Bourbaki

§ 17. Các mở rộng chính quy

1. Bổ sung về bao đóng đại số tách được tương đối

Định lý 1 (Zariski)

— *Cho K là một trường, L là một mở rộng của K, K1K_1 là bao đóng đại số tách được tương đối của K trong L (V, p. 44), K2K_2 là bao đóng đại số tương đối của K trong L (V, p. 19) và (Xi)i∈I(X_i)_{i \in I} là một họ các bất định. Khi đó K1(Xi)i∈IK_1(X_i)_{i \in I} là bao đóng đại số tách được tương đối của K(Xi)i∈IK(X_i)_{i \in I} trong L(Xi)i∈IL(X_i)_{i \in I}, và K2(Xi)i∈IK_2(X_i)_{i \in I} là bao đóng đại số tương đối của K(Xi)i∈IK(X_i)_{i \in I} trong L(Xi)i∈IL(X_i)_{i \in I}.

A) Giả sử E là một trường và F là một trường mở rộng của E, và mọi phần tử của F mà tách được đại số trên E đều thuộc về E. Cho uu là một phần tử của F(X)F(X) mà tách được đại số trên E(X)E(X); ta sẽ chứng minh rằng uu thuộc về E(X)E(X). Tồn tại trong F(X)F(X) hai đa thức nguyên tố cùng nhau P và Q sao cho u=P/Qu = P/Q và ta có thể lấy Q là đơn nhất. Gọi S là tập con hữu hạn của F gồm các hệ số của P và Q, F0=E(S)F_0 = E(S) và gọi A là một đạo hàm E của F0F_0 vào F0F_0. Gọi DD là đạo hàm của F0(X)F_0(X) vào chính nó, trùng với AA trên F0F_0 và ánh xạ XX tới 00 (V, p. 128, Mệnh đề 3).

Vì u∈F0(X)u \in F_0(X) là đại số tách được trên E(X)E(X) và DD bằng không trên E(X)E(X), ta có D(u)=0D(u) = 0 (V, p.129, Mệnh đề 4), do đó D(P).Q=P.D(Q)D(P) . Q = P . D(Q). Vì PP và QQ nguyên tố cùng nhau, ta kết luận rằng QQ chia hết D(Q)D(Q) (IV, p. 13, Hệ quả 4). Bây giờ QQ có thể được viết dưới dạng

Q(X)=Xn+a1Xn−1+…+an−1X+an Q(X) = X^n + a_1 X^{n-1} + \ldots + a_{n-1} X + a_n
với a1,…,ana_1, \ldots, a_n thuộc F0F_0; vì D(x)=0D(x) = 0, do đó ta có
D(Q)=Δ(a1)Xn−1+⋯+Δ(an−1)X+Δ(an) D(Q) = \Delta(a_1) X^{n-1} + \cdots + \Delta(a_{n-1}) X + \Delta(a_n)
do đó deg⁡D(Q)<deg⁡Q\deg D(Q) < \deg Q. Vì QQ chia hết D(Q)D(Q), điều này chỉ có thể xảy ra nếu D(Q)=0D(Q) = 0. Nhưng khi đó D(P)=0D(P) = 0 vì D(P).Q=P.D(Q)D(P) . Q = P . D(Q). Bây giờ (1) và một công thức tương tự đối với PP cho thấy rằng AA triệt tiêu tập hợp SS các hệ số của PP và QQ, do đó A=0A = 0, vì F0=E(S)F_0 = E(S). Theo V, p. 135, Hệ quả 2, mở rộng sinh hữu hạn F0F_0 của EE do đó là đại số tách được; theo các giả thiết trên EE và FF ta có F0=EF_0 = E, vậy cuối cùng u∈E(X)u \in E(X).

