Bourbaki

1. Nhóm con và nhóm thương của Rn\mathbf{R}^n

Trước hết ta hãy đưa ra quy ước sau đây: nếu G là một nhóm tôpô, ta đã định nghĩa (chương III, § 2) nhóm tích GnG^n gồm n thừa số đều bằng G, với mỗi số nguyên n>0n > 0. Trong tiết diện này, ta sẽ mở rộng định nghĩa này sang trường hợp n=0n = 0 theo quy ước rằng G0G^0 ký hiệu một nhóm chỉ gồm một phần tử. Nếu H là bất kỳ nhóm nào, ta sẽ đồng nhất G0×HG^0 \times H với H.

Trên tập Rn\mathbf{R}^n, ta sẽ phải xét, một mặt, cấu trúc nhóm tôpô (cộng tính) của nó và, mặt khác, cấu trúc không gian vectơ của nó trên trường R\mathbf{R} (chương VI, § 1, no. 3). Cho một tập con A của Rn\mathbf{R}^n, ta có thể xét nhóm con của Rn\mathbf{R}^n sinh bởi A (tập tất cả các tổ hợp tuyến tính của các điểm của A, với hệ số nguyên) và cũng không gian con vectơ sinh bởi A (tập tất cả các tổ hợp tuyến tính của các điểm của A, với hệ số thực); hai khái niệm này phải được phân biệt cẩn thận. Phù hợp với các định nghĩa trong đại số, hạng của A là chiều của không gian con vectơ V của Rn\mathbf{R}^n sinh bởi A; nói rằng A có hạng pp vì thế tương đương với nói rằng có pp điểm xi∈Ax_i \in A lập thành một hệ tự do đối với trường R\mathbf{R} (nói cách khác, quan hệ ∑itixi=0\sum_i t_i x_i = 0, trong đó các tit_i là các số thực, suy ra ti=0t_i = 0 với mỗi ii) và lập thành một cơ sở của V (nghĩa là mọi điểm của V đều là một tổ hợp tuyến tính của các xix_i với hệ số thực).

Trong phần tiếp theo ta cũng sẽ phải dùng đến khái niệm một hệ các điểm của Rn\mathbf{R}^n tự do đối với trường Q\mathbf{Q} của các số hữu tỉ; một hệ như vậy là một tập con hữu hạn (xi)(x_i) của Rn\mathbf{R}^n sao cho quan hệ ∑irixi=0\sum_i r_i x_i = 0, trong đó các rir_i là các số hữu tỉ (hay các số nguyên — cũng như nhau), suy ra ri=0r_i = 0 với mỗi ii. Khái niệm này phải được phân biệt cẩn thận với khái niệm hệ tự do đối với R\mathbf{R}: mọi hệ tự do đối với R\mathbf{R} đều tự do đối với Q\mathbf{Q}, nhưng điều đảo lại là sai (ví dụ, các số 1 và 2\sqrt{2} trong R\mathbf{R} lập thành một hệ tự do đối với Q\mathbf{Q}, nhưng không phải là một hệ tự do đối với R\mathbf{R}). Mỗi khi nói đến một hệ tự do không nói rõ thêm, ta luôn hiểu là một hệ tự do đối với R\mathbf{R}. Vì thế cần phân biệt trên Rn\mathbf{R}^n cấu trúc không gian vectơ đối với R\mathbf{R} với cấu trúc không gian vectơ đối với Q\mathbf{Q}; đặc biệt, không gian con vectơ đối với Q\mathbf{Q} sinh bởi một tập con A của Rn\mathbf{R}^n là tập U gồm mọi tổ hợp tuyến tính của A với hệ số hữu tỉ; nó được chứa trong không gian con vectơ V (đối với R\mathbf{R}) sinh bởi A, nhưng nói chung khác với V. Chiều của U (đối với Q\mathbf{Q}) được gọi là hạng hữu tỉ của A; nó ít nhất bằng hạng của A đã định nghĩa ở trên (chiều của V đối với R\mathbf{R}); nó có thể vô hạn nếu A là một tập vô hạn, trong khi hạng của mọi tập con không rỗng của Rn\mathbf{R}^n luôn ≤n\leq n; đặc biệt, hạng hữu tỉ của mọi tập con không đếm được của Rn\mathbf{R}^n luôn vô hạn, vì mọi không gian vectơ hữu hạn chiều trên Q\mathbf{Q} đều đếm được.

Trong tiết diện này ta sẽ trước hết xác định cấu trúc của các nhóm con đóng của nhóm cộng Rn\mathbf{R}^n.

1. Nhóm con rời rạc của Rn\mathbf{R}^n

Ta đã thấy trong Chương V (§ 1, no. 1, Mệnh đề 1) rằng các nhóm con đóng duy nhất của R\mathbf{R}, khác với chính R\mathbf{R}, là các nhóm con rời rạc, được sinh bởi một phần tử duy nhất. Ta sẽ bắt đầu bằng việc xét các nhóm con rời rạc của Rn\mathbf{R}^n.

Trước hết, nhóm con của Rn\mathbf{R}^n được sinh bởi pp vectơ (p≤np \leq n) của cơ sở chính tắc (Chương VI, § 1, no. 3) của Rn\mathbf{R}^n là một nhóm rời rạc đẳng cấu với tích Zp\mathbf{Z}^p của pp nhóm bằng Z\mathbf{Z}. Nói chung, xét nhóm con GG được sinh bởi pp điểm aia_i (1≤i≤p1 \leq i \leq p) tạo thành một hệ tự do. Có một ánh xạ tuyến tính song ánh của Rn\mathbf{R}^n lên chính nó biến aia_i thành eie_i (1≤i≤p1 \leq i \leq p); vì ánh xạ như vậy là một tự đẳng cấu của nhóm tôpô Rn\mathbf{R}^n, GG đẳng cấu với tư cách là một nhóm tôpô với nhóm con được sinh bởi các eie_i (1≤i≤p1 \leq i \leq p) và do đó là một nhóm con rời rạc hạng pp đẳng cấu với Zp\mathbf{Z}^p.

