Bourbaki

9. Các không gian compact và các không gian compact địa phương

1. Các không gian quasi-compact và các không gian compact

Định nghĩa 1

Một không gian tôpô* XX được gọi là quasi-compact nếu nó thỏa mãn tiên đề sau:

(C) Mọi lọc trên XX đều có ít nhất một điểm tụ.

Một không gian tôpô được gọi là compact nếu nó quasi-compact và Hausdorff.

Từ tiên đề này suy ra ngay rằng nếu ff là một ánh xạ của một tập hợp ZZ vào một không gian quasi-compact XX, và F\mathfrak{F} là bất kỳ một lọc nào trên ZZ, thì ff có ít nhất một điểm tụ đối với F\mathfrak{F}. Đặc biệt, mọi dãy điểm của một không gian quasi-compact đều có ít nhất một điểm tụ; nhưng điều kiện này không tương đương với (C) (Bài tập 11).

Ta nêu ba tiên đề, mỗi tiên đề đều tương đương với tiên đề (C):

(C') Mọi siêu lọc trên XX đều hội tụ.

(C') ⟹\Longrightarrow (C): Nếu F\mathfrak{F} là một lọc trên XX thì có một siêu lọc mịn hơn F\mathfrak{F} (§ 6, no. 4, Định lý 1). Vì siêu lọc này hội tụ đến một điểm xx, nên xx là một điểm tụ của F\mathfrak{F}.

(C) ⟹\Longrightarrow (C'): Vì nếu một siêu lọc có một điểm tụ thì nó hội tụ đến điểm này (§ 7, no. 2, Hệ quả của Mệnh đề 4).

Nếu ff là một ánh xạ của một tập hợp ZZ vào một không gian quasi-compact XX, và U\mathfrak{U} là một siêu lọc trên ZZ, thì ff có ít nhất một điểm giới hạn đối với U\mathfrak{U} (§ 6, no. 6, Mệnh đề 10).

(C'') Mọi họ các tập hợp con đóng của XX có giao rỗng đều chứa một họ con hữu hạn có giao rỗng.

(C) ⟹\Longrightarrow (C''): Giả sử G\mathfrak{G} là một họ các tập hợp con đóng của XX có giao rỗng. Nếu mọi họ con hữu hạn của G\mathfrak{G} đều có giao khác rỗng, thì G\mathfrak{G} sinh ra một lọc (§ 6, no. 2, Mệnh đề 1) và lọc này có một điểm tụ theo giả thiết. Điểm này thuộc mọi tập hợp của G\mathfrak{G} (vì chúng đóng); do đó ta có một mâu thuẫn.

(C′′)  ⟹  (C)(C'') \implies (C): Vì nếu (C)(C) sai thì tồn tại một lọc F\mathfrak{F} trên XX không có điểm tụ; do đó các bao đóng của các tập hợp của F\mathfrak{F} tạo thành một họ các tập hợp con đóng của XX mâu thuẫn với tiên đề (C′′)(C'').

(C′′′)(C''') (Tiên đề Borel-Lebesgue) Mọi phủ mở của XX đều chứa một phủ mở hữu hạn của XX.

(C′′′)  ⟺  (C′′)(C''') \iff (C'') bằng cách lấy phần bù.

Nếu XX là quasi-compact, thì mọi phủ hữu hạn địa phương R\mathfrak{R} của XX đều hữu hạn. Vì mỗi điểm của XX đều có một lân cận mở chỉ giao với một số hữu hạn các tập hợp của R\mathfrak{R}, và bởi (C′′′)(C''') thì một số hữu hạn các lân cận này phủ XX.

Ví dụ 1

Mọi không gian hữu hạn đều quasi-compact, và nói chung mọi không gian chỉ có một số hữu hạn các tập hợp mở đều quasi-compact. Một không gian hữu hạn là compact khi và chỉ khi nó rời rạc, vì một không gian Hausdorff hữu hạn là rời rạc (§8§ 8, no. 1, Hệ quả của Mệnh đề 3). Ngược lại, mọi không gian compact rời rạc đều hữu hạn, vì trong một không gian như vậy các tập hợp gồm một điểm là mở; do đó không gian là hữu hạn bởi (C′′′)(C''').

Ví dụ 2

Cho XX là một tập hợp, và trang bị cho XX tôpô trong đó các tập đóng là XX và tất cả các tập con hữu hạn của XX [tập hợp các tập con này hiển nhiên thỏa mãn các tiên đề (O1′)(O'_1) và (OII′)(O'_{II}) của §1§ 1, no. 4]. Không gian tôpô được định nghĩa như vậy là quasi-compact. Thật vậy, nếu (Fi)i∈I(F_i)_{i \in I} là một họ các tập con đóng của XX có giao rỗng, thì FαF_\alpha là hữu hạn với một chỉ số α∈I\alpha \in I nào đó. Cho aka_k (1≤k≤n1 \leq k \leq n) là các phần tử của FαF_\alpha; khi đó theo giả thiết, với mỗi chỉ số kk có một chỉ số ik∈Ii_k \in I sao cho ak∉Fika_k \notin F_{i_k}; do đó giao của các FikF_{i_k} (1≤k≤n1 \leq k \leq n) với FαF_\alpha là rỗng, từ đó tiên đề (C′′)(C'') được thỏa mãn. Nếu XX là vô hạn thì nó không Hausdorff.

Nhận xét

Các không gian quasi-compact (không Hausdorff) chủ yếu có ích trong các ứng dụng của tôpô vào hình học đại số và hiếm khi xuất hiện trong các lý thuyết toán học khác, nơi mà ngược lại các không gian compact đóng một vai trò quan trọng.

Định lý 1

Cho* F\mathfrak{F} là một bộ lọc trên một không gian quasi-compact XX và cho AA là tập hợp các điểm tụ của F\mathfrak{F}. Khi đó mọi lân cận của AA đều thuộc F\mathfrak{F}.

Cho VV là một lân cận của AA và giả sử rằng mọi tập hợp của F\mathfrak{F} đều giao với ∁V\complement V. Khi đó các giao của những tập hợp của F\mathfrak{F} với ∁V\complement V tạo thành một cơ sở của một bộ lọc G\mathfrak{G} trên XX; XX là quasi-compact, nên G\mathfrak{G} có ít nhất một điểm tụ yy, điểm này không thuộc AA, vì lân cận VV của AA không giao với một số tập của G\mathfrak{G}. Nhưng vì G\mathfrak{G} mịn hơn F\mathfrak{F}, nên yy cũng là một điểm tụ của F\mathfrak{F}, trái với giả thiết.