B) Bây giờ giả sử rằng EE đóng đại số tương đối trong trường mở rộng FF và ký hiệu pp là số mũ đặc số của EE. Cho uu là một phần tử của F(X)F(X) đại số trên E(X)E(X). Tồn tại một số nguyên f≥0f \geq 0 sao cho v=upfv = u^{p^f} là đại số tách được trên E(X)E(X) (V, p. 44, Mệnh đề 13). Bởi A) do đó ta có v∈E(X)v \in E(X). Tồn tại một biểu diễn duy nhất của uu dưới dạng P/QP/Q với PP và QQ là các đa thức nguyên tố cùng nhau trong F[X]F[X] và QQ đơn nhất; ta có một phân tích tương tự v=P1/Q1v = P_1/Q_1 với P1P_1 và Q1Q_1 nguyên tố cùng nhau trong E[X]E[X] và Q1Q_1 đơn nhất. Suy ra rằng P1/Q1=Ppf/QpfP_1/Q_1 = P^{p^f}/Q^{p^f}; các đa thức PpfP^{p^f} và QpfQ^{p^f} nguyên tố cùng nhau trong F[X]F[X] (IV, p. 13, Hệ quả 6), cũng như P1P_1 và Q1Q_1, và QpfQ^{p^f} là đơn nhất. Suy ra rằng Ppf=P1∈E[X]P^{p^f} = P_1 \in E[X] và Qpf=Q1∈E[X]Q^{p^f} = Q_1 \in E[X]. Vậy các hệ số của PP và QQ là pp-căn trên EE, và do đó thuộc EE vì EE đóng đại số tương đối trong FF. Do đó ta có P∈E[X]P \in E[X], Q∈E[X]Q \in E[X] và cuối cùng u∈E(X)u \in E(X). Điều này chứng tỏ E(X)E(X) là đóng đại số tương đối trong F(X)F(X).

C) Ta dùng ký hiệu của Định lý 1. Vì K1K_1 là một mở rộng đại số tách được của KK, mở rộng K1(Xi)i∈IK_1(X_i)_{i \in I} của K(Xi)i∈IK(X_i)_{i \in I} là đại số và tách được (V, p. 39, Mệnh đề 6). Hơn nữa, mọi phần tử của LL là đại số và tách được trên KK đều thuộc KK, (V, p. 44, Mệnh đề 13, a)). Cho JJ là một tập con hữu hạn của II; bằng một phép quy nạp ngay lập tức theo lực lượng của JJ ta suy ra từ A) rằng mọi phần tử của L(Xi)i∈IL(X_i)_{i \in I}, là đại số và tách được trên K(Xi)i∈IK(X_i)_{i \in I}, đều thuộc K1(Xi)i∈JK_1(X_i)_{i \in J}. Cuối cùng, cho uu là một phần tử của L(Xi)i∈IL(X_i)_{i \in I}, đại số và tách được trên K(Xi)i∈IK(X_i)_{i \in I}; tồn tại một tập con hữu hạn JJ của II sao cho uu thuộc L(Xi)i∈IL(X_i)_{i \in I} và là đại số và tách được trên K(Xi)i∈JK(X_i)_{i \in J}; theo điều đã nói, uu thuộc K1(Xi)i∈JK_1(X_i)_{i \in J}, và a fortiori thuộc K1(Xi)i∈IK_1(X_i)_{i \in I}.

Như vậy ta đã suy ra từ A) rằng K1(Xi)i∈IK_1(X_i)_{i \in I} là bao đóng tách được tương đối của K(Xi)i∈IK(X_i)_{i \in I} trong L(Xi)i∈IL(X_i)_{i \in I}; cũng theo cách ấy suy ra từ B) rằng K2(Xi)i∈IK_2(X_i)_{i \in I} là bao đóng đại số tương đối của K(Xi)i∈IK(X_i)_{i \in I} trong L(Xi)i∈IL(X_i)_{i \in I}.

2. Tích tenxơ của các mở rộng

Mệnh đề 1

— Cho Ω\Omega là một mở rộng của một trường KK và cho L,ML, M là hai mở rộng con của Ω\Omega rời nhau về mặt đại số trên KK. Giả sử bao đóng đại số tách được tương đối của KK trong LL bằng KK^1. Gọi φ\varphi là đồng cấu đại số KK của L⊗KML \otimes_K M vào Ω\Omega ánh xạ x⊗yx \otimes y thành xyxy với x∈L,y∈Mx \in L, y \in M, và gọi pp là hạt nhân của φ\varphi. Khi đó pp là tập hợp các phần tử lũy linh của L⊗KML \otimes_K M và đó là iđêan nguyên tố nhỏ nhất của L⊗KML \otimes_K M.

Khi cần thiết thay thế Ω\Omega bằng một bao đóng đại số, ta có thể giả sử Ω\Omega đóng đại số. Gọi BB là một cơ sở siêu việt của MM trên KK, NN là bao đóng đại số tương đối của K(B)K(B) trong Ω\Omega và NrN_r (tương ứng NsN_s) là tập hợp các phần tử của NN tách được (tương ứng, p-căn) trên K(B)K(B). Ta nhận xét rằng MM là đại số trên K(B)K(B), do đó NN là bao đóng đại số tương đối của MM trong Ω\Omega.

