Phụ lục 2 định thức trên một trường không giao hoán
Trong phụ lục này, D là một trường, và Dab∗ là thương của nhóm nhân D∗ của D theo nhóm dẫn xuất của nó (I, §6, No. 2, p. 70). Nhóm Dab∗ là giao hoán, và Dab∗ có thể được đồng nhất với D∗ nếu trường D là giao hoán. Ta ký hiệu đồng cấu chính tắc từ D∗ đến Dab∗ bởi π.
1. Phép tổng quát hóa các dạng đa tuyến tính thay phiên
Cho V là một không gian vectơ phải trên trường D, có số chiều hữu hạn n⩾0. Ta ký hiệu B(V) là tập hợp các cơ sở của V và Ω(V) là tập hợp các ánh xạ ω từ B(V) vào Dab∗ thỏa mãn hai điều kiện sau:
a) Nếu λ1,...,λn là các phần tử của D∗, thì ta có
ω(v1λ1,...,vnλn)=π(λ1⋯λn)ω(v1,...,vn)(1)
với mọi cơ sở (v1,...,vn) của V.
b) Nếu i và j là hai số nguyên phân biệt trong khoảng [1,n], thì ta có
Vì nhóm đối xứng Sn được sinh bởi các phép chuyển chỗ của hai phần tử liên tiếp của khoảng [1,n] (I, §5, No. 7, p. 63, Mệnh đề 9), công thức (3) được tổng quát hóa thành
ω(vσ(1),...,vσ(n))=π(ε(σ))ω(v1,...,vn)(4)
trong đó σ thuộc Sn và ε(σ) là chữ ký của nó (I, §5, No. 7, p. 64).
Công thức (2) được tổng quát hóa như sau. Trước hết, với mọi λ trong D∗, ta có
ω(v1,...,vn)=π(λ)ω(v1,...,viλ−1,...,vn)
=π(λ)ω(v1,...,viλ−1+vj,...,vn)
=ω(v1,...,(viλ−1+vj)λ,...,vn)
nghĩa là,
ω(v1,...,vn)=ω(v1,...,vi+vjλ,...,vn)(5)
Bằng quy nạp ngay lập tức, ta suy ra
ω(v1,...,vn)=ω(v1,...,vi+w,...,vn)(6)
đối với mọi tổ hợp tuyến tính w=∑j=ivjλj của các vectơ vj với j khác i trong khoảng [1,n].
2. Một Định lý về tính duy nhất
Trong tiểu mục này, với mọi số nguyên dương ngặt m, mọi số nguyên i trong khoảng [1,m], và mọi dãy (v1,...,vm) trong Vm, ta ký hiệu (v1,...,vi,...,vm) là dãy (v1,...,vi−1,vi+1,...,vm) trong Vm−1.
Cho W là một siêu phẳng trong V và e là một vectơ trong V- W. Cho φ là một phần tử của Ω(W). Tồn tại một phần tử duy nhất ω của Ω(V) sao cho
ω(w1,...,wn−1,e)=φ(w1,...,wn−1)(7)
với mọi cơ sở (w1,...,wn−1) của W.
A) Tính duy nhất của ω: Cho ω là một phần tử của Ω(V). Cho (v1,...,vn) là một cơ sở của V, và gọi μ1,...,μn là các tọa độ của e trong cơ sở này. Ký hiệu bởi I tập hợp các số nguyên từ 1 đến n (kể cả hai đầu mút) sao cho μi=0; tập hợp này không rỗng. Cho i là một phần tử của I. Dãy (v1,...,vi,...,vn,e) là một cơ sở của V, và vì e−viμi là một tổ hợp tuyến tính của dãy (v1,...,vi,...,vn), công thức (6) suy ra
Suy ra từ các công thức (1) và (3) rằng vế trái của đẳng thức này bằng π(−1)n−iπ(μi)ω(v1,...,vn). Ký hiệu bởi p phép chiếu của V có ảnh W và hạt nhân eD. Các vectơ vj−p(vj) tỉ lệ với e, và việc áp dụng lặp đi lặp lại công thức (6) cho thấy rằng vế phải của công thức (8) bằng ω(p(v1),...,p(vi),...,p(vn),e).