Cấu trúc của nhóm Zp\mathbf{Z}^p, và do đó của GG, đã được nghiên cứu trong đại số. Ta nhắc lại các kết quả chính của nghiên cứu này. Các cơ sở của GG đối với vành Z\mathbf{Z} là các hệ gồm pp điểm

bi=∑j=1prijaj, b_i = \sum_{j=1}^p r_{ij} a_j,

trong đó các rijr_{ij} là các số nguyên sao cho định thức det⁡(rij)\det (r_{ij}) bằng +1+1 hoặc −1-1. Mọi nhóm con HH của GG đều rời rạc và có hạng q≤pq \leq p; hơn nữa, nếu HH là một nhóm con đã cho có hạng qq, thì tồn tại một hệ tự do gồm pp điểm bib_i (1≤i≤p1 \leq i \leq p) sinh ra GG, và một hệ gồm qq điểm cic_i (1≤i≤q1 \leq i \leq q) sinh ra HH, sao cho ta có ci=eibic_i = e_i b_i cho 1≤i≤q1 \leq i \leq q, trong đó các eie_i là các số nguyên (các thừa số bất biến của HH đối với GG) sao cho

ei+1≡0(modei)cho1≤i≤q−1. e_{i+1} \equiv 0 \pmod{e_i} \quad \text{cho} \quad 1 \leq i \leq q - 1.
Nhóm thương G/HG/H là một nhóm rời rạc đẳng cấu với Zp−q×F\mathbf{Z}^{p-q} \times F, trong đó FF là một nhóm Abel hữu hạn, là tích trực tiếp của qq nhóm con chu kỳ có các cấp tương ứng e1,…,eqe_1, \ldots, e_q.

Bây giờ ta sẽ chỉ ra rằng các nhóm con rời rạc của Rn\mathbf{R}^n mà ta vừa xét là những nhóm duy nhất tồn tại.

Mệnh đề 1

Cho GG là một nhóm con rời rạc của Rn\mathbf{R}^n có hạng pp, cho (ai)1≤i≤p(a_i)_{1 \leq i \leq p} là một hệ tự do gồm pp điểm của GG, và cho PP là hình bình hành đóng với tâm oo và các vectơ cơ sở aia_i (Chương VI, § 1, no. 3). Khi đó tập hợp G∩PG \cap P là hữu hạn và sinh ra GG, và mọi điểm của GG là một tổ hợp tuyến tính của các aia_i với các hệ số hữu tỉ.

G∩PG \cap P là compact và rời rạc, do đó hữu hạn. Cho xx là một điểm bất kỳ của GG; nó bằng một tổ hợp tuyến tính ∑i=1ptiai\sum_{i=1}^p t_i a_i của các aia_i với các hệ số thực. Với mỗi số nguyên m>0m > 0, xét điểm

zm=mx−∑i=1p[mti]ai=∑i=1p(mti−[mti])ai (∗); z_m = mx - \sum_{i=1}^p [mt_i] a_i = \sum_{i=1}^p (mt_i - [mt_i]) a_i \ (*) ;
nó thuộc GG, và vì 0≤mti−[mti]<10 \leq mt_i - [mt_i] < 1, nó nằm trong PP. Do đó, thứ nhất, x=z1+∑i=1p[ti]aix = z_1 + \sum_{i=1}^p [t_i] a_i, suy ra GG được sinh bởi G∩PG \cap P; và thứ hai, vì G∩PG \cap P là hữu hạn, tồn tại hai số nguyên phân biệt h,kh, k sao cho zh=zkz_h = z_k, do đó (h−k)ti=[hti]−[kti](h - k)t_i = [ht_i] - [kt_i] less (1≤i≤p1 \leq i \leq p), và vì vậy các tit_i là các số hữu tỉ.

Hệ quả

Cho (ai)1≤i≤p(a_i)_{1 \leq i \leq p} là một hệ tự do gồm pp điểm của Rn\mathbf{R}^n và cho*

b=∑i=1ptiai b = \sum_{i=1}^p t_i a_i
*là một tổ hợp tuyến tính của các aia_i, với các hệ số thực. Khi đó nhóm con GG của Rn\mathbf{R}^n sinh bởi p+1p + 1 điểm a1,a2,…,apa_1, a_2, \ldots, a_p và bb là rời rạc khi và chỉ khi các số tit_i là hữu tỉ.

(*) Ta nhắc lại (Chương IV, § 8, no. 2) rằng, với mỗi số thực x,[x]x, [x] là phần nguyên của xx, nghĩa là số nguyên hữu tỉ lớn nhất ≤x\leq x.

Mệnh đề 1 chỉ ra rằng điều kiện là cần thiết. Nó cũng đủ, vì nếu điều kiện đó được thỏa mãn ta có thể viết ti=mi/dt_i = m_i/d, trong đó dd và các mim_i là các số nguyên (1≤i≤p1 \leq i \leq p); do đó bb là một tổ hợp tuyến tính, với các hệ số nguyên, của pp điểm (1/d)ai(1/d)a_i; vì vậy GG là một nhóm con của nhóm rời rạc được sinh bởi pp điểm này, và do đó chính nó cũng rời rạc.

Kết quả của Mệnh đề 1 có thể được phát biểu như sau: nếu qq điểm xix_i (1≤i≤q1 \leq i \leq q) của một nhóm con rời rạc GG của Rn\mathbf{R}^n tạo thành một hệ phụ thuộc tuyến tính đối với R\mathbf{R}, thì chúng tạo thành một hệ phụ thuộc tuyến tính đối với Q\mathbf{Q}. Suy ra ngay rằng hạng hữu tỉ của một nhóm con rời rạc của Rn\mathbf{R}^n bằng hạng của nó.