L⟶L(B)⟶L(B∪Ns)↑↑↑K⟶K(B)⟶Ns↓↓M⟶N↑↓↓Nr⟶N⟶Ω \begin{array}{ccccccccc} L & \longrightarrow & L(B) & \longrightarrow & L(B \cup N_s) \\ \uparrow & & \uparrow & & \uparrow \\ K & \longrightarrow & K(B) & \longrightarrow & N_s \\ & & \downarrow & & \downarrow \\ & & M & \longrightarrow & N \\ \uparrow & & \downarrow & & \downarrow \\ N_r & \longrightarrow & N & \longrightarrow & \Omega \end{array}

Hình 1.

Hãy định nghĩa chuỗi đồng cấu sau:

L⊗KM→αL⊗KN→β(L⊗KK(B))⊗K(B)N→γL(B)⊗K(B)N L \otimes_K M \xrightarrow{\alpha} L \otimes_K N \xrightarrow{\beta} (L \otimes_K K(B)) \otimes_{K(B)} N \xrightarrow{\gamma} L(B) \otimes_{K(B)} N
→L(B)⊗K(B)Ns⊗K(B)Nr→εL(B∪Ns)⊗K(B)Nr→ζΩ. \rightarrow L(B) \otimes_{K(B)} N_s \otimes_{K(B)} N_r \xrightarrow{\varepsilon} L(B \cup N_s) \otimes_{K(B)} N_r \xrightarrow{\zeta} \Omega .

Ta có α=IdL⊗u\alpha = \mathrm{Id}_L \otimes u trong đó uu là đơn ánh chính tắc của MM vào NN, do đó α\alpha là đơn ánh. Ánh xạ β\beta là đẳng cấu của các nhóm giao hoán biến x⊗yx \otimes y thành (x⊗1)⊗y(x \otimes 1) \otimes y (II, p. 278, Mệnh đề 2) với x∈Lx \in L và y∈Ny \in N. Ta có γ=v⊗IdN\gamma = v \otimes \mathrm{Id}_N, trong đó vv là đồng cấu đại số KK của L⊗KK(B)L \otimes_K K(B) vào L(B)L(B) biến x⊗yx \otimes y thành xyxy, với x∈Lx \in L và y∈K(B)y \in K(B); vì LL và MM độc lập đại số trên KK, Mệnh đề 14 (V, p. 114) cho thấy rằng LL và K(B)K(B) độc lập tuyến tính trên KK, nói cách khác, vv là đơn ánh, do đó yy là đơn ánh. Vì NN là một mở rộng quasi-Galois của K(B)K(B), tồn tại (V, p. 76, Mệnh đề 13) một đẳng cấu đại số K(B)K(B) ww của Ns⊗K(B)NrN_s \otimes_{K(B)} N_r lên NN biến x⊗yx \otimes y thành

1 Giả thiết này đôi khi được diễn đạt bằng cách nói rằng LL là một mở rộng nguyên sơ của KK.

xy với x∈Nx \in \mathbf{N}, và y∈Nry \in \mathbf{N}_r; ta ký hiệu bởi 6 đẳng cấu IdL(B)⊗w 1\mathrm{Id}_{L(B)} \otimes w \ ^1. Theo Đl. 1 (V, p. 137) và giả thiết về mở rộng L của K, mọi phần tử của L(B)L(B) là đại số và tách được trên K(B)K(B) đều thuộc K(B)K(B); đặc biệt, ta có L(B)∩Ns=K(B)L(B) \cap N_s = K(B). Vì NrN_r là một mở rộng Galois của K(B)K(B), Đl. 5 (V, p. 71) cho thấy rằng tồn tại một đẳng cấu đại số trên K(B)K(B) w′w' của L(B)⊗K(B)NsL(B) \otimes_{K(B)} N_s lên L(BUNr)L(B U N_r) biến x⊗yx \otimes y thành xyxy với x∈L(B)x \in L(B) và y∈Nry \in N_r; ta ký hiệu bởi ε\varepsilon đẳng cấu w′⊗IdNrw' \otimes \mathrm{Id}_{N_r}. Cuối cùng, ζ\zeta là đồng cấu đại số trên K biến x⊗yx \otimes y thành xyxy với x∈L(BUNr)x \in L(B U N_r) và y∈Nry \in N_r.