Từ đó suy ra rằng nếu ω thỏa mãn quan hệ (7), thì ta có
với mọi i trong I, điều này chứng minh tính duy nhất của ω.
B) Phép dựng của ω: Cho (v1,...,vn) là một cơ sở của V; ta định nghĩa μ1,...,μn và I như trên. Với mọi i trong I, giả thiết μi=0 suy ra rằng dãy (v1,...,vi,...,vn,e) sinh ra không gian V, nên dãy (p(v1),...,p(vi),...,p(vn)) sinh ra không gian W=p(V). Nói cách khác, dãy sau cùng này là một cơ sở của W, và
Cho i và j là hai phần tử của I sao cho i<j; hãy chứng minh đẳng thức ti=tj. Theo định nghĩa, vectơ viμi+vjμj−e là một tổ hợp tuyến tính của các vectơ p(vk) với k khác i và j. Do đó, p(vi)μi+p(vj)μj là một tổ hợp tuyến tính của các vectơ p(vk) với k khác i và j. Theo công thức (6), vì thế ta có
Bằng cách áp dụng các công thức (1) và (3), ta suy ra
φ(p(v1),...,p(vj),...,p(vn))π(μi)π(−1)n−i−1
=φ(p(v1),...,p(vi),...,p(vn))π(−μj)π(−1)n−j
và do đó ti=tj.
Sau khi đã chứng minh điều này, ta định nghĩa ω(v1,...,vn) là giá trị chung của các ti với i thuộc I. Như vậy ta đã xây dựng được một ánh xạ ω từ B(V) vào Dab∗ thỏa mãn quan hệ (9). Cho (w1,...,wn−1) là một cơ sở của W; nếu đặt vi=wi với 1⩽i⩽n−1 và vn=e, thì ta có I={n} và μn=1. Hơn nữa ta có p(vi)=wi với 1⩽i⩽n−1, và công thức ω(w1,...,wn−1,e)=φ(w1,...,wn−1) là một trường hợp riêng của (9).
Bây giờ ta phải chứng minh rằng ω thuộc Ω(V).
C) Chứng minh công thức (1): Cho λ1,...,λn là các phần tử của D∗ và (v1,...,vn) là một cơ sở của V. Ta định nghĩa μ1,...,μn và I như trên. Chọn một i trong I. Vì ta có e=∑j=1n(vjλj)(λj−1μj), công thức (9) suy ra
So sánh các công thức (9) và (11) dẫn đến quan hệ cần tìm
ω(v1λ1,...,vnλn)=ω(v1,...,vn)π(λ1...λn)
D) Chứng minh công thức (2): Cho (v1,...,vn) là một cơ sở của V và i,j là hai số nguyên phân biệt trong khoảng [1,n]; ta định nghĩa μ1,...,μn như trước. Xét cơ sở (v1′,...,vn′) của V được xác định bởi vi′=vi+vj và vk′=vk với k=i, và đưa vào các tọa độ μ1′,...,μn′ của e đối với cơ sở này; chúng thỏa mãn μj′=μj−μi và μk′=μk với k=j. Đặt t=ω(v1,...,vn) và t′=ω(v1′,...,vn′). Ta phải chứng minh rằng t và t′ bằng nhau.
Trước hết, chú ý rằng, theo định nghĩa của ω, ta có
a) Nếu μi=0, thì các dãy (p(v1),...,p(vk),...,p(vn)) và (p(v1′),...,p(vk′),...,p(vn′)) là bằng nhau, và ta có μi = μi′, do đó t=t′.
b) Nếu tồn tại một chỉ số k khác i và j sao cho μk=0, thì ta có p(vl′)=p(vl) với l=i và p(vi′)=p(vi)+p(vj). Các phần tử p(vi) và p(vj) đều thuộc dãy (p(v1),...,p(vk),...,p(vn)). Vì φ thuộc Ω(W), công thức (2) của VIII, p. 447 được áp dụng; nó cho
c) Còn phải xét trường hợp mà chỉ số duy nhất k sao cho μk=0 là j. Khi đó ta có μj′=μj,e=vjμj, và p(vj)=0. Đặt k=j trong các công thức (12) và (13). Vì các dãy (p(v1),...,p(vj),...,p(vn)) và (p(v1′),...,p(vj′),...,p(vn′)) bằng nhau, ta có t=t′.
