§ 11. Các lớp phần tử lũy linh và các bộ ba sl2
Trong đoạn này, g kí hiệu một đại số Lie hữu hạn chiều.
1. Định nghĩa các bộ ba sl2
Định nghĩa 1 0170
Một bộ ba sl2 trong g là một dãy (x,h,y) các phần tử của g, phân biệt với (0,0,0), sao cho
[h,x]=2x,[h,y]=−2y,[x,y]=−h
Cho (x,h,y) là một bộ ba sl2 trong g. Ánh xạ tuyến tính τ từ sl(2,k) vào g sao cho τ(X+)=x,τ(H)=h,τ(X−)=y là một đồng cấu khác không và do đó đơn ánh (vì sl(2,k) là đơn), và có ảnh là kx+kh+ky. Như vậy ta thu được một song ánh chính tắc từ tập hợp các bộ ba sl2 trong g lên tập hợp các đồng cấu đơn ánh từ sl(2,k) vào g. Nếu g là nửa đơn và nếu (x,h,y) là một bộ ba sl2 trong g, thì x và y là các phần tử lũy linh của g và h là một phần tử nửa đơn của g (Chap. I, §6, no. 3, Prop. 4).
Cho x,h,y,y′∈g. Nếu (x,h,y) và (x,h,y′) là các bộ ba sl2 trong g, thì y=y′.
Thật vậy, y−y′∈ Ker(adgx) và (adgh)(y−y′)=−2(y−y′). Nhưng adgx là đơn ánh trên Ker(p+ adgh) với mọi số nguyên p>0(§1, no. 2, Hệ quả của Mệnh đề 2).
Cho n là một đại số con của g sao cho, với mọi n∈n, adg(n) là lũy linh. Cho h∈g sao cho [h,n]=n. Khi đó eadgn.h=h+n.
Rõ ràng là eadg(n).h⊂h+n. Ta sẽ chứng minh rằng, nếu v∈n, thì h+v∈eadg(n).h. Chỉ cần chứng minh rằng h+v∈eadg(n).h+C0n với mọi p≥1 (vì Cpn=0 với p đủ lớn). Điều này là rõ đối với p=1 vì C1n=n. Bây giờ giả sử rằng ta đã chứng minh được sự tồn tại của yp∈n và zp∈Cpn sao cho h+v=eadgyp.h+zp. Vì (adgh)(n)=n, nên (adgh)∣n là một song ánh từ n lên n, do đó hạn chế của nó lên Cpn, vốn để Cpn ổn định, cũng là song ánh; do đó, tồn tại z∈Cpn sao cho zp=[z,h]. Khi đó
eadg(yp+z)h−eadgyph∈[z,h]+Cp+1n
nên
eadg(yp+z)h∈h+v−zp+[z,h]+Cp+1n=h+v+Cp+1n
điều này thiết lập mệnh đề của chúng ta bằng quy nạp theo p.
Cho x∈g,p= Ker(ad x),q= Im(ad x). Khi đó [p,q]⊂q, và p∩q là một đại số con của g.
Nếu u∈p và v∈q, thì tồn tại w∈g sao cho v=[x,w], nên
[u,v]=[u,[x,w]]=[x,[u,w]]−[[x,u],w]=[x,[u,w]]∈q
Mặt khác, p là một đại số con của g, nên [p∩q,p∩q]⊂p∩q.
Cho (x,h,y) và (x,h′,y′) là các bộ ba sl2 trong g. Tồn tại z∈g sao cho adgz là lũy linh và sao cho
eadgzx=x,eadgzh=h′,eadgzy=y′
Đặt n= Ker(ad x)∩ Im(ad x). Với mọi p∈Z, đặt gp= Ker(ad h−p). Theo §1, no. 3 (áp dụng cho biểu diễn liên hợp của kx+ky+kh trên g), ta có n⊂∑p>0gp, nên adgn là lũy linh với mọi n∈n, và [h,n]=n. Ta có [x,h′−h]=0 và [x,y−y′]=h′−h, nên h′−h∈n. Theo Bổ đề 2 và 3, tồn tại z∈n sao cho eadgzh=h′. Vì z∈ Ker adgx, ta có eadgzx=x. Bổ đề 1 khi đó chứng minh rằng eadgzy=y′. Q.E.D.