Điều đã nói cho thấy rằng η=εδγβα\eta = \varepsilon \delta \gamma \beta \alpha là một đồng cấu đại số trên K đơn ánh của L⊗KML \otimes_K M vào L(BUNr)⊗K(B),NrL(B U N_r) \otimes_{K(B), N_r}. Hơn nữa, mọi phần tử của M đều có dạng ∑i=1naibi\sum_{i=1}^n a_i b_i với ai∈Na_i \in \mathbf{N}, và bi∈Nrb_i \in \mathbf{N}_r đối với 1≤i≤n1 \leq i \leq n; do đó ta thu được φ=ζη\varphi = \zeta \eta.

Hạt nhân pp của φ\varphi là một iđêan nguyên tố của L⊗KML \otimes_K M, nên mọi phần tử lũy linh của L⊗KML \otimes_K M đều thuộc pp, theo Mệnh đề 2 (V, p. 118). Ngược lại, cho aa là một phần tử của pp; đặt η(a)=∑r=1sbi⊗ci\eta(a) = \sum_{r=1}^s b_i \otimes c_i với bi∈L(BUNr)b_i \in L(B U N_r) và ci∈Nrc_i \in N_r đối với 1≤i≤s1 \leq i \leq s. Vì NrN_r là một mở rộng p-căn của K(B)K(B), tồn tại một số nguyên f≥0f \geq 0 sao cho cipfc_i^{p^f} thuộc K(B)K(B) đối với 1≤i≤s1 \leq i \leq s (trong đó pp là số mũ đặc số của K). Nhưng ta có

η(apf)=∑i=1sbipf⊗cipf=(∑i=1sbipfcipf)⊗1−ζη(a)pf⊗1=0 \eta(a^{p^f}) = \sum_{i=1}^s b_i^{p^f} \otimes c_i^{p^f} = \left( \sum_{i=1}^s b_i^{p^f} c_i^{p^f} \right) \otimes 1 - \zeta \eta(a)^{p^f} \otimes 1 = 0

và vì η\eta là đơn ánh nên cuối cùng ta có apf=0a^{p^f} = 0. Như vậy ta đã chứng minh pp là tập hợp tất cả các phần tử lũy linh của L⊗KML \otimes_K M. Bây giờ mọi iđêan nguyên tố của L⊗KML \otimes_K M đều chứa pp theo Mệnh đề 2 (V, p. 118).

Hệ quả

Cho L và M là hai mở rộng của một trường K. Giả sử bao đóng đại số tách được tương đối của K trong L bằng K. Khi đó tập hợp p các phần tử lũy linh của L⊗KML \otimes_K M là một iđêan nguyên tố. Hơn nữa, nếu L hoặc M tách được trên K, thì L⊗KML \otimes_K M là một miền nguyên.

Ta có thể giả sử rằng L và M là các mở rộng con rời nhau về mặt đại số của một mở rộng Ω\Omega của K (V, p. 116, Định lý 5); khi đó p là một iđêan nguyên tố theo Mệnh đề 1 (V, p. 139). Hơn nữa, nếu L hoặc M tách được trên K, thì L⊗KML \otimes_K M là một vành không có phần tử lũy linh khác không theo định nghĩa của mở rộng tách được (V, p. 119, Định nghĩa 1); do đó p=0p = 0 và L⊗KML \otimes_K M là một miền nguyên vì p là nguyên tố.

3. Đại số chính quy

Định nghĩa 1

Cho K là một trường. Một đại số A trên K được gọi là chính quy nếu L⊗KAL \otimes_K A là một miền nguyên với mọi mở rộng L của K.

Một đại số chính quy, đặc biệt, là một miền nguyên, do đó là giao hoán.

Mệnh đề 2

— Cho AA và BB là hai đại số trên một trường KK. Nếu AA là một miền nguyên và BB là chính quy thì A⊗KBA \otimes_K B là một miền nguyên.

Gọi LL là trường phân thức của AA. Vì BB là một KK-đại số chính quy, L⊗KBL \otimes_K B là một miền nguyên, do đó A⊗KBA \otimes_K B cũng vậy, vì nó đẳng cấu với một vành con của L⊗KBL \otimes_K B.