Hệ quả

Để một bộ lọc trên một không gian compact hội tụ thì cần và đủ là nó có một điểm tụ duy nhất.

Tính cần thiết theo § 8, no. 1, Mệnh đề 1; tính đủ theo Định lý 1 trên đây.

2. Tính chính quy của một không gian compact

Mệnh đề 1

Cho XX là một không gian compact, xx là một điểm của XX. Để một cơ sở của bộ lọc BB gồm các lân cận đóng của xx là một hệ cơ bản các lân cận của xx thì cần và đủ là giao của các tập của BB chỉ gồm xx.

Điều kiện là cần thiết vì XX là Hausdorff (§ 8, no. 1, Mệnh đề 1). Điều đó là đủ, vì nó có nghĩa là xx là điểm tụ duy nhất của BB; do đó BB hội tụ về xx theo Hệ quả của Định lý 1 ở no. 1.

Hệ quả

Mọi không gian compact đều chính quy.

Vì từ tiên đề (Hi) (§ 8, no. 1, Mệnh đề 1) suy ra rằng cơ sở của bộ lọc được tạo bởi tất cả các lân cận đóng của một điểm tùy ý của không gian thỏa mãn điều kiện của Mệnh đề 1.

Mệnh đề sau làm rõ Hệ quả của Mệnh đề 1:

Mệnh đề 2

Cho XX là một không gian compact và cho AA, BB là hai tập con đóng rời nhau của XX. Khi đó tồn tại hai tập mở UU, VV, sao cho U∩V=∅U \cap V = \varnothing và A⊂UA \subset U và B⊂VB \subset V.

Giả sử kết luận là sai. Nếu mọi lân cận UU của AA đều giao với mọi lân cận VV của BB, thì các tập U∩VU \cap V tạo thành một cơ sở của bộ lọc BB trên XX, do đó có một điểm tụ x∈Xx \in X. Bây giờ xx phải thuộc AA, vì nếu yy là một điểm bất kỳ của XX không thuộc AA thì có một lân cận của yy và một lân cận của AA không giao nhau, vì XX chính quy, và do đó yy không thể là một điểm tụ của BB. Tương tự xx phải thuộc BB và ta có một mâu thuẫn.

Mệnh đề này có những hệ quả quan trọng sẽ được xét trong Chương IX, § 4.

Không gian quasi-compact không Hausdorff XX của Ví dụ 2 ở no. 1 không thỏa mãn tiên đề (OIII)(O_{III}), và do đó a fortiori cũng không thỏa mãn tính chất nêu trong Mệnh đề 2, vì bất kỳ hai tập mở không rỗng nào của không gian này luôn giao nhau.

3. Các tập quasi-compact; các tập compact; các tập tương đối compact

Định nghĩa 2

Một tập con AA của một không gian tôpô XX được gọi là một tập quasi-compact (resp. compact) nếu không gian con AA là quasi-compact (resp. compact).

Một tập con AA của một không gian tôpô XX là một tập quasi-compact khi và chỉ khi mọi phủ của AA bởi các tập mở của XX chứa một phủ hữu hạn của AA; điều này suy ra từ tiên đề (C′′′)(C'''). Trong một không gian Hausdorff, các khái niệm tập quasi-compact và tập compact là như nhau, vì mọi không gian con đều Hausdorff.

Ví dụ 1

Trong một không gian tôpô XX, mọi tập con hữu hạn đều quasi-compact; tập rỗng và mọi tập hợp gồm một điểm đều compact.

Ví dụ 2

Trong một không gian tôpô XX, cho (xn)n∈N(x_n)_{n \in \mathbf{N}} là một dãy vô hạn các điểm hội tụ đến một điểm aa; khi đó tập AA gồm các điểm xnx_n (n∈Nn \in \mathbf{N}) và aa là quasi-compact. Thật vậy, nếu (Ui)(U_i) là một phủ của AA bởi các tập mở của XX, thì a∈Uxa \in U_x với một chỉ số xx nào đó. UxU_x là một lân cận của aa và do đó chỉ có một số hữu hạn chỉ số nkn_k sao cho xnk∉Uxx_{n_k} \notin U_x. Với mỗi chỉ số kk cho iki_k là một chỉ số sao cho xnk∈Uikx_{n_k} \in U_{i_k}; khi đó UxU_x và các UikU_{i_k} tạo thành một phủ mở hữu hạn của AA.

Mệnh đề 3

Mọi tập con đóng của một không gian quasi-compact* (resp. compact) đều quasi-compact (resp. compact).

Đây là một hệ quả ngay lập tức của tiên đề (C′′)(C'') nếu ta nhận xét rằng nếu AA đóng trong XX thì mọi tập hợp nào đóng trong AA cũng đóng trong XX.

Mệnh đề 4

Mọi tập con compact của một không gian Hausdorff đều đóng.

Cho AA là một tập con compact của một không gian Hausdorff XX, và cho xx là một điểm bất kỳ của A‾\overline{A}; ta phải chứng minh rằng x∈Ax \in A. Theo giả thiết, mọi lân cận của xx đều gặp AA, và do đó bộ lọc lân cận B\mathfrak{B} của xx trong XX gây ra một bộ lọc BA\mathfrak{B}_A trên AA; AA là compact do đó BA\mathfrak{B}_A có một điểm tụ y∈Ay \in A. Vì bộ lọc B\mathfrak{B} thô hơn bộ lọc trên XX sinh bởi BA\mathfrak{B}_A (coi như một cơ sở bộ lọc trên XX), nên yy cũng là một điểm tụ của B\mathfrak{B}; do đó y=xy = x, vì B\mathfrak{B} hội tụ tới xx trong XX và XX là Hausdorff (§ 8, no. 1, Mệnh đề 1).

Hệ quả

Trong một không gian compact* XX một tập con AA là compact nếu và chỉ nếu nó đóng trong XX.

Mệnh đề 5

Hợp của một họ hữu hạn các tập con quasi-compact của một không gian tôpô là quasi-compact.

Chỉ cần chứng minh rằng nếu AA và BB là hai tập con quasi-compact của một không gian tôpô XX, thì A∪BA \cup B là quasi-compact. Cho R\mathscr{R} là phủ của A∪BA \cup B; khi đó R\mathscr{R} là phủ của AA và là phủ của BB; do đó R\mathscr{R} chứa một phủ hữu hạn R1\mathscr{R}_1 của AA và một phủ hữu hạn R2\mathscr{R}_2 của BB; R1∪R2\mathscr{R}_1 \cup \mathscr{R}_2 vì thế là một phủ hữu hạn của A∪BA \cup B chứa trong R\mathscr{R}.