Cho (e1,...,en) là một cơ sở của V và t là một phần tử của Dab∗. Tồn tại một phần tử duy nhất ω của Ω(V) sao cho ω(e1,...,en)=t.
Hãy chứng minh hệ quả bằng quy nạp theo n. Nếu n=0, thì cơ sở duy nhất của V là cơ sở rỗng, nên mệnh đề là đúng. Bây giờ giả sử n⩾1; ký hiệu W là không gian con của V sinh bởi e1,...,en−1. Theo Mệnh đề 1, tồn tại một song ánh Λ từ Ω(V) tới Ω(W) thỏa mãn
(Λ(ω))(w1,...,wn−1)=ω(w1,...,wn−1,en)
với mọi cơ sở (w1,...,wn−1) của W và mọi ω trong Ω(V). Theo giả thiết quy nạp, tồn tại một phần tử duy nhất φ của Ω(W) sao cho φ(e1,...,en−1)=t. Quan hệ ω(e1,...,en)=t, với ω trong Ω(V), là tương đương với Λ(ω)=φ. Hệ quả 1 được suy ra.
Giả sử rằng trường D là giao hoán. Theo định nghĩa, B(V) là một tập con của Vn. Hiển nhiên là hạn chế lên B(V) của một dạng n-tuyến tính phản xứng khác không f:Vn→D thuộc Ω(V). Hơn nữa, nếu (e1,...,en) là một cơ sở của V và t là một phần tử khác không của D, thì tồn tại một dạng n-tuyến tính phản xứng duy nhất f sao cho f(e1,...,en)=t (III, §7, No. 4, p. 511 and III, §7, No. 8, p. 518). Theo Hệ quả 1, tập hợp Ω(V) gồm các hạn chế lên B(V) của các dạng n-tuyến tính phản xứng khác không.
3. Định thức của một tự đẳng cấu
Trước hết ta giả sử rằng trường D là giao hoán. Theo nhận xét ở trên, định thức của một tự đẳng cấu u của V là phần tử duy nhất det u của D∗ sao cho ta có
(14) ω(u(v1),...,u(vn))= (det u)ω(v1,...,vn)
đối với mọi cơ sở (v1,...,vn) của V và mọi phần tử ω của Ω(V).
Bây giờ ta trở lại trường hợp trong đó D không còn được giả sử là giao hoán nữa.
a) Cho u là một tự đẳng cấu của V. Tồn tại một phần tử duy nhất của Dab∗, được ký hiệu là det u và được gọi là định thức của u, sao cho ta có
(15) ω(u(v1),...,u(vn))= (det u)ω(v1,...,vn)
đối với mọi cơ sở (v1,...,vn) của V và mọi ω thuộc Ω(V).
b) Ánh xạ u↦ det u từ GL(V) vào Dab∗ là một đồng cấu nhóm.
Cho ω0 là một phần tử của Ω(V). Ánh xạ (v1,...,vn)↦ω0(u(v1),...,u(vn)) từ B(V) vào Dab∗ thuộc Ω(V). Theo Hệ quả 2 của VIII, p. 451, tồn tại một phần tử duy nhất t của Dab∗ sao cho ta có
ω0(u(v1),...,u(vn))=tω0(v1,...,vn)
đối với (v1,...,vn) trong B(V). Nếu ω là một phần tử khác của Ω(V), thì tồn tại một phần tử s của Dab∗ sao cho
ω(v1,...,vn)=sω0(v1,...,vn)
đối với mọi cơ sở (v1,...,vn) của V (loc. cit.). Ta ngay lập tức suy ra quan hệ
ω(u(v1),...,u(vn))=tω(v1,...,vn)
Điều này chứng minh a); mệnh đề b) là một hệ quả ngay lập tức của a).