Hệ quả của Mệnh đề 1, khi áp dụng cho trường hợp các aia_i là nn vectơ eie_i của cơ sở chính tắc của Rn\mathbf{R}^n, cho ta mệnh đề sau:

Mệnh đề 2 (Kronecker). Cho θ1,θ2,…,θn\theta_1, \theta_2, \ldots, \theta_n là nn số thực. Để với mỗi ε>0\varepsilon > 0, tồn tại một số nguyên qq và nn số nguyên

pi(1≤i≤n) p_i \quad (1 \leq i \leq n)
sao cho
∣qθi−pi∣≤ε(1≤i≤n), |q\theta_i - p_i| \leq \varepsilon \quad (1 \leq i \leq n),
với vế trái của ít nhất một trong các bất đẳng thức này không bằng 0, thì điều kiện cần và đủ là ít nhất một trong các θi\theta_i là vô tỉ.

Định lý 1

Mọi nhóm con rời rạc GG của Rn\mathbf{R}^n, có hạng bằng pp, đều được sinh bởi một hệ tự do gồm pp điểm.

Nhờ các tính chất của những nhóm đẳng cấu với Zp\mathbf{Z}^p đã nhắc lại ở trên, chỉ cần chứng minh rằng GG là một nhóm con của một nhóm rời rạc được sinh bởi một hệ tự do gồm pp điểm. Nay vì GG có hạng pp nên tồn tại một hệ tự do gồm pp điểm aia_i (1≤i≤p1 \leq i \leq p) của GG sao cho mọi x∈Gx \in G đều bằng một tổ hợp tuyến tính ∑i=1ptiai\sum_{i=1}^p t_i a_i của các aia_i với hệ số thực; vì GG rời rạc, Mệnh đề 1 cho thấy các tit_i là hữu tỉ. Hơn nữa, Mệnh đề 1 cho thấy GG được sinh bởi một số hữu hạn các điểm; vì các điểm này là những tổ hợp tuyến tính của các aia_i với hệ số hữu tỉ, tồn tại một số nguyên dd sao cho chúng là những tổ hợp tuyến tính với số nguyên của pp điểm (1/d)ai=ai′(1/d)a_i = a'_i. Suy ra GG là một nhóm con của nhóm được sinh bởi các ai′a'_i.

Định lý 1 cũng có thể được chứng minh mà không cần viện đến lý thuyết các nhân tử bất biến (xem Bài tập 1).

Các nhóm con rời rạc của Rn\mathbf{R}^n có hạng nn còn được gọi là mạng trong Rn\mathbf{R}^n.

2. Các nhóm con đóng của Rn\mathbf{R}^n

Ta đã biết hai loại nhóm con đóng của Rn\mathbf{R}^n; một mặt, các không gian con vectơ của Rn\mathbf{R}^n, đẳng cấu với các nhóm Rp\mathbf{R}^p (p≤np \leq n) (Chương IV, § 1, no. 4, Mệnh đề 2); mặt khác, các nhóm con rời rạc (Chương III, § 2, no. 1, Mệnh đề 5), vốn đẳng cấu với các nhóm Zq\mathbf{Z}^q (q≤nq \leq n), như ta vừa thấy. Bây giờ ta sẽ xác định cấu trúc của một nhóm con đóng tùy ý của Rn\mathbf{R}^n bằng cách chứng minh rằng một nhóm con như vậy đẳng cấu với một tích có dạng

Rp×Zqtrong đoˊ0≤p+q≤n. \mathbf{R}^p \times \mathbf{Z}^q \quad \text{trong đó} \quad 0 \leq p + q \leq n.

Chứng minh dựa trên mệnh đề sau:

Mệnh đề 3

Mọi nhóm con đóng không rời rạc của* Rn\mathbf{R}^n đều chứa một đường thẳng đi qua oo.

Định lý 2

Cho (xp)p∈N(x_p)_{p \in \mathbf{N}} là một dãy vô hạn các điểm của GG sao cho xp≠ox_p \neq o và lim⁡p→∞xp=o\lim_{p \to \infty} x_p = o; theo giả thiết, tồn tại một dãy như vậy. Cho PP là một khối lập phương mở có tâm oo, chứa các xpx_p. Ký hiệu kpk_p là số nguyên lớn nhất h>0h > 0 sao cho hxp∈Phx_p \in P (vì PP là một hộp bị chặn và xp≠ox_p \neq o, sự tồn tại của kpk_p suy ra từ tiên đề Archimedes). Các điểm kpxpk_p x_p nằm trong một tập compact P‾\overline{P}, do đó dãy (kpxp)p∈N(k_p x_p)_{p \in \mathbf{N}} có một điểm tụ a∈P‾a \in \overline{P}. Nếu ∥(kp+1)xp−a∥≤ε\| (k_p + 1)x_p - a \| \leq \varepsilon, ta có

∥(kp+1)xp−a∥≤ε+∥xp∥, \| (k_p + 1)x_p - a \| \leq \varepsilon + \| x_p \|,

và vì lim⁡p→∞xp=o\lim_{p \to \infty} x_p = o, suy ra rằng aa cũng là một điểm tụ của dãy ((kp+1)xp)((k_p + 1)x_p), mà các điểm của dãy này thuộc tập đóng CP\mathbf{C}P, theo định nghĩa của kpk_p; do đó a∈P‾∩CPa \in \overline{P} \cap \mathbf{C}P (biên của PP, Hình 5), suy ra a≠oa \neq o. Hơn nữa, vì GG là tập đóng, ta có a∈Ga \in G. Cho tt là một số thực tùy ý; vì ∣tkp−[tkp]∣<1|tk_p - [tk_p]| < 1, quan hệ ∥kpxp−a∥≤ε\| k_p x_p - a \| \leq \varepsilon suy ra rằng ∥[tkp]xp−ta∥≤∣t∣ε+∥xp∥\| [tk_p]x_p - ta \| \leq |t| \varepsilon + \| x_p \|; vì lim⁡p→∞xp=o\lim_{p \to \infty} x_p = o, tata là một điểm tụ của dãy ([tk_p]x_p); nhưng các điểm của dãy này thuộc GG, và do đó ta ∈ G, vì GG đóng. Điều này kết thúc chứng minh.

!Hình 5 Hình 5.

!Hình 6 Hình 6.