Định nghĩa 3

Một tập con* AA của một không gian tôpô XX được gọi là tương đối quasi-compact (resp. tương đối compact) trong XX nếu AA được chứa trong một tập con quasi-compact (resp. compact) của XX.

Nói gọn, ta cũng nói rằng AA là một "tập quasi-compact tương đối" (resp. "tập compact tương đối") khi không có sự nhập nhằng nào về XX. Trong một không gian Hausdorff, các khái niệm tập quasi-compact tương đối và tập compact tương đối là như nhau.

Mệnh đề 6

Nếu XX là một không gian Hausdorff, thì một tập con AA của XX là tương đối compact khi và chỉ khi A‾\overline{A} là compact.

Nếu AA là tương đối compact, thì A‾\overline{A} compact theo Mệnh đề 4 và hệ quả của nó; chiều ngược lại là hiển nhiên.

Mệnh đề 7

Nếu AA là một tập con quasi-compact tương đối của một không gian tôpô XX, thì mọi cơ sở lọc trên AA đều có một điểm tụ trong XX. \

Thật vậy, nếu A⊂KA \subset K, trong đó KK là một tập con quasi-compact của XX, thì mọi cơ sở lọc trên AA đều có một điểm tụ trong KK.

Đảo lại của mệnh đề này không đúng nếu không có hạn chế nào trên XX (Bài tập 22).

Nhận xét

Trong một không gian không Hausdorff, một tập compact không nhất thiết đóng, và bao đóng của nó không nhất thiết quasi-compact (Bài tập 5); giao của hai tập compact không nhất thiết quasi-compact (Bài tập 5); hợp của hai tập compact không nhất thiết compact (Bài tập 5).

4. Ảnh của một không gian compact qua một ánh xạ liên tục

Định lý 2

Nếu ff là một ánh xạ liên tục từ một không gian quasi-compact XX vào một không gian tôpô X′X', thì tập f(X)f(X) là quasi-compact.

Cho R\mathscr{R} là một phủ của f(X)f(X) bởi các tập mở trong X′X'; khi đó f‾−1(R)\overline{f}^{-1}(\mathscr{R}) là một phủ mở của XX (§ 2, no. 1, Định lý 1); do đó tồn tại một tập con hữu hạn S\mathscr{S} của R\mathscr{R} sao cho (Sf‾)(\mathscr{S} \overline{f}) là một phủ của XX; nhưng khi đó S\mathscr{S} là một phủ của f(X)f(X) và định lý được chứng minh.

Hệ quả 1

Cho ff là một ánh xạ liên tục của một không gian tôpô XX vào một không gian Hausdorff X′X'. Khi đó ảnh qua ff của bất kỳ tập gần compact nào (tương ứng gần compact tương đối) trong XX là một tập compact (tương ứng compact tương đối) trong X′X'.

Hệ quả 2

Mọi ánh xạ liên tục ff của một không gian gần compact XX vào một không gian Hausdorff X′X' đều là ánh xạ đóng. Nếu thêm ff là song ánh, thì ff là một đồng phôi.

Điều này suy ra ngay lập tức từ Hệ quả 1 và Mệnh đề 4 của no. 3.

Đặc biệt:

Hệ quả 3

Một tôpô Hausdorff thô hơn tôpô của một không gian gần compact phải trùng với tôpô nói trên.

Hệ quả 4

Cho XX là một không gian tôpô và RR là một quan hệ tương đương Hausdorff trên XX.

a) Nếu có một tập gần compact KK trong XX mà giao với mọi lớp tương đương mod RR, thì X/RX/R là compact và ánh xạ chính tắc của K/RKK/R_K lên X/RX/R là một đồng phôi.

b) Nếu KK cũng gặp mỗi lớp tương đương tại đúng một điểm, thì KK là một tiết diện liên tục của XX đối với quan hệ RR (§ 3, no. 5).

Cho ff là hạn chế trên KK của ánh xạ chính tắc X→X/RX \to X/R. Vì X/RX/R là Hausdorff nên suy ra từ Hệ quả 1 rằng X/RX/R là compact và từ Hệ quả 2 rằng ff là đóng; do đó song ánh K/RK→X/RK/R_K \to X/R tương ứng với ff là một đồng phôi (§ 5, no. 2, Mệnh đề 3). Điều này giải quyết a); b) suy ra ngay lập tức, vì lúc này ta có K/RK=KK/R_K = K.

5. Tích của các không gian compact

Định lý 3 (Tychonoff)

Mọi tích của các không gian gần compact (tương ứng compact) đều là gần compact (tương ứng compact). Ngược lại, nếu một tích của các không gian không rỗng là gần compact (tương ứng compact) thì mỗi nhân tử đều là gần compact (tương ứng compact).

Xét theo đặc trưng hóa các không gian tích Hausdorff được cho trong § 8, no. 2, Mệnh đề 7, chỉ cần chứng minh các khẳng định đối với các không gian gần compact. Nếu X=∏i∈IXiX = \prod_{i \in I} X_i là gần compact và không rỗng, thì Xi=pr⁡i(X)X_i = \operatorname{pr}_i(X) là gần compact do Định lý 2 của no. 4. Ngược lại, giả sử các XiX_i đều gần compact và cho U\mathfrak{U} là một siêu lọc trên XX; khi đó với mỗi i∈Ii \in I, pr⁡i(U)\operatorname{pr}_i(\mathfrak{U}) là một cơ sở siêu lọc trên XiX_i (§ 6, no. 6, Mệnh đề 10) nên do tiên đề (C') nó hội tụ; vì vậy U\mathfrak{U} hội tụ (§ 7, no. 6, Hệ quả 1 của Mệnh đề 10) và do đó XX là gần compact.

Hệ quả

Để một tập con của một tích các không gian tôpô là gần compact tương đối thì điều kiện cần và đủ là mỗi ảnh chiếu của nó phải gần compact tương đối trong nhân tử tương ứng.

Điều kiện cần suy ra từ Định lý 2 của § 4. Để chứng minh điều kiện đủ, cho AA là một tập con của ∏iXi\prod_i X_i sao cho, với mỗi chỉ số ii, pr⁡i(A)\operatorname{pr}_i(A) được chứa trong một tập gần compact KiK_i của XiX_i; khi đó AA được chứa trong tập gần compact ∏iKi\prod_i K_i của ∏iXi\prod_i X_i.