4. Định thức của một Ma trận Bình phương
Cho n là một số nguyên dương. Hãy áp dụng điều trên cho không gian vectơ phải Ddn trên trường D; các phần tử của Ddn được xem như các ma trận có n hàng và một cột. Gọi (ε1,...,εn) là cơ sở chính tắc của Ddn. Theo Hệ quả 2 của VIII, p. 451, tồn tại một phần tử duy nhất ω0 của Ω(Ddn) sao cho ω0(ε1,...,εn)=1. Nếu A là một phần tử của GLn(D), thì các cột của nó a1,...,an lập thành một cơ sở của Ddn; phần tử ω0(a1,...,an) của Dab∗ được gọi là định thức của A và được ký hiệu bởi det(A). Vì ta có ai=Aεi với 1⩽i⩽n, định thức của A đơn giản là định thức của tự đẳng cấu x↦Ax của Ddn. Đặc biệt, nếu trường D là giao hoán, thì định thức của A trùng với định thức đã được định nghĩa trong III, §8, No. 3, p. 524.
Cho V là một không gian vectơ phải có số chiều hữu hạn n trên trường D, và gọi (e1,...,en) là một cơ sở của V. Nếu u là một tự đẳng cấu của V và A là ma trận của u đối với cơ sở (e1,...,en), thì ta có det(u) = det(A).
Ta ký hiệu bởi (Eij) họ các đơn vị ma trận của Mn(D) (II, §10, No. 3, p. 341). Với mỗi phần tử λ của D và mỗi cặp (i,j) gồm các số nguyên phân biệt trong [1,n], ta đặt (II, §10, No. 13, p. 361)
Bij(λ)=In+λEij
nó là một phần tử của GLn(D). Nếu λ1,...,λn là các phần tử của D∗, thì ma trận đường chéo diag(λ1,...,λn) cũng thuộc GLn(D).
Ánh xạ det là đồng cấu duy nhất từ GLn(D) vào Dab∗ thỏa mãn các hệ thức
(16) det(Bij(1)) =1
với i=j và
(17) det(diag(λ1,...,λn)) =π(λ1⋯λn),
với λ1,...,λn∈D∗
Cho A là một phần tử của GLn(D) và a1,...,an là các cột của nó. Ta có
det(A) =ω0(a1,...,an).
Bây giờ, các cột của ma trận A diag(λ1,...,λn) là a1λ1,...,anλn, và do đó các cột của ma trận ABij(1) là a1,...,aj+ai,aj+1,...,an. Vì ω0 là phần tử duy nhất của Ω(Ddn) sao cho ω0(ε1,...,εn)=1, ta thấy rằng định thức là ánh xạ duy nhất φ:GLn(D)→Dab∗ thỏa mãn các hệ thức
(18) φ(A diag(λ1,...,λn)) =φ(A)π(λ1⋯λn),
(19) φ(ABij(1))=φ(A) với i=j,
φ(In)=1(20)
Điều này trước hết chứng minh rằng ánh xạ định thức thỏa mãn các hệ thức (16) và (17). Ta đã biết rằng ánh xạ này là một đồng cấu từ GLn(D) đến Dab∗. Ngược lại, nếu φ là một đồng cấu từ GLn(D) đến Dab∗ sao cho φ(Bij(1))=1 với i=j và φ(diag(λ1,...,λn)) =π(λ1⋯λn), thì φ thỏa mãn các hệ thức từ (18) đến (20) và do đó bằng det.
Cho σ là một phép hoán vị của khoảng [1,n] trong N, có dấu ε(σ). Gọi M(σ) là ma trận của phép hoán vị σ (II, §10, No. 7, p. 351). Các cột của ma trận M(σ) là εσ(1),...,εσ(n). Áp dụng công thức (4) của VIII, p. 448, do đó ta có
Giả sử n⩾1. Với mọi ma trận đường chéo khả nghịch có dạng Δ = diag(d1,...,dn), ta có ΔBij(λ)Δ−1=Bij(diλdj−1). Cho A là một phần tử của GLn(D). Theo Hệ quả 1 của II, §10, No. 13, p. 362 và công thức trước, tồn tại các ma trận P và Δ trong GLn(D) sao cho A = PΔ, P là tích của các ma trận dạng Bij(λ), và Δ là một ma trận đường chéo có dạng diag(1,...,1,d). Theo Ví dụ 1, ta có det(P) = 1, và do đó det(A) = det(Δ) =π(d) theo Mệnh đề 3.