Cho GG là một nhóm con đóng của Rn\mathbf{R}^n, có hạng rr (0≤r≤n0 \leq r \leq n). Khi đó tồn tại một không gian con vectơ lớn nhất VV được chứa trong GG; với mọi không gian con vectơ WW bổ sung cho VV, W∩GW \cap G là rời rạc và GG là tổng trực tiếp của VV và W∩GW \cap G.

Trước hết ta chứng minh sự tồn tại của VV bằng cách chỉ ra rằng hợp của mọi đường thẳng đi qua oo và nằm trong GG là một không gian con vectơ: thật vậy, không gian con vectơ sinh bởi hợp các đường thẳng này cũng chính là nhóm con do chúng sinh ra. Nhóm GG là tổng trực tiếp của VV và W∩GW \cap G; vì nếu x∈Gx \in G, ta có x=y+zx = y + z với y∈Vy \in V và z∈Wz \in W; do V⊂GV \subset G, z=x−y∈Gz = x - y \in G và do đó z∈W∩Gz \in W \cap G. Còn lại phải chứng minh rằng W∩GW \cap G là rời rạc; điều này suy ra từ Mệnh đề 3, vì W∩GW \cap G là một nhóm con đóng không chứa đường thẳng nào, theo định nghĩa của VV.

Nếu G≠VG \neq V, ta có thể nói rằng GG là hợp của một vô hạn đếm được các đa tạp tuyến tính, song song với VV và đi qua các điểm của nhóm rời rạc W∩GW \cap G (Hình 6).

Nếu pp là chiều của không gian con vectơ VV, ta có p≤rp \leq r, và W∩GW \cap G là một nhóm rời rạc có hạng r−pr - p.

Hệ quả 1

Có một cơ sở (ai)1≤i≤n(a_i)_{1 \leq i \leq n} của Rn\mathbf{R}^n, sao cho

ai∈G(1≤i≤r),ai∈V(1≤i≤p) a_i \in G \quad (1 \leq i \leq r), \qquad a_i \in V \quad (1 \leq i \leq p)
và sao cho G là tập hợp các điểm ∑i=1ptiai+∑j=p+1rnjaj\sum_{i=1}^p t_i a_i + \sum_{j=p+1}^r n_j a_j, trong đó các tit_i nhận mọi giá trị thực và các njn_j nhận mọi giá trị nguyên.

Điều này suy ra từ Định lý 2, và Định lý 1 của mục 1 được áp dụng cho nhóm rời rạc W∩GW \cap G.

Hệ quả 2

Có một tự đẳng cấu của Rn\mathbf{R}^n ánh xạ G lên nhóm G′G', đẳng cấu với Rp×Zr−p\mathbf{R}^p \times \mathbf{Z}^{r-p}, là tổng trực tiếp của không gian con vectơ sinh bởi e1,e2,…,epe_1, e_2, \ldots, e_p và nhóm con cộng tính (rời rạc) sinh bởi ep+1,ep+2,…,ere_{p+1}, e_{p+2}, \ldots, e_r.

Đây là một hệ quả ngay lập tức của Hệ quả 1. Hệ quả 2 của Định lý 2 cho thấy rằng một nhóm con đóng G của Rn\mathbf{R}^n được xác định hoàn toàn, tới đẳng cấu, bởi hai số nguyên ≥0\geq 0: hạng của nó, mà ta ký hiệu là r(G)r(G), và chiều của không gian con vectơ lớn nhất được chứa trong G, mà ta gọi là chiều của G và ký hiệu là d(G)d(G).

Các điều kiện duy nhất mà những số nguyên này phải thỏa mãn là các bất đẳng thức 0≤d(G)≤r(G)≤n0 \leq d(G) \leq r(G) \leq n.

3. Nhóm con liên kết

Cho G là một nhóm con tùy ý (đóng hoặc không) của Rn\mathbf{R}^n. Xét tập G∗G^* các điểm u=(ui)∈Rnu = (u_i) \in \mathbf{R}^n sao cho, với mọi x=(xi)∈Gx = (x_i) \in G, số (u∣x)=∑i=1nuixi(u|x) = \sum_{i=1}^n u_i x_i là một số nguyên. Ta thấy ngay rằng G∗G^* là một nhóm con của Rn\mathbf{R}^n; nó được gọi là nhóm con liên kết với G (*). Nếu G và H là hai nhóm con của Rn\mathbf{R}^n sao cho H⊂GH \subset G, thì hiển nhiên G∗⊂H∗G^* \subset H^*.

Mệnh đề 4

Nhóm con G∗G^* liên kết với một nhóm con G của Rn\mathbf{R}^n là đóng, và ta có (G‾)∗=G∗.(\overline{G})^* = G^*.

Với mỗi x∈Gx \in G, ký hiệu fx(u)f_x(u) là (u∣x)(u|x); fxf_x là một dạng tuyến tính, do đó liên tục. Vì G∗G^* là giao của các tập fx−1(z)f_x^{-1}(z) khi xx chạy qua G, và vì mỗi tập ấy đều đóng, suy ra G∗G^* là đóng. Mặt khác, nếu u∈G∗u \in G^*, ta có (u∣x)∈Z(u|x) \in \mathbf{Z} với mọi x∈Gx \in G, và do đó, vì Z\mathbf{Z} là đóng trong R\mathbf{R}, (u∣y)∈Z(u|y) \in \mathbf{Z} với mọi y∈G‾y \in \overline{G}; do đó u∈(G)∗u \in (G)^*. Nhưng ta có (G‾)∗⊂G∗(\overline{G})^* \subset G^* (vì G⊂G‾G \subset \overline{G}), nên (G‾)∗=G∗(\overline{G})^* = G^*.