6. Giới hạn nghịch đảo của các không gian compact

Mệnh đề 8

Cho (Xα,fαβ)(X_\alpha, f_{\alpha\beta}) là một hệ ngược các không gian compact được chỉ số bởi một tập có hướng II sao cho fααf_{\alpha\alpha} là ánh xạ đồng nhất với mỗi α∈I\alpha \in I. Đặt X=lim←⁡XαX = \varprojlim X_\alpha là giới hạn ngược và fα:X→Xαf_\alpha : X \to X_\alpha là ánh xạ chính tắc (§ 4, no. 4). Khi đó a) XX là compact và với mỗi α∈I\alpha \in I ta có

fα(X)=⋂β≥αfαβ(Xβ). f_\alpha(X) = \bigcap_{\beta \geq \alpha} f_{\alpha\beta}(X_\beta).
b) Nếu các XαX_\alpha đều không rỗng thì XX không rỗng.

XX là một không gian con đóng của ∏αXα\prod_\alpha X_\alpha (§ 8, no. 2, Mệnh đề 7, Hệ quả 2) và do Định lý 3 của no. 5 cùng Mệnh đề 3 của no. 3 thì nó compact. Các khẳng định còn lại là hệ quả của Lý thuyết tập hợp, chương III, § 7, no. 4, Định lý 1. Ta áp dụng định lý này bằng cách lấy Sα\mathscr{S}_\alpha là tập hợp các tập con đóng của XαX_\alpha. Các điều kiện (i) và (ii) chỉ là các tiên đề (O1′)(O'_1) và (C′′)(C'') tương ứng; điều kiện (iii) được thỏa vì {xα}\{x_\alpha\} là đóng và fαβf_{\alpha\beta} liên tục (§ 2, no. 1, Định lý 1), và cuối cùng điều kiện (iv) được thỏa nhờ Hệ quả 2 của Định lý 2 của no. 4.

Hệ quả 1

Cho* (Xα,fαβ)(X_\alpha, f_{\alpha\beta}) là một hệ ngược các không gian tôpô được chỉ số bởi một tập có hướng, sao cho với mỗi cặp chỉ số α,β\alpha, \beta mà α≤β\alpha \leq \beta và với mỗi xα∈Xαx_\alpha \in X_\alpha, f‾αβ−1(xα)\overline{f}_{\alpha\beta}^{-1}(x_\alpha) là compact. Khi đó đẳng thức (1) đúng và f‾α−1(xα)\overline{f}_{\alpha}^{-1}(x_\alpha) là compact với mỗi chỉ số α\alpha và mỗi xα∈Xαx_\alpha \in X_\alpha.

Với mỗi xα∈⋂β≥αfαβ(Xβ)x_\alpha \in \bigcap_{\beta \geq \alpha} f_{\alpha\beta}(X_\beta) và mỗi β≥α\beta \geq \alpha, đặt LβL_\beta là f‾αβ−1(xα)\overline{f}_{\alpha\beta}^{-1}(x_\alpha). Nếu α≤β≤γ\alpha \leq \beta \leq \gamma, thì ta có fβγ(Lγ)⊂Lβf_{\beta\gamma}(L_\gamma) \subset L_\beta và tập hợp mọi chỉ số β≥α\beta \geq \alpha là đồng cuối trong tập chỉ số. Suy ra ngay rằng các LβL_\beta (β≥α\beta \geq \alpha) tạo thành một hệ ngược các không gian tôpô (với các hạn chế của các fβγf_{\beta\gamma} làm ánh xạ), mà giới hạn ngược LL của chúng đồng phôi với f‾α−1(xα)\overline{f}_{\alpha}^{-1}(x_\alpha). Vì theo giả thiết các LβL_\beta là compact và không rỗng, hệ quả suy ra từ Mệnh đề 8.

Hệ quả 2

Cho* (Xα,fαβ)(X_\alpha, f_{\alpha\beta}) và (Xα′,fαβ′)(X'_\alpha, f'_{\alpha\beta}) là hai hệ ngược các không gian tôpô được chỉ số bởi cùng một tập có hướng II, và cho (uα)(u_\alpha) là một hệ ngược các ánh xạ uα:Xα→Xα′u_\alpha : X_\alpha \to X'_\alpha. Đặt X=lim←⁡XαX = \varprojlim X_\alpha, X′=lim←⁡Xα′X' = \varprojlim X'_\alpha, u=lim←⁡uαu = \varprojlim u_\alpha. Khi đó: a) Nếu x′=(xα′)∈X′x' = (x'_\alpha) \in X' sao cho u′‾α−1(xα′)\overline{u'}_{\alpha}^{-1}(x'_\alpha) compact và không rỗng với mỗi α∈I\alpha \in I, thì u‾−1(x′)\overline{u}^{-1}(x') compact và không rỗng.

b) Nếu các XαX_\alpha là compact, các Xα′X'_\alpha Hausdorff và các uαu_\alpha toàn ánh và liên tục, thì uu *toàn ánh.

Gọi LαL_\alpha là u‾α−1(xα′)\overline{u}_\alpha^{-1}(x'_\alpha); khi đó rõ ràng các LαL_\alpha lập thành một hệ ngược của các không gian tôpô (với các hạn chế của các fαβf_{\alpha\beta} làm ánh xạ) và u‾−1(x′=L)\overline{u}^{-1}(x' = L) là giới hạn ngược của các LαL_\alpha; do đó mệnh đề a) suy ra từ Mệnh đề 8. Mệnh đề b) là một hệ quả tức thì, xét đến Mệnh đề 3 của no. 3.

7. Các không gian địa phương compact

Định nghĩa 4

Một không gian tôpô XX được gọi là địa phương compact nếu nó là Hausdorff và nếu mỗi điểm của XX đều có một lân cận compact.

Rõ ràng một không gian compact là địa phương compact, nhưng điều ngược lại là sai; chẳng hạn, mọi không gian rời rạc đều là địa phương compact, nhưng không compact nếu vô hạn.

\* Như ta sẽ thấy ở Chương IV, § 2, đường thẳng thực R\mathbf{R} là địa phương compact, nhưng không compact. \*

Mệnh đề 9

Mọi không gian địa phương compact đều chính quy.

Cho XX là một không gian địa phương compact, thì mỗi điểm x∈Xx \in X đều có một lân cận compact VV; vì XX là Hausdorff, nên VV đóng (no. 3, Mệnh đề 4). Mặt khác, VV là một không gian con chính quy của XX (no. 2, Hệ quả của Mệnh đề 1) và do đó XX chính quy (§ 8, no. 4, Mệnh đề 13).