Mệnh đề 3

— Cho KK là một trường. a) Mọi đại số con của một KK-đại số chính quy tự nó cũng chính quy. b) Tích tenxơ của hai KK-đại số chính quy lại chính quy. c) Cho AA là một KK-đại số và K′K' là một mở rộng của KK. Để AA là chính quy, điều kiện cần và đủ là K′K'-đại số A(K′)A_{(K')} dẫn xuất từ AA bởi mở rộng vô hướng phải chính quy.

Chứng minh của a) (tương ứng, c)) giống hệt chứng minh của phần a) (tương ứng, d)) của Mệnh đề 3, V, p. 119, sau khi thay thế ở mọi nơi « vành rút gọn » bằng « miền nguyên » và « đại số tách được » bằng « đại số chính quy ». Ta hãy chứng minh b).

Cho AA và BB là hai KK-đại số chính quy. Cho LL là một mở rộng của KK. Vì AA là chính quy, vành L⊗KAL \otimes_K A là một miền nguyên. Theo Mệnh đề 2, vành (L⊗KA)⊗KB(L \otimes_K A) \otimes_K B là một miền nguyên, vì BB là chính quy. Sau cùng, vành L⊗K(A⊗KB)L \otimes_K (A \otimes_K B) đẳng cấu với (L⊗KA)⊗KB(L \otimes_K A) \otimes_K B, và do đó là một miền nguyên. Điều này cho thấy A⊗KBA \otimes_K B là một KK-đại số chính quy.

4. Các mở rộng chính quy

Định nghĩa 2

— Một mở rộng của một trường KK được gọi là chính quy nếu nó chính quy như một KK-đại số.

Mệnh đề 4

— Cho AA là một đại số trên trường KK là một miền nguyên, và EE là trường phân thức của nó. Cho LL là một mở rộng của KK; nếu vành L⊗KAL \otimes_K A là một miền nguyên thì điều tương tự cũng đúng với L⊗KEL \otimes_K E.

Nếu L⊗KAL \otimes_K A là một miền nguyên, nó có thể được nhúng vào trường phân thức FF của nó. Viết u(x)=x⊗1u(x) = x \otimes 1 với x∈Lx \in L và ký hiệu bởi vv đồng cấu KK của EE vào FF mở rộng đơn cấu y↦1⊗yy \mapsto 1 \otimes y của AA vào FF. Theo Mệnh đề 6 (V, p. 14), các trường con u(L)u(L) và v(E)v(E) của FF độc lập tuyến tính trên KK; do đó đồng cấu u∗vu * v của L⊗KEL \otimes_K E vào FF (V, p. 12) là đơn ánh. Điều này cho thấy L⊗KEL \otimes_K E là một miền nguyên.

Hệ quả

— Để AA là một KK-đại số chính quy thì điều kiện cần và đủ là trường phân thức của nó là một mở rộng chính quy của KK.

Điều kiện đó là cần theo Mệnh đề 4 và là đủ theo Mệnh đề 3, a).

Mệnh đề 5

— Mọi mở rộng thuần của một trường KK đều là chính quy.

Theo hệ quả trên, chỉ cần chứng minh rằng mọi đại số đa thức A=K[Xi]iA = K[X_i]_i đều là một KK-đại số chính quy. Cho LL là một mở rộng của KK; vành L⊗KAL \otimes_K A đẳng cấu với L[Xi]i∈IL[X_i]_{i \in I} (III, p. 449, Nhận xét 2), và do đó là một miền nguyên (IV, p. 9, Mệnh đề 8).

Mệnh đề 6

— Cho L là một mở rộng của một trường K. Nếu L là chính quy, thì mọi mở rộng con của L đều chính quy. Ngược lại, nếu mọi mở rộng con sinh hữu hạn của L đều chính quy, thì L là chính quy.

Mệnh đề thứ nhất suy ra từ Mệnh đề 3, a).

Cho M là một mở rộng của K và U\mathscr{U} là tập hợp tất cả các mở rộng con sinh hữu hạn của L. Với mỗi E ∈U\in \mathscr{U}, vành M⊗KEM \otimes_K E có thể được đồng nhất với một vành con của M⊗KLM \otimes_K L và do đó ta có một họ tăng có hướng các vành con của M⊗KLM \otimes_K L mà hợp là M⊗KLM \otimes_K L. Bây giờ mệnh đề thứ hai suy ra ngay lập tức.