Xét cấu trúc của G∗G^* khi GG là đóng. Theo Hệ quả 1 của Định lý 2 ở mục 2, tồn tại một cơ sở (ai)1≤i≤n(a_i)_{1 \leq i \leq n} của Rn\mathbf{R}^n sao cho G trùng với tập hợp các điểm

x=∑i=1ptiai+∑j=p+1p+qnjaj, x = \sum_{i=1}^p t_i a_i + \sum_{j=p+1}^{p+q} n_j a_j,

trong đó các tit_i nhận mọi giá trị thực và các njn_j nhận mọi giá trị nguyên. Do đó (u∣x)(u|x) là một số nguyên cho mọi điểm xx này khi và chỉ khi (u∣ai)=0(u|a_i) = 0 đối với 1≤i≤p1 \leq i \leq p và (u∣ai)(u|a_i) là một số nguyên đối với p+1≤i≤p+qp+1 \leq i \leq p+q. Ta ký hiệu bởi (ai′)1≤i≤n(a'_i)_{1 \leq i \leq n} cơ sở của Rn\mathbf{R}^n sao cho (ai′∣aj)=0(a'_i|a_j) = 0 đối với i≠ji \neq j và

(ai′∣ai)=1cho1≤i≤n (a'_i|a_i) = 1 \quad \text{cho} \quad 1 \leq i \leq n

(*) Khái niệm này là một trường hợp riêng, tương ứng với nhóm Rn\mathbf{R}^n, của một khái niệm tổng quát trong lý thuyết đối ngẫu của các nhóm Abel compact địa phương (xem, chẳng hạn, A. Weil, "L'integration dans les groupes topologiques et ses applications", Act. Sci. et Ind. no. 869, Paris, Hermann, 1950, pp. 108-109). Người đọc sẽ nhận thấy sự tương tự gần gũi tồn tại giữa các tính chất của các nhóm con liên kết trong Rn\mathbf{R}^n và các tính chất của các không gian con vectơ trực giao của một không gian vectơ và không gian đối ngẫu của nó.

[cơ sở "đối ngẫu" với (ai)(\mathbf{a}_i)]; nếu ta đặt u=∑i=1nuiai′u = \sum_{i=1}^n u_i a'_i, thì rõ ràng các điểm u∈G∗u \in G^* được đặc trưng bởi các điều kiện sau: ui=0u_i = 0 đối với 1≤i≤p1 \leq i \leq p, và ui∈Zu_i \in \mathbf{Z} đối với

p+1≤i≤p+q; p + 1 \leq i \leq p + q;
do đó G∗G^* là tổng trực tiếp của một không gian con vectơ WW có một cơ sở gồm các ai′a'_i sao cho p+q+1≤i≤np + q + 1 \leq i \leq n, và một nhóm con rời rạc sinh bởi các ai′a'_i sao cho p+1≤i≤p+qp + 1 \leq i \leq p + q. Nói cách khác:

Mệnh đề 5

Đối với mọi nhóm con đóng* GG của Rn\mathbf{R}^n,

r(G∗)=n−d(G)vaˋd(G∗)=n−r(G). r(G^*) = n - d(G) \quad \text{và} \quad d(G^*) = n - r(G).
Ta áp dụng cùng lập luận cho G∗G^*. Nhận thấy rằng cơ sở đối ngẫu với (ai′)(a'_i) là (ai)(a_i), ta thấy rằng:

Mệnh đề 6

Đối với mọi nhóm con* GG của Rn\mathbf{R}^n, ta có (G∗)∗=G‾(G^*)^* = \overline{G}.

Hệ quả

Một điểm* xx nằm trong bao đóng của một nhóm con GG của Rn\mathbf{R}^n khi và chỉ khi (u∣x)(u|x) là một số nguyên đối với mọi u∈Rnu \in \mathbf{R}^n sao cho (u∣y)(u|y) là một số nguyên đối với mọi y∈Gy \in G.

Ta áp dụng đặc trưng hóa này của các điểm nằm trong bao đóng của một nhóm con GG vào trường hợp nhóm con GG sinh bởi nn vectơ eje_j của cơ sở chính tắc (1≤j≤n)(1 \leq j \leq n) và bởi một số tùy ý mm điểm aia_i (1≤i≤m)(1 \leq i \leq m) của Rn\mathbf{R}^n. Nói rằng (u∣ej)(u|e_j) là một số nguyên đối với 1≤j≤n1 \leq j \leq n có nghĩa là nn tọa độ của uu là các số nguyên; do đó:

Mệnh đề 7 (Kronecker)

Cho* ai=(aij)a_i = (a_{ij}) (1≤i≤m, 1≤j≤n)(1 \leq i \leq m,\ 1 \leq j \leq n) là mm điểm của Rn\mathbf{R}^n và cho b=(bj)b = (b_j) (1≤j≤n)(1 \leq j \leq n) là một điểm của Rn\mathbf{R}^n. Để, với mỗi ε>0\varepsilon > 0, tồn tại mm số nguyên gig_i (1≤i≤m)(1 \leq i \leq m) và nn số nguyên pjp_j (1≤j≤n)(1 \leq j \leq n) sao cho

∣q1a1j+q2a2j+⋯+qmamj−pj−bj∣≤ε(1≤j≤n) |q_1 a_{1j} + q_2 a_{2j} + \cdots + q_m a_{mj} - p_j - b_j| \leq \varepsilon \quad (1 \leq j \leq n)
thì điều kiện cần và đủ là, với mỗi dãy hữu hạn (rj)(r_j) (1≤j≤n)(1 \leq j \leq n) gồm nn số nguyên sao cho mm số ∑j=1naijrj\sum_{j=1}^n a_{ij} r_j (1≤i≤m)(1 \leq i \leq m) đều là số nguyên, thì số ∑j=1nbjrj\sum_{j=1}^n b_j r_j cũng phải là số nguyên.