Cho D′ là một trường, và cho u là một đồng cấu từ D đến D′. Khi chuyển qua các thương, u xác định một đồng cấu nhóm uab từ Dab∗ đến Dab′∗. Gọi un là đồng cấu từ GLn(D) đến GLn(D′) biến đổi một ma trận A =(aij) thành ma trận (u(aij)). Công thức
Giả sử n=2. Cho A=(acbd) là một phần tử của GL2(D). Hai phần tử a và c của D không đồng thời bằng không. Chúng ta sẽ cho định thức của A một cách tường minh.
Cho Do là trường đối của D. Ánh xạ A↦tA từ Mn(D) vào Mn(Do) thỏa mãn t(AB)=tBtA. Do đó, với mọi ma trận A trong GLn(D), ma trận chuyển vị tA là khả nghịch trong Mn(Do), nhưng không nhất thiết khả nghịch trong Mn(D). Suy ra từ Ví dụ 3 rằng nếu A thuộc GLn(D), thì các phần tử A của GLn(D) và tA của GLn(Do) có cùng định thức. Mặt khác, ngay cả khi ma trận tA thuộc GLn(D), định thức của nó trong GLn(D) không nhất thiết bằng định thức của A (xem Ví dụ 6).
Cho V là một không gian vectơ phải trên trường D, có số chiều hữu hạn n. Ta xem không gian đối ngẫu V∗= HomD(V,D) như một không gian vectơ phải trên trường đối Do của D. Cho u là một tự đẳng cấu của V, và cho tu là tự đẳng cấu của V∗ là chuyển vị của u. Nếu u được biểu diễn bởi một ma trận A trong Mn(D) đối với một cơ sở (e1,...,en) của V, thì tự đẳng cấu tu được biểu diễn bởi ma trận tA trong Mn(Do) đối với cơ sở (e1∗,...,en∗) của V∗ đối ngẫu với (e1,...,en) (II, §10, No. 4, p. 344, Mệnh đề 3). Theo Ví dụ 7, định thức của tu bằng định thức của u.
Các kết quả của các Tiểu mục 1 đến 4 khái quát hóa được cho trường hợp D là một vành địa phương (VIII, p. 459, Bài tập 2).
5. Nhóm đơn môđula
Cho n là một số nguyên dương. Ta ký hiệu bởi SLn(D) hạt nhân của đồng cấu nhóm det:GLn(D)→Dab∗, và gọi nó là nhóm đơn môđula hoặc nhóm tuyến tính đặc biệt (xem III, §8, No. 9, p. 537 khi trường D là giao hoán).
a) Nhóm con SLn(D) của GLn(D) được sinh bởi các ma trận Bij(λ), trong đó i và j là các số nguyên phân biệt trong khoảng [1,n] và λ chạy qua D.
b) Giả sử n⩾3 hoặc Card(D) ⩾3. Nhóm dẫn xuất của GLn(D) bằng SLn(D).
c) Giả sử n⩾3 hoặc Card(D) ⩾4. Nhóm dẫn xuất của SLn(D) bằng SLn(D).
