụng.

Xét đại số Lie khả quy o(Ψ)+Q.1\mathfrak{o}(\Psi ) +\mathbf{Q}.1; ta thấy ngay lập tức rằng dàn G~=(o(Ψ)+Q.1)∩gl(2l,Z)\widetilde{\mathscr{G}}= (\mathfrak{o}(\Psi ) +\mathbf{Q}.1)\cap \mathfrak{g}\mathfrak{l}(2l,\mathbf{Z}) là một thứ tự Chevalley. Thứ tự Chevalley G\mathscr{G} là phép chiếu của G~\widetilde{\mathscr{G}} lên o(Ψ)\mathfrak{o}(\Psi ) song song với tâm Q.1\mathbf{Q}.1.

Cuối cùng, ta thấy như trong no. 2 rằng dàn N+\mathscr{N}_+ (tương ứng N−\mathscr{N}_-) sinh bởi các e−i1∧⋯∧e−i2ke_{-i_1}\wedge \cdots \wedge e_{-i_{2k}} (tương ứng e−i1∧⋯∧e−i2k+1e_{-i_1}\wedge \cdots \wedge e_{-i_{2k+1}}) là khả chấp nhận được đối với biểu diễn nửa spinor của cấp Chevalley Q(R∨)+∑α∈RZ.XαQ(R^{\vee}) +\sum_{\alpha\in R}\mathbf{Z}.X_{\alpha}. Mặt khác, N+\mathscr{N}_+ và N−\mathscr{N}_- không có dàn khả chấp nhận được đối với oS(2l,Z)\mathfrak{o}_S(2l,\mathbf{Z}).

BẢNG 1

Ta gán cho mỗi trọng số cơ bản số 1 (tương ứng −1,0-1,0) nếu biểu diễn đơn tương ứng là trực giao (tương ứng symplectic, tương ứng không trực giao cũng không symplectic). Về cơ bản, phép tính số này đã được trình bày trong §13 đối với các kiểu Al,Bl,Cl,DlA_l,B_l,C_l,D_l. Các kết quả cũng được chỉ ra dưới đây đối với các kiểu E6,E7,E8,F4,G2E_6,E_7,E_8,F_4,G_2 (chỉ cần áp dụng §7, Mệnh đề 12, và Chương VI, §4, các số 9.VI, 9.XI, 10.VI, 10.XI, 11.VI, 11.XI, 12.VI, 12.XI, 13.VI, 13.XI).

Al(l≥1)Bl(l≥2) A_l(l\geq 1)B_l(l\geq 2)

{0r≠l+12ϖr\{0r\not=\frac{l+1}{2}\varpi_r 1 r≠lr\not=l

ϖr \varpi_r
(−1)rr=l+12ϖl(−1)l(l+1)/2 (-1)^rr=\frac{l+1}{2}\varpi_l(-1)^{l(l+1)/2}
Cl(l≥2)Dl(l≥2) C_l(l\geq 2)D_l(l\geq 2)

ϖr(−1)rϖr\varpi_r(-1)^r\varpi_r 1 r≠l−1,lr\not=l-1, l

{0\{0 nếu ll là lẻ

ϖl\varpi_l và ϖl−1(−1)l/2\varpi_{l-1}(-1)^{l/2} nếu ll là chẵn

E6E7E8F4G2 E_6E_7E_8F_4G_2

ϖ1\varpi_1 0 ϖ1\varpi_1 1 ϖ1\varpi_1 1 ϖ1\varpi_1 1 ϖ1\varpi_1 1

ϖ2\varpi_2 1 ϖ2−1ϖ2\varpi_2-1\varpi_2 1 ϖ2\varpi_2 1 ϖ2\varpi_2 1

ϖ3\varpi_3 0 ϖ3\varpi_3 1 ϖ3\varpi_3 1 ϖ3\varpi_3 1

ϖ4\varpi_4 1 ϖ4\varpi_4 1 ϖ4\varpi_4 1 ϖ4\varpi_4 1

ϖ5\varpi_5 0 ϖ5−1ϖ5\varpi_5-1\varpi_5 1

ϖ6\varpi_6 0 ϖ6\varpi_6 1 ϖ6\varpi_6 1

ϖ7−1ϖ7\varpi_7-1\varpi_7 1

ϖ8\varpi_8 1

BẢNG 2

Ta gán cho mỗi trọng số cơ bản chiều của biểu diễn đơn tương ứng, được tính bằng Định lý 2 của §9.

Al(l≥1)Bl(l≥2) A_l(l\geq 1)B_l(l\geq 2)
(l+1)(2l+1) (l+ 1)(2l+ 1)
ϖr(1≤r≤l)ϖr(1≤r≤l−1) \varpi_r(1\leq r\leq l)\varpi_r(1\leq r\leq l-1)
rr rr
ϖl2l \varpi_l2^l
Cl(l≥2)Dl(l≥2) C_l(l\geq 2)D_l(l\geq 2)
(2l)(2l)(2l) (2l)(2l)(2l)
ϖr(1≤r≤l)−ϖr(1≤r≤l−2) \varpi_r(1\leq r\leq l)-\varpi_r(1\leq r\leq l-2)
rr−2r rr-2r
ϖl−12l−1 \varpi_{l-1}2^{l-1}
ϖl2l−1 \varpi_l2^{l-1}
E6E7 E_6E_7
ϖ127=33ϖ1133=7.19 \varpi_127 = 3^3\varpi_1133 = 7.19
ϖ278=2.3.13ϖ2912=24.3.19 \varpi_278 = 2.3.13\varpi_2912 = 2^4.3.19
ϖ3351=33.13ϖ38645=5.7.13.19 \varpi_3351 = 3^3.13\varpi_38645 = 5.7.13.19
ϖ42925=32.52.13ϖ4365750=2.53.7.11.19 \varpi_42925 = 3^2.5^2.13\varpi_4365750 = 2.5^3.7.11.19
ϖ5351=33.13ϖ527664=24.7.13.19 \varpi_5351 = 3^3.13\varpi_527664 = 2^4.7.13.19
ϖ627=33ϖ61539=34.19 \varpi_627 = 3^3\varpi_61539 = 3^4.19
ϖ756=23.7 \varpi_756 = 2^3.7
E8F4 E_8F_4
ϖ13875=53.31ϖ152=22.13 \varpi_13875 = 5^3.31\varpi_152 = 2^2.13
ϖ2147250=2.53.19.31ϖ21274=2.72.13 \varpi_2147250 = 2.5^3.19.31\varpi_21274 = 2.7^2.13
ϖ36696000=26.33.53.31ϖ3273=3.7.13 \varpi_36696000 = 2^6.3^3.5^3.31\varpi_3273 = 3.7.13
ϖ46899079264=25.3.72.112.17.23.31ϖ426=2.13 \varpi_46899079264 = 2^5.3.7^2.11^2.17.23.31\varpi_426 = 2.13
ϖ5146325270=2.3.5.72.132.19.31 \varpi_5146325270 = 2.3.5.7^2.13^2.19.31
ϖ62450240=26.5.13.19.31 \varpi_62450240 = 2^6.5.13.19.31
ϖ730380=22.5.72.31G2 \varpi_730380 = 2^2.5.7^2.31G_2

ϖ8248=23.31ϖ1\varpi_8248 = 2^3.31\varpi_1 7

ϖ214=2.7 \varpi_214 = 2.7

Bài tập

Xem các bài tập cho § 13.

Machine translation of the English, by gpt-5-6-mini, gpt-5-6, gpt-5-mini, gpt-5.4-mini, against glossary version 34. Not checked by a person. That model is a cut down version of the one the rest of this language was written by.