Hệ quả 1

Để, với mỗi* x=(xj)x = (x_j) (1≤j≤n)(1 \leq j \leq n) và mỗi ε>0\varepsilon > 0, tồn tại mm số nguyên qiq_i (1≤i≤m)(1 \leq i \leq m) và nn số nguyên pjp_j (1≤j≤n1 \leq j \leq n) *sao cho

∣q1a1j+q2a2j+⋯+qmamj−pj−xj∣≤ε(1≤j≤n) |q_1 a_{1j} + q_2 a_{2j} + \cdots + q_m a_{mj} - p_j - x_j| \leq \varepsilon \quad (1 \leq j \leq n)

thì điều kiện cần và đủ là không tồn tại dãy hữu hạn (rj)(r_j) gồm nn số nguyên, không phải tất cả đều bằng không, sao cho mỗi một trong mm số ∑j=1naijrj\sum_{j=1}^n a_{ij} r_j là một số nguyên.

Vì nếu GG là trù mật trong Rn\mathbf{R}^n, nghĩa là nếu G‾=Rn\overline{G} = \mathbf{R}^n, thì G∗={0}G^* = \{0\}, và ngược lại.

Đặc biệt (m=1)(m = 1):

Hệ quả 2

Cho* θ1,θ2,…,θn\theta_1, \theta_2, \ldots, \theta_n là nn số thực. Để, cho trước bất kỳ nn số thực x1,x2,…,xnx_1, x_2, \ldots, x_n và một số thực ε>0\varepsilon > 0, tồn tại một số nguyên qq và nn số nguyên pjp_j *sao cho

∣qθj−pj−xj∣≤ε(1≤j≤n) |q \theta_j - p_j - x_j| \leq \varepsilon \quad (1 \leq j \leq n)

thì điều kiện cần và đủ là không tồn tại một quan hệ có dạng ∑j=1nrjθj=h\sum_{j=1}^n r_j \theta_j = h, trong đó các rjr_j là nn số nguyên không phải tất cả đều bằng không, và hh là một số nguyên [điều này suy ra, đặc biệt, rằng các θj\theta_j và các tỉ số θj/θk\theta_j / \theta_k (j≠kj \neq k) phải là vô tỉ].

Ta có thể hiểu kết quả này như sau: với mỗi số nguyên q∈Zq \in \mathbf{Z}, đặt xqx_q là điểm có tọa độ qθj−[qθj]q \theta_j - [q \theta_j] (1≤j≤n1 \leq j \leq n); khi đó Hệ quả 2 cho một điều kiện cần và đủ để tập hợp các điểm xqx_q là trù mật trong khối lập phương là tích của nn khoảng [0,1][0, 1] trong các thừa số của Rn\mathbf{R}^n.

Mệnh đề 8

Nếu G1,G2G_1, G_2 là hai nhóm con đóng bất kỳ của Rn\mathbf{R}^n, ta có

(G1=G2)∗+G1∗∩G2∗vaˋ(G1∩G2)∗=G1∗+G2∗. (G_1 = G_2)^* + G_1^* \cap G_2^* \quad \text{và} \quad (G_1 \cap G_2)^* = G_1^* + G_2^*.

Số thực (u∣x+y)(u|x + y) là một số nguyên với mọi x∈G1x \in G_1 và mọi y∈G2y \in G_2 khi và chỉ khi (u∣x)(u|x) là một số nguyên với mọi x∈G1x \in G_1 và (u∣y)(u|y) là một số nguyên với mọi y∈G2y \in G_2, vì (u∣x+y)=(u∣x)+(u∣y)(u|x + y) = (u|x) + (u|y); do đó

(G1+G2)∗=G1∗∩G2∗ (G_1 + G_2)^* = G_1^* \cap G_2^*

cho mọi hai nhóm con G1,G2G_1, G_2 của Rn\mathbf{R}^n. Nếu bây giờ ta giả sử rằng G1G_1 và G2G_2 là đóng, ta có (G1∗+G2∗)∗=G1∩G2(G_1^* + G_2^*)^* = G_1 \cap G_2 theo Mệnh đề 6; do đó, lấy các nhóm con liên kết và áp dụng Mệnh đề 6 một lần nữa,

(G1∩G2)∗=G1∗+G2∗‾. (G_1 \cap G_2)^* = \overline{G_1^* + G_2^*}.

Nhận xét

Cho G1,G2G_1, G_2 là hai mạng trong Rn\mathbf{R}^n (no. 1) sao cho G2⊂G1G_2 \subset G_1: khi đó (Mệnh đề 5) G1∗G_1^* và G2∗G_2^* là các mạng trong Rn\mathbf{R}^n sao cho G1∗⊂G2∗G_1^* \subset G_2^*. Ta đã thấy ở no. 1 rằng tồn tại một số nguyên m>0m > 0 sao cho mG1⊂G2m G_1 \subset G_2;

do đó với x∈G1x \in G_1 và u∈G2∗u \in G_2^* ta có m(u∣x)∈Zm(u|x) \in \mathbf{Z} và vì vậy (u∣x)∈Q(u|x) \in \mathbf{Q}. Nếu x∈G2x \in G_2 và u∈G2∗u \in G_2^*, hoặc nếu x∈G1x \in G_1 và u∈G1∗u \in G_1^*, ta có (u∣x)∈Z(u|x) \in \mathbf{Z} theo định nghĩa. Vì thế khi chuyển qua các thương, ánh xạ song tuyến tính trên Z\mathbf{Z} (x,u)→(u∣x)(x, u) \to (u|x) của G1×G2∗G_1 \times G_2^* vào Q\mathbf{Q} xác định một ánh xạ song tuyến tính trên Z\mathbf{Z} BB của (G1/G2)×(G2∗/G1∗)(G_1/G_2) \times (G_2^*/G_1^*) vào Q/Z\mathbf{Q}/\mathbf{Z}. Hơn nữa, hiển nhiên rằng nếu xˉ0∈G1/G2\bar{x}_0 \in G_1/G_2 (resp. uˉ0∈G2∗/G1∗\bar{u}_0 \in G_2^*/G_1^*) sao cho, với mỗi uˉ∈G2∗/G1∗\bar{u} \in G_2^*/G_1^* (resp. với mỗi xˉ∈G1/G2\bar{x} \in G_1/G_2) ta có

B(xˉ0,u)=0[resp. B(xˉ,uˉ0)=0], B(\bar{x}_0, u) = 0 \quad [\text{resp. } B(\bar{x}, \bar{u}_0) = 0],

then suy ra tất yếu xˉ0=0\bar{x}_0 = 0 (tương ứng uˉ0=0\bar{u}_0 = 0). Suy ra có một song ánh tuyến tính trên Z\mathbf{Z} hh từ G2∗/G1∗G_2^*/G_1^* lên đối ngẫu của G1/G2G_1/G_2, sao cho ⟨xˉ,h(uˉ)⟩=B(xˉ,uˉ)\langle \bar{x}, h(\bar{u}) \rangle = B(\bar{x}, \bar{u}) với xˉ∈G1/G2\bar{x} \in G_1/G_2 và uˉ∈G2∗/G1∗\bar{u} \in G_2^*/G_1^*; nói riêng, các nhóm hữu hạn G1/G2G_1/G_2 và G2∗/G1∗G_2^*/G_1^* là đẳng cấu.