Cho G là một nhóm các tự đẳng cấu của g. Khi đó, hai bộ ba sl2 (x,h,y), (x′,h′,y′) được gọi là liên hợp dưới G nếu tồn tại g∈G sao cho gx=x′, gh=h′,gy=y′.
Mệnh đề 1 0175
Cho G là một nhóm các tự đẳng cấu của g chứa Aute(g). Cho (x,h,y) và (x′,h′,y′) là các bộ ba sl2 trong g. Đặt
t=kx+kh+ky,t′=kx′+kh′+ky′
Xét các điều kiện sau:
(i) x và x′ liên hợp theo G;
(ii) (x,h,y) và (x′,h′,y′) liên hợp theo G;
(iii) t và t′ liên hợp theo G.
Ta có (i) ⇐⇒ (ii) =⇒ (iii). Nếu k đóng đại số, ba điều kiện là tương đương.
(i) ⇐⇒ (ii): Điều này suy ra từ Bổ đề 4.
(ii) =⇒ (iii): Điều này là hiển nhiên.
Ta giả sử rằng k đóng đại số và chứng minh rằng (iii) =⇒ (i). Trước hết ta xét trường hợp t=t′=g=sl(2,k). Vì adgx là lũy linh, tự đồng cấu x của k2 là lũy linh (Chương I, §6, Định lý 3), nên tồn tại một ma trận A∈GL(2,k) sao cho AxA−1=X, và do đó một tự đẳng cấu α của sl(2,k) sao cho α(x)=x′; bây giờ α∈ Aute(g)(§5, no. 3, Hệ quả 2 của Mệnh đề 5). Bây giờ ta chuyển sang trường hợp tổng quát; ta giả sử rằng t và t′ liên hợp dưới G và chứng minh rằng x và x′ liên hợp dưới G. Ta có thể giả sử rằng t=t′. Theo điều nói trên, tồn tại β∈ Aute(t) sao cho βx=x′. Bây giờ, nếu t∈t sao cho adtt là lũy linh, thì adgt là lũy linh; do đó β mở rộng thành một phần tử của Aute(g).
2. Các bộ ba sl2 trong các đại số Lie nửa đơn
Cho V là một không gian vectơ hữu hạn chiều, A và B là các nội tự đồng cấu của V. Giả sử rằng A lũy linh và rằng [A,[A,B]]=0. Khi đó AB lũy linh.
Đặt C=[A,B]. Vì [A,C]=0,
[A, BCp]=[A,B]Cp=Cp+1
với mọi số nguyên p≥0. Do đó, Tr(Cp) =0 với p≥1, điều này chứng tỏ rằng C là lũy linh (Đại số, Chương VII, §3, no. 5, Hệ quả 4 của Mệnh đề 13). Bây giờ, cho k là một bao đóng đại số của k, và cho λ∈k,x∈V⊗kk sao cho ABx=λx, x=0. Quan hệ [[B,A],A]=0 cho thấy rằng [B,Ap]=p[B,A]Ap−1 với mọi số nguyên p≥0. Gọi r là số nguyên nhỏ nhất sao cho Arx=0. Khi đó
λAr−1x=Ar−1ABx=ArBx= BArx−[B,Ar]x=−r[B,A]Ar−1x.
Vì [B,A] là lũy linh và vì Ar−1x=0, điều này chứng tỏ rằng λ=0. Do đó, mọi trị riêng của AB đều bằng không, suy ra bổ đề.
Cho h,x∈g sao cho [h,x]=2x và h∈ (ad x)(g). Khi đó tồn tại y∈g sao cho (x,h,y) hoặc là (0,0,0) hoặc là một bộ ba sl2.
Cho g′ là đại số Lie giải được kh+kx. Vì x∈[g′,g′], adgx là lũy linh (Chương I, §5, no. 3, Định lý 1); gọi n là hạt nhân của nó. Vì [ad h, ad x]= 2 ad x, ta có (ad h)n⊂n. Lấy z∈g sao cho h=−[x,z]. Với mọi số nguyên n≥0, đặt Mn= (ad x)ng. Nếu n>0, ta có (§1, no. 1, Bổ đề 1)
[ad z,(ad x)n]=n((ad h)−n+ 1)(ad x)n−1
do đó, nếu u∈Mn−1,
n((ad h)−n+1)u∈ (ad z)(ad x)u+Mn.