Hệ quả

Trong một không gian địa phương compact, mỗi điểm đều có một hệ cơ bản các lân cận compact.

Vì giao của một lân cận đóng của xx và một lân cận compact của xx là một lân cận compact của xx (no. 3, Mệnh đề 3).

Tồn tại những không gian tôpô không Hausdorff mà trong đó mỗi điểm đều có một hệ cơ bản các lân cận compact (Bài tập 5).

Hệ quả của Mệnh đề 9 có thể được tổng quát hóa như sau:

Mệnh đề 10

Trong một không gian địa phương compact XX, mọi tập compact KK đều có một hệ cơ bản các lân cận compact.

Cho UU là một lân cận tùy ý của KK. Với mỗi x∈Kx \in K có một lân cận compact W(x)W(x) của xx được chứa trong UU. Các phần trong của các tập

W(x) lập thành một phủ mở của K khi x chạy qua K; do đó tồn tại một số hữu hạn các điểm xi∈Kx_i \in K (1≤i≤n1 \leq i \leq n) sao cho các phần trong của các W(x_i) phủ K. Hợp V của các W(x_i) vì thế là một lân cận compact của K được chứa trong U (no. 3, Mệnh đề 5).

Mệnh đề 11

Cho X là một không gian địa phương compact và F là một tập con của X sao cho F \cap K là compact hễ khi nào K là một tập con compact của X. Khi đó F đóng trong X.

Xét Mệnh đề 4 của no. 3, điều này suy ra từ Mệnh đề 3 a) của § 3, no. 1.

Mệnh đề 12

Trong một không gian Hausdorff X, mọi không gian con địa phương compact A đều đóng địa phương.

Theo giả thiết, với mọi x∈Ax \in A đều có một lân cận V của x trong X sao cho V∩AV \cap A là compact và do đó đóng trong V (no. 3, Mệnh đề 4).

Mệnh đề 13

Mọi không gian con đóng địa phương của một không gian địa phương compact X đều địa phương compact.

Cho A là một không gian con đóng địa phương của X; khi đó với mỗi x∈Ax \in A có một lân cận U của x trong X sao cho U∩AU \cap A đóng trong U. Cho V⊂UV \subset U là một lân cận compact của x trong X; V∩A=V∩(U∩A)V \cap A = V \cap (U \cap A) đóng trong V và do đó compact (no. 3, Mệnh đề 3). Vì V∩AV \cap A là một lân cận của x trong A, nên điều phải chứng minh đã xong (rõ ràng A là Hausdorff).

Định lý 1 (no. 1) và Hệ quả 2 của Định lý 2 (no. 4) không mở rộng sang các không gian địa phương compact không compact.

Chẳng hạn, trong một không gian rời rạc vô hạn X, bộ lọc gồm những tập chứa một điểm x∈Xx \in X đã cho và có phần bù hữu hạn có x là điểm tụ duy nhất của nó nhưng không hội tụ đến x. Vì mọi ánh xạ f của X vào một không gian Hausdorff X' đều liên tục, ảnh của một tập con tùy ý của X qua f (tập này đóng trong X, vì X là rời rạc) nói chung sẽ không là một tập con đóng của X'.

Mệnh đề tương ứng với Định lý 3 của no. 5 là mệnh đề sau đây:

Mệnh đề 14

a) *Cho (Xi)i∈I(X_i)_{i \in I} là một họ các không gian địa phương compact sao cho XiX_i compact đối với mọi chỉ số trừ một số hữu hạn. Khi đó không gian tích X=∏i∈IXiX = \prod_{i \in I} X_i là địa phương compact.

b) Ngược lại, nếu tích của một họ (Xi)i∈I(X_i)_{i \in I} các không gian tôpô không rỗng là địa phương compact, thì các thừa số XiX_i là compact đối với mọi chỉ số trừ một số hữu hạn, và các thừa số không compact là địa phương compact.

b) Nếu X=∏i∈IXiX = \prod_{i \in I} X_i là địa phương compact và các XiX_i không rỗng, thì mỗi XiX_i đồng phôi với một không gian con đóng của XX (§4§ 4, no. 2, Mệnh đề 4 và §4§ 4, no. 3, Hệ quả của Mệnh đề 7), nên địa phương compact theo Mệnh đề 13. Cho a=(ai)a = (a_i) là một điểm của XX và cho VV là một lân cận compact của aa; vì ta có pr⁡iV=Xi\operatorname{pr}_i V = X_i đối với mọi chỉ số trừ một số hữu hạn (§4§ 4, no. 1), suy ra từ no. 4, Hệ quả 1 của Định lý 2 rằng các XiX_i compact ngoại trừ một số hữu hạn chỉ số.

8. Nhúng của một không gian địa phương compact vào một không gian compact

Định lý 4 (Alexandroff)

==========

Nếu XX là một không gian compact địa phương bất kỳ, thì tồn tại một không gian compact X′X' và một đồng phôi ff của XX lên phần bù của một điểm trong X′X'. Hơn nữa, nếu X1′X'_1 là một không gian compact khác sao cho có một đồng phôi f1f_1 của XX lên phần bù của một điểm trong X1′X'_1, thì tồn tại một đồng phôi duy nhất gg của X′X' lên X1′X'_1 sao cho f1=g∘ff_1 = g \circ f.

Trước hết ta chứng minh mệnh đề thứ hai của định lý. Ta có

f(X)=X′−{ω}vaˋf1(X)=X1′−{ω1}. f(X) = X' - \{ \omega \} \quad \text{và} \quad f_1(X) = X'_1 - \{ \omega_1 \}.
Nếu đồng phôi gg tồn tại thì nó phải duy nhất, vì theo định nghĩa ta có g(x′)=f1(f‾(x′))g(x') = f_1(\overline{f}(x')) nếu x′≠ωx' \neq \omega và do đó g(ω)=ω1g(\omega) = \omega_1. Còn lại chỉ cần chứng minh rằng song ánh g:X′→X1′g : X' \to X'_1 được định nghĩa như vậy là liên tục hai chiều; vì X′X' và X1′X'_1 có thể thay thế cho nhau, ta chỉ cần chứng minh rằng ảnh qua gg của một lân cận của một điểm x′∈X′x' \in X' là một lân cận của g(x′)g(x') trong X1′X'_1. Điều này hiển nhiên từ định nghĩa của gg nếu x′≠ωx' \neq \omega. Nếu x′=ωx' = \omega, cho V′V' là một lân cận mở của ω\omega trong X′X'; khi đó X′−V′=KX' - V' = K là đóng trong X′X' và do đó compact (no. 3, Mệnh đề 3) và được chứa trong f(X)f(X); suy ra g(K)=f1(f‾(K))g(K) = f_1(\overline{f}(K)) là compact (no. 4, Định lý 2, Hệ quả 1). Suy ra g(V′)=X1′−g(K)g(V') = X'_1 - g(K) là một lân cận mở của ω1\omega_1 (no. 3, Mệnh đề 4). Vậy gg là một đồng phôi.