4. Nhóm thương Hausdorff của Rn\mathbf{R}^n

Mọi nhóm thương Hausdorff của Rn\mathbf{R}^n đều có dạng Rn/H\mathbf{R}^n/H, trong đó HH là một nhóm con đóng của Rn\mathbf{R}^n (Chương III, § 2, no. 6, Mệnh đề 18). Theo Hệ quả 2, Định lý 2 của no. 3, tồn tại một tự đẳng cấu ff của Rn\mathbf{R}^n biến HH thành một nhóm con H′H', là tổng trực tiếp của một không gian con vectơ được sinh bởi pp trong các vectơ eie_i của cơ sở chính tắc và nhóm rời rạc được sinh bởi gg của n−pn - p vectơ còn lại

ei,0≤p+q≤n. e_i, \quad 0 \leq p + q \leq n.

Chuyển qua các thương, ff cảm sinh một đẳng cấu từ Rn/H\mathbf{R}^n/H lên Rn−p−q×Tq\mathbf{R}^{n-p-q} \times T^q (Chương III, § 2, no. 8, Nhận xét 3); nay, Rn/H′\mathbf{R}^n/H' đẳng cấu với Rn−p−q×Tq\mathbf{R}^{n-p-q} \times T^q (Chương III, § 2, no. 9, Hệ quả của Mệnh đề 26). Do đó:

Mệnh đề 9

Mọi nhóm thương Hausdorff của* Rn\mathbf{R}^n đều đẳng cấu với một nhóm tích Rh×Tk\mathbf{R}^h \times T^k (0≤h+k≤n0 \leq h + k \leq n).

Không gian tích TnT^n (và, theo lối nói lạm dụng, nhóm tôpô TnT^n) được gọi là xuyến n chiều; theo Mệnh đề 4 của Chương V, § 1, no. 2, TnT^n là compact, liên thông và liên thông địa phương.

Hơn nữa, nếu CC là một khối lập phương đóng cạnh 1 trong Rn\mathbf{R}^n, thì TnT^n đồng phôi với không gian thương của CC theo quan hệ tương đương " xi≡yi(mod1)x_i \equiv y_i \pmod{1} (1≤i≤n1 \leq i \leq n)" giữa các điểm x=(xi)x = (x_i) và y=(yi)y = (y_i) của CC. Như vậy TnT^n được tạo thành từ khối lập phương CC bằng "sự đồng nhất các mặt đối diện".

Mệnh đề 10

Nhóm tôpô* TnT^n là đẳng cấu địa phương với RnR^n.

Vì Tn=(R/Z)nT^n = (R/Z)^n đẳng cấu với Rn/ZnR^n/Z^n (Chương III, § 2, no. 9, Hệ quả của Mệnh đề 26) và ZnZ^n là một nhóm con rời rạc của RnR^n (Chương III, § 2, no. 6, Mệnh đề 19).

Suy ra các nhóm Rp×Tn−pR^p \times T^{n-p} đều đẳng cấu địa phương với RnR^n (0≥p≥n0 \geq p \geq n); trong § 2, no. 2, ta sẽ thấy rằng chúng là những nhóm liên thông duy nhất có tính chất này.

5. Nhóm con và nhóm thương của TnT^n

Ta đồng nhất TnT^n với Rn/ZnR^n/Z^n, và đặt φ\varphi là đồng cấu chính tắc của RnR^n lên Rn/ZnR^n/Z^n. Mọi nhóm con của TnT^n đều có dạng G=φ(H)G = \varphi(H), trong đó HH là một nhóm con của RnR^n chứa ZnZ^n và đẳng cấu với H/ZnH/Z^n (Chương III, § 2, no. 7, Mệnh đề 20); để GG đóng trong TnT^n thì cần và đủ để HH đóng trong RnR^n (Chương I, § 3, no. 4). Do đó để tìm các nhóm con đóng của TnT^n ta phải xác định tất cả các nhóm con đóng HH của RnR^n chứa ZnZ^n; để làm điều này ta sẽ sử dụng Mệnh đề 6 của no. 3, và trước hết ta xác định nhóm con H∗H^* liên kết với HH. Vì ZnZ^n liên kết với chính nó, ta có H∗⊂ZnH^* \subset Z^n; do đó (no. 1) tồn tại một cơ sở (ai)1≤i≤n(a_i)_{1 \leq i \leq n} của RnR^n sinh ra ZnZ^n, và một cơ sở của H∗H^* (đối với vành ZZ) gồm pp điểm bib_i (1≤i≤p1 \leq i \leq p) sao cho bi=eiaib_i = e_i a_i (1≤i≤p1 \leq i \leq p), trong đó các eie_i là các số nguyên thỏa mãn các đồng dư thức ei+1≡0(modei)e_{i+1} \equiv 0 \pmod{e_i} với 1≤i≤p−11 \leq i \leq p-1. Cho (ai′)(a'_i) là cơ sở đối ngẫu với (ai)(a_i); khi đó u=∑i=1nuiaiu = \sum_{i=1}^n u_i a_i thuộc (H∗)∗=H(H^*)^* = H khi và chỉ khi uiei∈Zu_i e_i \in Z với 1≤i≤p1 \leq i \leq p; nói cách khác, HH là tổng trực tiếp của không gian con vectơ VV sinh bởi ap+1′,…,ana'_{p+1}, \ldots, a_n, và nhóm con rời rạc KK sinh bởi pp điểm