Vì (ad h)n⊂n, suy ra
((ad h)−n+1)(n∩Mn−1)⊂n∩Mn.
Vì ad x là lũy linh, nên Mn=0 với n đủ lớn. Do đó, các trị riêng của ad h∣n là các số nguyên ≥0. Vậy hạn chế của ad h+2 lên n là khả nghịch.
Bây giờ [h,z]+2z∈n vì
[x,[h,z]+2z]=[[x,h],z]+[h,[x,z]]+2[x,z]
=[−2x,z]+[h,−h]+2[x,z]=0
Do đó tồn tại z′∈n sao cho [h,z′]+2z′=[h,z]+2z, tức là [h,y]=−2y, khi đặt y=z−z′. Vì [x,y]=[x,z]=−h, điều này hoàn tất chứng minh.
Mệnh đề 2 (Jacobson-Morozov) 0179
Giả sử rằng g là nửa đơn. Cho x là một phần tử lũy linh khác không của g. Tồn tại h,y∈g sao cho (x,h,y) là một bộ ba sl2.
Đặt n= Ker(ad x)2. Nếu z∈n, thì [ad x,[ad x, ad z]]= ad([x,[x,z]]) =0. Theo Bổ đề 5, ad x∘ ad z là lũy linh, nên Tr(ad x∘ ad z) =0. Điều này cho thấy x trực giao với n đối với dạng Killing Φ của g. Vì
Φ((ad x)2y,y′) =Φ(y, (ad x)2y′)
với mọi y,y′∈g, và vì Φ không suy biến nên phần bù trực giao của n là ảnh của (ad x)2. Do đó tồn tại y′∈g sao cho x= (ad x)2y′. Đặt
h=−2[x,y′]
ta có [h,x]=2x và h∈ (ad x)(g). Bây giờ chỉ còn áp dụng Bổ đề 6.
Giả sử rằng g là nửa đơn. Cho G là một nhóm các tự đẳng cấu của g chứa Aute(g). Ánh xạ gán cho mỗi bộ ba sl2 (x,h,y) trong g phần tử lũy linh x xác định, bằng cách chuyển xuống thương, một song ánh từ tập hợp các lớp liên hợp theo G của các bộ ba sl2 lên tập hợp các lớp liên hợp theo G của các phần tử lũy linh khác không.
Điều này suy ra từ Mệnh đề 1 và 2.
Cho K là một trường giao hoán có ít nhất 4 phần tử. Gọi G là nhóm các ma trận (α0αβ−1) trong đó α∈K∗,β∈K. Gọi G′ là nhóm
gồm các ma trận như vậy sao cho α=1. Khi đó G′=(G,G).
Nếu α,α′∈K∗ và β,β′∈K,
(αβ)((α′β′)((αβ)−1(α′β′)−1
0 α−1 0 α′−1 0 α−1 0 α′−1
=(1−α′β′−αβα′2+α2α′β′+αβ)
0 1
Đặc biệt,
(1β)((α′ 0 )((1β)−1(α′ 0 )−1=(1β(1−α′2)).
0 1 0 α′−1 0 1 0 α′−1 0 1
Nhưng tồn tại α0′∈K∗ sao cho α0′=1 và α0′=−1, và khi đó k.(1−α0′2) =k, do đó bổ đề được chứng minh.
Mệnh đề 3 017C
Giả sử rằng g là nửa đơn. Nhóm Aute(g) bằng nhóm dẫn xuất của nó. Nếu g phân rã được, Aute(g) là nhóm dẫn xuất của Aut0(g).
Cho x là một phần tử lũy linh khác không của g. Chọn h,y∈g sao cho (x,h,y) là một bộ ba sl2 (Mệnh đề 2). Đại số con s của g sinh bởi (x,h,y) có thể được đồng nhất với sl(2,k). Gọi ρ là biểu diễn z→ adgz của s=sl(2,k) trên g, và gọi π là biểu diễn của SL(2,k) tương thích với ρ(§1, no. 4). Ảnh của π được sinh bởi các exp(t adgx) và các exp(t adgy) với t∈k(Đại số, Chap. III, §8, no. 9, Mệnh đề 17), do đó được chứa trong Aute(g). Vì SL(2,k) bằng với nhóm dẫn xuất của nó (Bổ đề 7 và loc. cit.), exp(adgx) thuộc nhóm dẫn xuất G của Aute(g). Do đó Aute(g) bằng G. Bây giờ giả sử rằng g là phân rã được. Vì Aut0(g)/Aute(g) là giao hoán (§5, no. 3, Nhận xét 3), điều vừa đi trước chứng minh rằng nhóm dẫn xuất của Aut0(g) là Aute(g).