Để chứng minh phần thứ nhất của định lý, hãy cho X′X' là một tập hợp là tổng của XX và một tập hợp gồm một điểm duy nhất ω\omega. Ta định nghĩa một tôpô trên X′X' bằng cách lấy tập O\mathscr{O} các tập con mở của X′X' gồm tất cả các tập con mở của XX và mọi tập con có dạng (X−K)∪{ω}(X - K) \cup \{ \omega \}, trong đó KK là một tập con compact của XX. Vì mọi giao của các tập con compact của XX đều là compact (no. 3, Mệnh đề 3 và 4) và vì mọi tập con đóng của một tập compact đều là compact (no. 3, Mệnh đề 3), suy ra D\mathfrak{D} thỏa mãn tiên đề (OI)(O_I); và vì mọi hợp hữu hạn của các tập con compact của XX đều là compact (no. 3, Mệnh đề 5), D\mathfrak{D} cũng thỏa mãn (OII)(O_{II}). Mọi tập con compact của XX đều đóng trong XX (no. 3, Mệnh đề 4) và do đó tôpô cảm sinh trên XX bởi tôpô của X′X' là tôpô ban đầu trên XX. Vậy chỉ còn phải chứng minh rằng X′X' là compact. Trước hết, X′X' là Hausdorff. Thật vậy, nếu x,yx, y là hai điểm phân biệt bất kỳ của XX, thì chúng có các lân cận mở rời nhau V,WV, W tương ứng trong XX, và V,WV, W là mở trong X′X'; mặt khác mỗi x∈Xx \in X có một lân cận compact KK trong XX, cũng là một lân cận của xx trong X′X', còn

(X−K)∪{ω} (X - K) \cup \{ \omega \}

là một lân cận của ω\omega trong X′X' và hiển nhiên không giao với KK. Cuối cùng, X′X' là gần compact. Cho (Uλ)λ∈L(U_\lambda)_{\lambda \in L} là một phủ mở của X′X'; khi đó với ít nhất một chỉ số μ∈L\mu \in L ta có Uμ=(X−Kμ)∪{ω}U_\mu = (X - K_\mu) \cup \{ \omega \} trong đó KμK_\mu là một tập con compact của XX. Suy ra tồn tại một tập con hữu hạn HH của LL sao cho các tập UλU_\lambda (với λ∈H\lambda \in H) phủ KμK_\mu; nếu J=H∪{μ}J = H \cup \{ \mu \}, thì (Uλ)λ∈J(U_\lambda)_{\lambda \in J} là một phủ mở hữu hạn của X′X', và chứng minh hoàn tất.

Lưu ý rằng nếu XX đã compact rồi, thì ω\omega là một điểm cô lập của không gian compact X′X'; do đó X′X' là tổng (§\S 2, no. 4, Ví dụ 3) của không gian XX và không gian {ω}\{ \omega \}.

Khi một không gian compact X′X' đã được xây dựng như trên từ một không gian compact địa phương XX bằng cách thêm vào một phần tử ω\omega, người ta thường nói rằng ω\omega là "điểm ở vô cùng" của X′X', và rằng X′X' thu được từ XX bằng cách thêm vào một điểm ở vô cùng. X′X' còn được gọi là compact hóa Alexandroff hoặc compact hóa một điểm của không gian compact địa phương XX.

\* Ví dụ. Nếu ta áp dụng định lý Alexandroff cho mặt phẳng thực R2\mathbf{R}^2, ta thu được một không gian compact đồng phôi với mặt cầu S2S_2 có phương trình là x12+x22+x32=1x_1^2 + x_2^2 + x_3^2 = 1 trong R3\mathbf{R}^3. Một đồng phôi của hai không gian này có thể được mô tả như sau: điểm ω\omega (điểm ở vô cùng) được thêm vào R2\mathbf{R}^2 được ánh xạ vào (0,0,1)∈S2(0, 0, 1) \in S_2, và mỗi điểm (x1,x2)(x_1, x_2) của R2\mathbf{R}^2 được ánh xạ vào điểm mà đường thẳng nối các điểm (0,1,1)(0, 1, 1) và (x1,x2,0)(x_1, x_2, 0) trong R3\mathbf{R}^3 gặp lại S2S_2. Đồng phôi này được gọi là phép chiếu lập thể.

9. Các không gian địa phương compact σ\sigma-compact

Định nghĩa 5

Một không gian địa phương compact XX được gọi là σ\sigma-compact hay đếm được tại vô cùng nếu nó là một hợp đếm được của các tập con compact.

Ví dụ 1

Một không gian rời rạc là σ\sigma-compact khi và chỉ khi nó đếm được.

Ví dụ 2

\* Đường thẳng thực R\mathbf{R} là địa phương compact và σ\sigma-compact, vì nó là hợp của các đoạn compact [−n,+n][ -n, +n ] với n∈Nn \in \mathbf{N}. \

Nhận xét

Một không gian Hausdorff có thể là hợp đếm được của các không gian con compact mà không phải là địa phương compact. \* Một ví dụ là không gian Hilbert với tôpô yếu, như chúng ta sẽ chứng minh trong một tập sau.

Mệnh đề 15

Nếu XX là một không gian địa phương compact σ\sigma-compact, thì tồn tại một dãy (Un)(U_n) gồm các tập con mở tương đối compact của XX phủ XX, sao cho U‾n⊂Un+1\overline{U}_n \subset U_{n+1} với mỗi nn.

Cho XX là hợp của một dãy (Kn)(K_n) các tập compact. Cho U1U_1 là một lân cận mở tương đối compact của K1K_1 (no. 7, Mệnh đề 10) và định nghĩa UnU_n theo quy nạp với n>1n > 1 là một lân cận mở tương đối compact của U‾n−1∈Kn\overline{U}_{n-1} \in K_n (no. 3, Mệnh đề 5; no. 7, Mệnh đề 10). Dãy (Un)(U_n) rõ ràng có các tính chất cần thiết.