Mệnh đề 7

— Cho L là một mở rộng của một trường K và M là một đại số trên L (ví dụ, một mở rộng của L). Nếu L là chính quy trên K và M là một đại số trên L chính quy, thì M là chính quy như một đại số trên K.

Cho E là một mở rộng của K; vì L là chính quy trên K, E⊗KLE \otimes_K L là một miền nguyên. Theo Mệnh đề 2 (V, p. 141), vành (E⊗KL)⊗LM(E \otimes_K L) \otimes_L M do đó là một miền nguyên và điều tương tự cũng đúng với vành E⊗KME \otimes_K M đẳng cấu với nó (II. p. 278, Mệnh đề 2). Vậy có kết quả.

Mệnh đề 8

— Cho L và M là hai mở rộng của một trường K.

a) Nếu M là chính quy trên K, thì trường phân thức của miền nguyên L⊗KML \otimes_K M là một mở rộng chính quy của L.

b) Nếu L và M là các mở rộng chính quy của K, thì điều tương tự cũng đúng đối với trường phân thức của L⊗KML \otimes_K M.

Mệnh đề a) suy ra từ Mệnh đề 3, c) (V, p. 141) và Hệ quả của V, p. 141; Mệnh đề b) suy ra từ Mệnh đề 3, b) (V, p. 141) và Hệ quả của V, p. 141.

5. Đặc trưng hóa các mở rộng chính quy

Mệnh đề 9

— Cho K là một trường, K‾\overline{K} là một bao đóng đại số của K và L là một mở rộng của K. Khi đó các điều kiện sau là tương đương:

a) L tách được trên K và K tương đối đóng đại số trong L.

b) L là một mở rộng chính quy của K.

c) Vành K‾⊗KL\overline{K} \otimes_K L là một miền nguyên.

d) Cho L‾\overline{L} là một bao đóng đại số của L. Khi đó L tách rời tuyến tính trên K với bao đóng đại số tương đối của K trong L‾\overline{L}.

Hơn nữa, khi các điều kiện này được thỏa mãn, thì K‾⊗KL\overline{K} \otimes_K L là một trường.

a) ⇒\Rightarrow b): Cho M là một mở rộng của K. Dưới các giả thiết của a), vành M⊗KLM \otimes_K L là một miền nguyên, theo V, p. 140, Hệ quả.

b) ⇒\Rightarrow c): Điều này suy ra từ Định nghĩa 2.

c) ⇒\Rightarrow d): Với ký hiệu của d) ta có thể đồng nhất K‾\overline{K} với bao đóng đại số tương đối của K trong L‾\overline{L} (V, p. 22, Bài tập 2). Giả sử rằng vành A=K‾⊗KLA = \overline{K} \otimes_K L là một miền nguyên. Cho E là một mở rộng con của K có bậc hữu hạn trên K; vành con

E ⊗K\otimes_K L của A là một miền nguyên và do đó là một đại số bậc hữu hạn trên L; theo Hệ quả của V, p. 10 nó là một trường. Vì Kˉ\bar{K} là hợp của tập có hướng tăng các mở rộng E thuộc kiểu trên, A là một trường (V, p. 11, Mệnh đề 3). Đồng cấu chính tắc từ A vào Lˉ\bar{L} ánh xạ x⊗yx \otimes y thành xyxy (với x∈Kˉx \in \bar{K} và y∈Ly \in L) vì thế là đơn ánh, nên L và Kˉ\bar{K} độc lập tuyến tính trên K.

d)⇒a)d) \Rightarrow a): Dưới các giả thiết của d) ta có L∩Kˉ=KL \cap \bar{K} = K, nên K đóng đại số tương đối trong L; hơn nữa nếu p là số mũ đặc số của K, trường LL độc lập tuyến tính với Kp−∞K^{p^{-\infty}} trên KK, do đó L tách được trên K (V, p. 123, Hệ quả 1).

Hệ quả 1

— Để A là một đại số chính quy trên một trường K thì điều kiện cần và đủ là vành Kˉ⊗KA\bar{K} \otimes_K A là một miền nguyên.