3. Các phần tử đơn
Định nghĩa 2 017D
Một phần tử h của g được gọi là đơn nếu tồn tại x,y∈g sao cho (x,h,y) là một bộ ba sl2 trong g.
Ta cũng nói rằng h là phần tử đơn của bộ ba sl2 (x,h,y).
Mệnh đề 4 017E
Cho h là một phần tử khác không của g. Khi đó h là đơn khi và chỉ khi tồn tại x∈g sao cho [h,x]=2x và h∈ (ad x)(g).
Điều kiện ấy rõ ràng là cần. Nó là đủ theo Bổ đề 6.
Mệnh đề 5 017F
Giả sử rằng g là nửa đơn tách được. Lấy h là một đại số con Cartan tách của g, R là tập hợp các căn của (g,h), và B là một cơ sở của R. Lấy h là một phần tử đơn của g thuộc h. Khi đó h liên hợp dưới Aute(g,h) với một phần tử h′ của h sao cho α(h′)∈{0,1,2} với mọi α∈B.
Các trị riêng của adgh thuộc Z(§1, no. 2, Hệ quả của Mệnh đề 2). Do đó h∈hQ. Tồn tại một phần tử w của nhóm Weyl của (g,h) sao cho α(wh)≥0 với mọi α∈B (Chap. VI, §1, no. 5, Định lý 2 (i)). Theo §2, no. 2, Hệ quả của Định lý 2, ta được quy về trường hợp trong đó α(h)∈N với mọi α∈B. Ký hiệu R+ là tập hợp các căn dương đối với B, và R−=−R+. Tồn tại một bộ ba sl2 trong g có dạng (x,h,y). Gọi T là tập hợp các căn β sao cho β(h)=−2. Khi đó T⊂R− và y∈∑β∈Tgβ. Giả sử rằng có
tồn tại α∈B sao cho α(h)>2. Với mọi β∈T, ta có (α+β)(h)>0, nên α+β∈/R− và α+β=0; mặt khác, vì β∈R− và α∈B, ta có α+β∈/R+; do đó α+β∈/R∪{0}, nên [gα,gβ]=0. Vì thế, [y,gα]=0. Nhưng adgy∣gα là đơn ánh vì α(h)>0(§1, no. 2, Hệ quả của Mệnh đề 2). Mâu thuẫn này chứng tỏ rằng α(h)≤2 với mọi α∈B.
Nếu k đóng đại số và nếu g là nửa đơn, hạng l, thì số các lớp liên hợp của các phần tử đơn của g, đối với Aute(g), không vượt quá 3l.
Thật vậy, mọi phần tử nửa đơn của g đều liên hợp dưới Aute(g) với một phần tử của h.
Giả sử rằng k đóng đại số và g nửa đơn. Gọi h là một phần tử nửa đơn của g sao cho các giá trị riêng của ad h là hữu tỉ. Đặt g0= Ker(ad h),g2= Ker(ad h−2). Gọi Gh là tập hợp các tự đẳng cấu sơ cấp của g cố định h. Gọi x∈g2 sao cho [x,g0]=g2. Khi đó Ghx chứa một tập con của g2 vừa trù mật vừa mở đối với tôpô Zariski.
Cho h là một đại số con Cartan của g0. Khi đó đây là một đại số con Cartan của g chứa h (Chap. VII, §2, no. 3, Prop. 10). Ta có h∈hQ. Gọi R là hệ nghiệm của (g,h),Q là nhóm các trọng số căn. Tồn tại một cơ sở B của R sao cho α(h)≥0 với mọi α∈B.