Hệ quả 1

Với ký hiệu của Mệnh đề 15, mọi tập con compact KK của XX đều được chứa trong một UnU_n nào đó.

Vì KK có thể được phủ bởi một số hữu hạn các UkU_k, theo tiên đề (C''').

Hệ quả 2

Cho XX là một không gian địa phương compact và cho X′X' là không gian compact thu được bằng cách thêm vào XX một điểm ở vô cùng ω\omega (no. 8). Khi đó XX là σ\sigma-compact khi và chỉ khi điểm ω\omega có một hệ lân cận cơ bản đếm được trong X′X'.

If XX là σ\sigma-compact ta có thể xây dựng một dãy các tập hợp con UnU_n của XX như trong Mệnh đề 15, và các lân cận X′−U‾nX' - \overline{U}_n của ω\omega trong X′X' tạo thành một hệ cơ bản các lân cận của ω\omega nhờ Hệ quả 1. Chiều đảo lại suy ra từ thực tế là các phần bù của các lân cận mở của ω\omega là các tập hợp con compact của XX.

Rõ ràng mọi không gian con đóng của một không gian compact địa phương và σ\sigma-compact là compact địa phương và σ\sigma-compact. Tương tự, bất kỳ tích hữu hạn nào của các không gian compact địa phương và σ\sigma-compact đều là compact địa phương và σ\sigma-compact.

Tuy nhiên, lưu ý rằng một không gian con mở của một không gian compact chưa chắc đã là σ\sigma-compact, như định lý của Alexandroff (no. 8, Định lý 4) cho thấy.

10. Không gian paracompact

Định nghĩa 6

Một không gian tôpô được gọi là paracompact nếu nó là Hausdorff và thỏa mãn tiên đề sau:

(PC) Mọi phủ mở R\mathscr{R} của XX đều có một tinh luyện mở hữu hạn địa phương R′\mathscr{R}'. (Lý thuyết tập hợp, Chương II, § 4, no. 6, Định nghĩa 5).

Mọi không gian compact đều rõ ràng là paracompact. Mọi không gian rời rạc XX đều là paracompact, vì phủ mở gồm tất cả các tập hợp gồm một điểm của XX là hữu hạn địa phương và mịn hơn mọi phủ mở của XX.

Mệnh đề 16

Mọi không gian con đóng* FF của một không gian paracompact XX đều là paracompact.

Chắc chắn FF là Hausdorff. Mặt khác, nếu (Vi)(V_i) là một phủ mở trong không gian con FF, thì mỗi ViV_i có dạng Vi=Ui∩FV_i = U_i \cap F, trong đó UiU_i mở trong XX. Hãy xét phủ mở R\mathscr{R} của XX gồm CF và các UiU_i; vì XX là paracompact, nên R\mathscr{R} có một tinh luyện hữu hạn địa phương R′\mathscr{R}', và các giao với FF của các tập hợp thuộc R′\mathscr{R}' tạo thành một phủ mở hữu hạn địa phương của FF mịn hơn phủ đã cho (Vi)(V_i).

Mặt khác, một không gian con mở của một không gian compact chưa chắc là paracompact (Bài tập 11).

Mệnh đề 17

Tích của một không gian paracompact và một không gian compact là paracompact*.

Cho XX là một không gian paracompact, YY là một không gian compact, R\mathscr{R} là một phủ mở của X×YX \times Y. Với mỗi (x,y)∈X×Y(x, y) \in X \times Y có một lân cận mở V(x,y)V(x, y) của xx trong XX và một lân cận mở W(x,y)W(x, y) của yy trong YY sao cho V(x,y)×W(x,y)V(x, y) \times W(x, y) được chứa trong một tập thuộc R\mathscr{R}. Với mỗi x∈Xx \in X, các tập W(x,y)W(x, y) khi yy chạy qua YY tạo thành một phủ mở của YY; do đó tồn tại một số hữu hạn các điểm

yi∈Y(1≤i≤n(x)) y_i \in Y \quad (1 \leq i \leq n(x))
sao cho các W(x,yi)W(x, y_i) phủ YY. Kí hiệu U(x)U(x) là
⋂i=1n(x)V(x,yi); \bigcap_{i=1}^{n(x)} V(x, y_i);
khi đó mỗi tập mở U(x)×W(x,yi)U(x) \times W(x, y_i) đều được chứa trong một tập của R\mathscr{R}. Bây giờ cho (Ti)i∈I(T_i)_{i \in I} là một phủ mở hữu hạn địa phương của XX mịn hơn phủ (U(x))x∈X(U(x))_{x \in X}. Với mỗi i∈Ii \in I, lấy xix_i là một điểm của XX sao cho Ti⊂U(xi)T_i \subset U(x_i), và kí hiệu Si,kS_{i, k} là các tập W(xi,yk)W(x_i, y_k) tương ứng với điểm xix_i này (1≤k≤n(xi)1 \leq k \leq n(x_i)). Rõ ràng các tập
Ti×Si,k(i∈I, 1≤k≤n(xi) for each i∈I) T_i \times S_{i, k} \quad (i \in I, \ 1 \leq k \leq n(x_i) \text{ for each } i \in I)
tạo thành một phủ mở của X×YX \times Y mịn hơn R\mathscr{R}, và chứng minh sẽ đầy đủ nếu ta chỉ ra rằng phủ này hữu hạn địa phương. Cho (x,y)(x, y) là một điểm bất kỳ của X×YX \times Y; có một lân cận QQ của xx chỉ gặp một số hữu hạn các tập TiT_i, và do đó lân cận Q×YQ \times Y của (x,y)(x, y) chỉ gặp một số hữu hạn các tập Ti×Si,kT_i \times S_{i, k}.

Mệnh đề 18

Tổng* (§ 2, no. 4, Ví dụ 3) của một họ (Xi)i∈I(X_i)_{i \in I} các không gian paracompact là paracompact.

Cho XX là tổng của các XiX_i, và cho (Vλ)λ∈L(V_\lambda)_{\lambda \in L} là một phủ mở của XX. Phủ được tạo bởi các tập mở Xi∩YλX_i \cap Y_\lambda mịn hơn (Vλ)(V_\lambda). Với mỗi i∈Ii \in I, cho (Ui,μ)μ∈Mi(U_{i,\mu})_{\mu \in M_i} là một tinh chỉnh mở hữu hạn địa phương của phủ (Vλ∩Xi)λ∈L(V_\lambda \cap X_i)_{\lambda \in L}; khi đó phủ mở của XX được tạo bởi các

Ui,μ(i∈I, μ∈Mi for each i∈I) U_{i,\mu} \quad (i \in I, \ \mu \in M_i \text{ for each } i \in I)

là hữu hạn địa phương và tinh chỉnh phủ ban đầu (Vλ)(V_\lambda).