ei−1ai′(1≤i≤p). e_i^{-1} a'_i \quad (1 \leq i \leq p).
Mặt khác, ZnZ^n là tổng trực tiếp của V∩ZnV \cap Z^n và K∩ZnK \cap Z^n, vì các ai′a'_i (1≤i≤n1 \leq i \leq n) sinh ra ZnZ^n. Do đó nhóm thương H/ZnH/Z^n đẳng cấu với (V/(V∩Zn))×(K/(K∩Zn))(V/(V \cap Z^n)) \times (K/(K \cap Z^n)) (Chương III, § 2, no. 9, Hệ quả của Mệnh đề 26); V/(V∩Zn)V/(V \cap Z^n) đẳng cấu với Tn−pT^{n-p}, và K/(K∩Zn)K/(K \cap Z^n) là một nhóm hữu hạn, tổng trực tiếp của pp nhóm cyclic có cấp eie_i, lần lượt (1≤i≤p1 \leq i \leq p) (xem no. 1).

Với cùng ký hiệu, mọi nhóm thương Hausdorff của TnT^n có dạng Tn/φ(H)T^n/\varphi(H) và đẳng cấu với Rn/HR^n/H (Chương III, § 2, No. 7, Hệ quả của Mệnh đề 22); nếu WW là không gian con vectơ được sinh bởi KK, thì Rn/HR^n/H đẳng cấu với W/KW/K (Chương III, § 2, No. 9, Hệ quả của Mệnh đề 26), tức là, TpT^p. Tóm lại:

MỆNH ĐỀ II. Mọi nhóm con đóng của Tn\mathbf{T}^n đều đẳng cấu với một nhóm có dạng Th×F\mathbf{T}^h \times F (0 \leq h \leq n) trong đó FF là một nhóm Abel hữu hạn, sao cho số nhỏ nhất các nhóm con chu trình mà FF là một tổng trực tiếp của chúng là ≤n−h\leq n - h. Mọi nhóm thương Hausdorff của Tn\mathbf{T}^n đều đẳng cấu với một nhóm có dạng Th\mathbf{T}^h (0 \leq h \leq n).

Đặc biệt (n=1n = 1):

Hệ quả

Mọi nhóm con đóng của* T\mathbf{T}, trừ chính T\mathbf{T}, là một nhóm cyclic hữu hạn. Mọi nhóm thương Hausdorff của T\mathbf{T}, trừ {0}\{0\}, đẳng cấu với T\mathbf{T}.

6. Hàm tuần hoàn

ĐỊNH NGHĨA I. Một hàm ff, xác định trên Rn\mathbf{R}^n, với giá trị trong một tập hợp tùy ý EE, được gọi là tuần hoàn nếu tồn tại một điểm a≠0a \neq 0 trong Rn\mathbf{R}^n sao cho

f(x+a)=f(x) f(x + a) = f(x)

với mọi x∈Rnx \in \mathbf{R}^n. Nếu ff tuần hoàn, thì mọi điểm a∈Rna \in \mathbf{R}^n mà quan hệ (1) là một đẳng thức theo xx được gọi là một chu kỳ của ff.

Tập hợp GG gồm tất cả các chu kỳ của một hàm tuần hoàn ff rõ ràng là một nhóm con (theo giả thiết không chỉ gồm riêng 00) của nhóm cộng Rn\mathbf{R}^n. Nếu ff là một ánh xạ tuần hoàn liên tục từ Rn\mathbf{R}^n vào một không gian tôpô Hausdorff EE, thì nhóm chu kỳ GG của nó là đóng. Thật vậy, nếu GxG_x ký hiệu tập hợp mọi a∈Rna \in \mathbf{R}^n sao cho f(x+a)=f(x)f(x + a) = f(x) đối với một điểm cho trước x∈Rnx \in \mathbf{R}^n, thì GG là giao của các GxG_x khi xx chạy qua Rn\mathbf{R}^n, và mỗi GG đều là đóng (Chương I, § 8, no. 1, Mệnh đề 2). Cho VV là không gian vectơ lớn nhất được chứa trong GG (no. 2, Định lý 2); hàm ff là hằng trên mọi lớp kề mod VV; nếu WW là một không gian vectơ bổ sung với VV, thì ff được xác định bởi hạn chế của nó lên WW. Nói cách khác (WW là một nhóm tôpô đẳng cấu với Rp\mathbf{R}^p đối với một pp nào đó), việc nghiên cứu các hàm tuần hoàn liên tục trên Rn\mathbf{R}^n được quy về việc nghiên cứu các hàm như vậy mà nhóm chu kỳ GG của chúng là rời rạc; nếu nhóm này có hạng gg, thì hàm ff được gọi là tuần hoàn q lớp, và mọi hệ tự do gồm qq điểm sinh ra GG được gọi là một hệ chu kỳ chính của ff.

Nếu (ai)(a_i) và (bi)(b_i) là hai hệ chu kỳ chính của ff, ta đã thấy (no. 1) rằng mỗi hệ có thể thu được từ hệ kia bằng một phép biến đổi tuyến tính với các hệ số nguyên và định thức ±1\pm 1.

Cho φ\varphi là ánh xạ chính tắc của Rn\mathbf{R}^n lên Rn/G\mathbf{R}^n/G; với mọi ánh xạ gg từ Rn/G\mathbf{R}^n/G vào một tập hợp EE tương ứng với hàm g˙=g∘φ\dot{g} = g \circ \varphi, là một ánh xạ tuần hoàn của Rn\mathbf{R}^n vào EE, có nhóm chu kỳ là

Bài tập

Xem các bài tập của § 1.

Machine translation of the English, by gpt-5.4-mini, gpt-5-6-mini, against glossary version 34. Not checked by a person. That model is a cut down version of the one the rest of this language was written by.