Cho U là tập hợp các z∈h sao cho α(z)=0 với mọi α∈B. Gọi (Hα′)α∈B là cơ sở của h đối ngẫu với B. Nếu z∈U, tồn tại một đồng cấu từ Q vào k∗ biến mọi γ∈Q thành ∏α∈Bα(z)γ(Hα′). Theo §5, Mệnh đề 2 và 4, tự
đồng cấu φ(z) của không gian vectơ g mà cảm sinh trên gγ phép vị tự có tỷ số ∏α∈Bα(z)γ(Hα′) là một tự đẳng cấu sơ cấp của g, rõ ràng
thuộc Gh.
Cho s∈h. Nếu γ∈R sao cho gγ∩g2=0,
2=γ(h)=γ(α∈B∑α(h)Hα′)=α∈B∑α(h)γ(Hα′)
vì α(h)≥0 với mọi α∈B, và vì các γ(Hα′) là các số nguyên hoặc đều ≥0 hoặc đều ≤0, nên ta có γ(Hα′)∈N với mọi α∈B. Do đó, ta có thể xét (với z∈h) tự đồng cấu ψ(z) của không gian vectơ g2 cảm sinh trên gγ∩g2 phép vị tự có tỷ số ∏α∈Bα(z)γ(Hα′). Ánh xạ z→ψ(z) từ h vào End(g2) là đa thức. Với z∈U, ta có ψ(z)=φ(z)∣g2.
Cho γ1,...,γr là các nghiệm phân biệt của (g,h) triệt tiêu trên h. Nếu y1∈gγ1,..., yr∈gγr, ta có eady1...eadyr∈Gh. Do đó ta có thể định nghĩa một ánh xạ ρ từ h×gγ1×⋯×gγr vào g2 bằng cách đặt
ρ(z,y1,...,yr)=ψ(z)eady1...eadyrx
với z∈h,y1∈gγ1,...,yr∈gγr. Ánh xạ này là đa thức, và ρ(U,gγ1,...,gγr) ⊂Ghx. Theo Chap. VII, App. I, Prop. 3 và 4, chỉ cần chứng minh rằng ánh xạ tuyến tính tiếp xúc của ρ là toàn ánh tại một điểm nào đó.
Bây giờ, cho T là ánh xạ tuyến tính tiếp xúc của z→ψ(z) tại h0=∑α∈BHα′. Khi đó T(z) là tự đồng cấu của g2 cảm sinh trên gγ∩g2 phép vị tự với tỷ số
α∈B∑γ(Hα′)α(h0)γ(Hα′)−1α(z)β∈B,β=α∏β(h0)γ(Hα′)=α∈B∑γ(Hα′)α(z)=γ(z)
Do đó, ánh xạ tuyến tính tiếp xúc của z→ρ(z,0,...,0) tại h0 là ánh xạ z→[z,x]; ảnh của nó là [x,h]. Ánh xạ tuyến tính tiếp xúc tại 0 của ánh xạ y1→ρ(h0,y1,0,...,0) là ánh xạ y1→ψ(h0)[y1,x]; ánh xạ sau cùng này có ảnh là ψ(h0)[x,gγ1]=[x,gγ1]. Tương tự, ánh xạ tuyến tính tiếp xúc tại 0 của ánh xạ yi→ρ(h0,0,...,0,yi,0,...,0) có ảnh là [x,gγi]. Cuối cùng, ánh xạ tuyến tính tiếp xúc của ρ tại (h0,0,...,0) có ảnh là
[x,h+gγ1+⋯+gγr]=[x,g0]=g2.Q.E.D
\*Nhóm Gh là một nhóm đại số với đại số Lie ad g0.\*
Mệnh đề 6 017I
Giả sử rằng k đóng đại số và g là nửa đơn. Cho G là một nhóm các tự đẳng cấu của g chứa Aute(g). Cho (x,h,y) và (x′,h′,y′) là các bộ ba sl2 trong g. Các điều kiện sau là tương đương:
(i) h và h′ liên hợp dưới G;
(ii) (x,h,y) và (x′,h′,y′) liên hợp dưới G.
Ta chỉ còn phải chứng minh kéo theo (i) =⇒ (ii), và ngay lập tức quy về trường hợp h=h′. Đưa vào g2 và Gh như trong Bổ đề 8. Ta có x∈g2, và [x,g0]=g2 theo §1, no. 2, Hệ quả của Mệnh đề 2. Do đó Ghx chứa một tập con của g2 vừa trù mật vừa mở trong tôpô Zariski, và Ghx′ cũng vậy. Vậy tồn tại a∈Gh sao cho a(x)=x′. Ta có a(h)=h, và do đó a(y)=y′ (no. 1, Bổ đề 1).