Định lý 5

À không gian compact địa phương* XX là paracompact khi và chỉ khi XX là tổng của một họ các không gian compact σ\sigma-compact địa phương.

Giả sử XX là paracompact, và với mỗi x∈Xx \in X hãy cho VxV_x là một lân cận mở tương đối compact của xx trong XX. Khi đó theo giả thiết tồn tại một phủ mở hữu hạn địa phương (U(α))α∈A(U(\alpha))_{\alpha \in A} của XX tinh chỉnh phủ (Vx)x∈X(V_x)_{x \in X}. Vì thế các U(α)U(\alpha) đều tương đối compact. Mỗi tập con compact KK của XX chỉ gặp hữu hạn nhiều tập U(α)U(\alpha), vì các tập không rỗng U(α)∩KU(\alpha) \cap K tạo thành một phủ mở hữu hạn địa phương của không gian compact XX; do đó chúng phải có hữu hạn phần tử (mục 1). Bây giờ hãy đặt RR là quan hệ sau giữa hai điểm x,yx, y của XX: "tồn tại một dãy hữu hạn (αi)1≤i≤n(\alpha_i)_{1 \leq i \leq n} các chỉ số trong AA sao cho x∈U(α1), y∈U(αn)x \in U(\alpha_1), \ y \in U(\alpha_n) và U(αi)U(\alpha_i) giao với U(αi+1)U(\alpha_{i+1}) với 1≤i≤n−11 \leq i \leq n - 1".

Dễ thấy ngay rằng RR là một quan hệ tương đương, và mỗi lớp tương đương theo RR là một tập con mở của XX [vì các U(α)U(\alpha) là các tập mở]. Do đó XX là tổng của các không gian con compact địa phương (mục 7, Mệnh đề 13) được tạo bởi các lớp tương đương theo RR, và còn lại phải chứng minh rằng mỗi không gian con đó là hợp của một họ con đếm được của họ (U(α))(U(\alpha)).

Cho xx là một điểm bất kỳ của XX, và định nghĩa một dãy (Cn)(C_n) gồm các tập con mở tương đối compact của XX bằng quy nạp theo nn như sau; C1C_1 là hợp của các tập U(α)U(\alpha) chứa xx, và với mỗi n>1n > 1, CnC_n là hợp của các tập U(α)U(\alpha) giao với Cn−1C_{n-1}. Dễ dàng kiểm tra bằng quy nạp theo nn rằng mỗi CnC_n đều tương đối compact và là hợp của một số hữu hạn các tập U(α)U(\alpha). Hơn nữa, lớp tương đương của xx đối với RR là hợp của các CnC_n: vì nếu (αi)1≤i≤n(\alpha_i)_{1 \leq i \leq n} là một dãy các chỉ số sao cho x∈U(α1)x \in U(\alpha_1) và U(αi)U(\alpha_i) giao với U(αi+1)U(\alpha_{i+1}) với 1≤i≤n−11 \leq i \leq n - 1, thì ta thấy bằng quy nạp theo ii rằng U(αi)⊂CiU(\alpha_i) \subset C_i với 1≤i≤n1 \leq i \leq n. Suy ra các lớp tương đương mod RR là σ\sigma-compact, và điều đó hoàn tất chứng minh phần thứ nhất của định lý.

Để chứng minh mệnh đề đảo lại, ta có thể giả sử (theo Mệnh đề 18) rằng XX là σ\sigma-compact. Cho R=(Gλ)λ∈L\mathfrak{R} = (G_\lambda)_{\lambda \in L} là một phủ mở bất kỳ của XX, và cho (Un)(U_n) là một dãy các tập mở tương đối compact trong XX có các tính chất đã nêu trong Mệnh đề 15 của no. 9. Ký hiệu KnK_n là tập compact U‾n−Un−1\overline{U}_n - U_{n-1} (Un=∅U_n = \emptyset nếu n≤0n \leq 0). Tập mở Un+1−U‾n−2U_{n+1} - \overline{U}_{n-2} là một lân cận của KnK_n theo phép dựng; do đó với mỗi x∈Knx \in K_n tồn tại một lân cận WxW_x của xx được chứa trong một trong các tập GλG_\lambda và đồng thời cũng được chứa trong Un+1−U‾n−2U_{n+1} - \overline{U}_{n-2}. Vì KnK_n là compact, một số hữu hạn các tập WxW_x phủ KnK_n; gọi Hni(1≤i≤pn)H_{ni} (1 \leq i \leq p_n) là các tập ấy. Khi đó họ R′\mathfrak{R}' gồm các tập Hni(n≥1,1≤i≤pn cho moˆ˜i n)H_{ni} (n \geq 1, 1 \leq i \leq p_n \text{ cho mỗi } n) là một phủ mở của XX tinh lọc R\mathfrak{R}, và vì thế để hoàn tất chứng minh ta phải chỉ ra rằng R′\mathfrak{R}' là hữu hạn địa phương. Cho zz là một điểm bất kỳ của XX, nn là số nguyên nhỏ nhất sao cho z∈Unz \in U_n; khi đó vì z∉Un−1z \notin U_{n-1}, tồn tại một lân cận TT của zz được chứa trong UnU_n và không cắt Un−2U_{n-2}. Suy ra rằng TT chỉ cắt những tập HmiH_{mi} sao cho n−2≤m≤n+1n - 2 \leq m \leq n + 1, tức là TT chỉ cắt một số hữu hạn các tập của R′\mathfrak{R}'.

Trong quá trình chứng minh, ta cũng đã thiết lập kết quả sau:

Hệ quả

Cho XX là một không gian compact địa phương paracompact. Khi đó mọi phủ mở R\mathfrak{R} của XX đều có một tinh lọc mở hữu hạn địa phương R′\mathfrak{R}' gồm các tập tương đối compact. Nếu XX là σ\sigma-compact thì R′\mathfrak{R}' có thể chọn là đếm được.

Bài tập

Xem các bài tập cho § 9.

Machine translation of the English, by gpt-5.4-mini, against glossary version 34. Not checked by a person. That model is a cut down version of the one the rest of this language was written by.