A) Ký hiệu bởi T nhóm con của GLn(D) sinh bởi các ma trận Bij(λ). Theo Ví dụ 1 của VIII, p. 454, ta có det(Bij(λ)) =1, và do đó T⊂SLn(D). Để chứng minh rằng hai nhóm này bằng nhau, khi đó chỉ cần, theo Ví dụ 3 của loc. cit., chứng minh rằng mọi ma trận có dạng diag(1,...,1,d) với π(d)=1 đều thuộc T. Ma trận diag(1,...,1,d) thuộc ảnh của đồng cấu U↦(In−200U) từ GL2(D) vào GLn(D); vì vậy chỉ cần xét trường hợp n=2. Vì hạt nhân của π là nhóm dẫn xuất của D∗, ta có thể giả sử d=uvu−1v−1 với u,v trong D∗. Mệnh đề của ta khi đó suy ra từ các đẳng thức
B) Theo phép dựng, SLn(D) là hạt nhân của một đồng cấu từ GLn(D) đến một nhóm giao hoán, nên nó chứa nhóm dẫn xuất (GLn(D),GLn(D)) của GLn(D). Theo điều trên, ta có
SLn(D)⊃(GLn(D),GLn(D))⊃(SLn(D),SLn(D))
Để chứng minh c), chỉ cần chứng minh rằng các ma trận Bij(λ) là các giao hoán tử trong SLn(D).
Giả sử n⩾3. Nếu i,j,k là các số nguyên phân biệt trong khoảng [1,n] và μ,ν là các phần tử của D, thì ta có
Bij(μν)=Bik(μ)−1Bkj(ν)−1Bik(μ)Bkj(ν)(30)
Lấy μ=1 và ν=λ, ta thấy rằng ma trận Bij(λ) là một giao hoán tử của các phần tử của SLn(D).
Bây giờ giả sử n=2. Cho u và v là các phần tử của D với u=0. Ta có các hệ thức
(31) (10v−uvu1)=(u00u−1)(10−v1)(u−100u)(10v1) và
Ta có det (u00u−1) = 1, do đó các ma trận B12(v−uvu) và B21(v−uvu) là các giao hoán tử của các phần tử của SLn(D).
Giả sử trường D có ít nhất bốn phần tử. Cho λ là một phần tử của D. Nếu λ bằng 0, 1, hoặc −1, chọn một phần tử tùy ý u trong D−{0,1,−1}; nếu không, đặt u=λ. Trong cả hai trường hợp, u là một phần tử khác không của D, nó giao hoán với λ, và ta có u2=1. Đặt v=λ(1−u2)−1. Ta có uv=vu và do đó v−uvu=v(1−u2)=λ. Khi đó suy ra từ các hệ thức (31) và (32) rằng các ma trận B12(λ) và B21(λ) là các giao hoán tử trong SLn(D). Điều này hoàn tất chứng minh của c).
C) Còn phải chứng minh rằng SL2(D) là nhóm dẫn xuất của GL2(D) khi D có ba phần tử. Theo A), nhóm SL2(D) được sinh bởi các ma trận B12(1)=(1011) và B21(1)=(1101), và các ma trận này là các giao hoán tử của những phần tử của GL2(D) vì ta có B21(1)=tB12(1) và
Nếu D là một trường có hai phần tử, thì GL2(D) bằng SL2(D), và đó là một nhóm có cấp 6 mà nhóm dẫn xuất của nó có cấp 3. Nếu D là một trường có ba phần tử, thì nhóm SL2(D) có cấp 24, và nhóm dẫn xuất của nó có cấp 8. Giả sử n⩾2; trừ hai trường hợp trước, mọi nhóm con chuẩn tắc của SLn(D) phân biệt với SLn(D) đều được chứa trong tâm Z(SLn(D)) của SLn(D) (II, §10, p. 421, Bài tập 13 and 14). Khi đó nhóm SLn(D)/Z(SLn(D)) là đơn.
Cho V là một không gian vectơ phải trên trường D, có số chiều hữu hạn n. Ta ký hiệu bởi SL(V), và gọi là nhóm đơn môđula của V, hạt nhân của đồng cấu det:GL(V)→Dab∗. Việc chọn một cơ sở của V cho phép đồng nhất nhóm này với SLn(D).
Ta nói rằng một tự đẳng cấu u của V là một phép vị tự nếu tồn tại một vectơ v của V và một dạng tuyến tính φ trên V sao cho φ(v)=0 và u(x)=x+vφ(x) với mọi x trong V. Khi n⩾2,u là một phép vị tự nếu và chỉ nếu tồn tại một cơ sở của V mà đối với cơ sở đó ma trận của u có dạng Bij(λ). Định lý 1 suy ra hệ quả sau đây.