Điều kiện đã nêu rõ ràng là cần thiết. Ngược lại, giả sử rằng Kˉ⊗KA\bar{K} \otimes_K A là một miền nguyên và ký hiệu bởi E trường phân thức của A. Theo Mệnh đề 4 (V, p. 141) vành Kˉ⊗KE\bar{K} \otimes_K E là một miền nguyên, do đó E là một mở rộng chính quy của K, theo Mệnh đề 9; theo V, p. 141, Hệ quả, ta kết luận rằng A là chính quy như một đại số trên K.

Hệ quả 2

— Cho K là một trường đóng đại số. Mọi đại số trên K là một miền nguyên đều là một đại số trên K chính quy. Đặc biệt, mọi mở rộng của K đều là chính quy.

Điều này suy ra từ Hệ quả 1.

Hệ quả 3

— Cho K là một trường đóng đại số. Nếu A và B là hai đại số trên K là những miền nguyên, thì A⊗KBA \otimes_K B cũng vậy.

Theo Hệ quả 2, A và B là các đại số trên K chính quy, và chỉ cần áp dụng Mệnh đề 2 (V, p. 141).

6. Ứng dụng cho các mở rộng hợp thành

Mệnh đề 10

— Cho L và M là hai mở rộng của một trường K và (E,u,v)(E, u, v) là một mở rộng hợp thành của L và M (V, p. 12). Giả sử rằng vành L⊗KML \otimes_K M là một miền nguyên và các mở rộng con u(L)u(L) và v(M)v(M) của E là đóng đại số rời nhau trên K. Khi đó u(L)u(L) và v(M)v(M) độc lập tuyến tính trên K.

Đặt w=u∗vw = u * v (V, p. 12), ký hiệu bởi F trường phân thức của miền nguyên L⊗KML \otimes_K M và đồng nhất L (ứng với M) với một trường con của F bằng ánh xạ x↦x⊗1x \mapsto x \otimes 1 (ứng với y↦1⊗yy \mapsto 1 \otimes y); khi đó hạn chế của w lên L (ứng với M) là u (ứng với v). Cho B là một cơ sở siêu việt của M trên K (V, p. 109, Định lý 1).

Theo giả thiết, u(L)u(L) và v(M)v(M) rời nhau về mặt đại số trên K; do đó (V, p. 114, Mệnh đề 14), u(L)u(L) và v(K(B))v(K(B)) rời nhau tuyến tính trên K. Vì vậy tồn tại một K-đồng cấu u′:L(B)→Eu': L(B) \to E trùng với u trên L và với v trên K(B). Theo phép dựng, L và M rời nhau tuyến tính trên K trong F; theo Mệnh đề 8 (V, p. 15), các trường con L(B)L(B) và MM của F rời nhau tuyến tính trên K(B)K(B). Suy ra rằng tồn tại một K-đồng cấu w′:M[L(B)]→Ew' : M[L(B)] \to E trùng với u′u' trên L(B)L(B) và với vv trên MM. Nhưng trường FF được sinh bởi M∪L(B)M \cup L(B) và MM là đại số trên K(B)K(B); do đó ta có M[L(B)]=FM[L(B)] = F (V, p. 18, Hệ quả 2). Vậy ta kết luận rằng w′w' là một K-đẳng cấu của FF lên EE mà hạn chế của nó trên LL (tương ứng, MM) là uu (tương ứng, vv). Điều này chứng tỏ u(L)u(L) và v(M)v(M) rời nhau tuyến tính trên KK.

Hệ quả 1

Cho Ω\Omega là một mở rộng của một trường KK và LL là một mở rộng con của Ω\Omega chính quy trên KK. Mọi mở rộng con MM của Ω\Omega rời nhau về mặt đại số với LL trên KK đều rời nhau tuyến tính.

Vành L⊗KML \otimes_K M là một miền nguyên theo định nghĩa của mở rộng chính quy, và bây giờ chỉ cần áp dụng Mệnh đề 10.

Hệ quả 2

Cho Ω\Omega là một mở rộng của một trường KK và L,ML, M là hai mở rộng con của Ω\Omega. Giả sử rằng LL tách được trên KK và bao đóng tách được tương đối của KK trong MM bằng KK. Nếu LL và MM rời nhau đại số trên KK, thì chúng rời nhau tuyến tính trên KK.

Theo Mệnh đề 10, chỉ cần nhận xét rằng vành L⊗KML \otimes_K M là một miền nguyên (V, p. 140, Hệ quả).

Bài tập

Bài tập

Xem bài tập cho § 17.

Machine translation of the English, by gpt-5.4, against glossary version 34. Not checked by a person.