Chương IV
Lý thuyết phổ Hilbert
Với mọi không gian vectơ E, ta ký hiệu bởi ánh xạ đồng nhất của E. Nếu E, F và G là các không gian vectơ và nếu và là các ánh xạ tuyến tính, thì ánh xạ tuyến tính từ E vào G đôi khi sẽ được ký hiệu bởi .
Cho E là một không gian tiền Hilbert. Ta ký hiệu bởi , hoặc đơn giản bởi , tích vô hướng trên E. Trực giao của một tập con A của E được ký hiệu bởi . Đó là một không gian con đóng của E; nó thu về 0 khi và chỉ khi A là toàn phần trong E (EVT, V, p. 16, hệ quả 1). Nếu là một không gian con vectơ của E, ta có xem EVT, V, p. 13). Phổ của một tự đồng cấu của E luôn được hiểu đối với đại số Banach .
Cho F là một không gian Hilbert. Ta sẽ ký hiệu bởi không gian các tự đồng cấu vết hữu hạn của E (EVT, V, p. 50, déf. 8) và bởi không gian các ánh xạ Hilbert–Schmidt từ E vào F (EVT, V, p. 51, déf. 9). Ánh xạ (Tr()) là một chuẩn Hilbert trên (EVT, V, p. 52, th. 1, (i)).
Không gian các ánh xạ tuyến tính liên tục hạng hữu hạn là trù mật trong (mệnh đề 10 của III, p. 15 và hệ quả của mệnh đề 11 của III, p. 16). Đặc biệt, không gian là trù mật trong .
Tích tenxơ Hilbert của E và F (EVT, V, p. 28, déf. 1) được ký hiệu bởi .
Nếu X là một không gian tôpô compact địa phương và là một độ đo trên X, ta sẽ ký hiệu và với .