Hệ quả 1 017J
Ánh xạ liên kết với mọi bộ ba sl2 phần tử đơn của nó xác định, bằng cách chuyển sang các thương, một song ánh từ tập hợp các lớp liên hợp theo G của các bộ ba sl2 đến tập hợp các lớp liên hợp theo G của các phần tử đơn.
Hệ quả 2 017K
Nếu rk(g) =l, số các lớp liên hợp, đối với Aute(g), của các phần tử lũy linh khác không của g nhiều nhất là 3l.
Điều này suy ra từ Hệ quả 1, Hệ quả của Mệnh đề 2, và Hệ quả của Mệnh đề 5.
Hệ quả 3 017L
Nếu rk(g) =l, số các lớp liên hợp, đối với Aute(g), của các đại số con của g đẳng cấu với sl(2,k) nhiều nhất là 3l.
Điều này suy ra từ Hệ quả 1, Mệnh đề 1, và Hệ quả của Mệnh đề 5.
4. Các phần tử chính
Định nghĩa 3 017M
Giả sử rằng g là nửa đơn.
(i) Một phần tử lũy linh x của g được gọi là chính nếu chiều của Ker ad x là hạng của g.
(ii) Một phần tử đơn h của g được gọi là chính nếu h là chính quy và các giá trị riêng của ad h trong một bao đóng đại số của k thuộc 2Z.
(iii) Một bộ ba sl2 (x,h,y) của g được gọi là chính nếu độ dài của g, được xét như một môđun trên kx+kh+ky, bằng với hạng của g.
Mệnh đề 7 017N
Giả sử rằng g là nửa đơn. Cho (x,h,y) là một bộ ba sl2 trong g. Các điều kiện sau là tương đương:
(i) x là chính;
(ii) h là chính;
(iii) (x,h,y) là chính.
Với p∈Z, đặt gp= Ker(ad h−p). Đặt g′=∑p∈Zg2p. Nếu coi g như
một môđun trên a=kx+kh+ky,g′ là tổng của các môđun con đơn có chiều lẻ (§1, no. 2, Hệ quả của Mệnh đề 2). Gọi l (resp. l′) là độ dài của g (resp. g′) khi coi như một a-môđun. Theo §1, no. 2,
dim(Ker ad x) =l≥l′= dim(Ker ad h)≥ rk(g).
Sự tương đương của (i) và (iii) suy ra ngay lập tức. Mặt khác, điều kiện (ii) có nghĩa là dim(Ker ad h) = rk(g) và g′=g, nói cách khác là
dim(Ker ad h) = rk(g) và l=l′. Sự tương đương của (ii) với các điều kiện khác suy ra.
Mệnh đề 8 017O
Giả sử rằng g là nửa đơn và =0. Gọi h là một đại số con Cartan tách của g, R là hệ nghiệm của (g,h), B là một cơ sở của R,h0 là phần tử của h sao cho α(h0)=2 với mọi α∈B.
(i) Phần tử h0 là đơn và chính.
(ii) Các phần tử x của g sao cho tồn tại một bộ ba sl2 có dạng (x,h0,y) là các phần tử của ∑α∈Bgα có thành phần khác không trong mỗi gα.
Phần tử h0 là phần tử đã xét ở §7, no. 5, Bổ đề 2 (xem loc. cit., công thức (1)). Từ bổ đề này suy ra rằng h0 là chính đơn và rằng, nếu x∈∑α∈Bgα có thành phần khác không trong mỗi gα, thì tồn tại một bộ ba sl2 có dạng (x,h0,y). Ngược lại, cho (x,h0,y) là một bộ ba sl2. Ta có [h0,x]=2x, nên x∈∑γ∈R,γ(h0)=2gγ=∑α∈Bgα. Tương tự, y∈∑α∈Bg−α. Viết
h0=∑α∈BaαHα trong đó aα>0 với mọi α∈B,
x=∑α∈BXα trong đó Xα∈gα với mọi α∈B,
y=∑α∈BX−α trong đó X−α∈g−α với mọi α∈B.
Khi đó
α∈B∑aαHα=h0=[y,x]=α,β∈B∑[X−β,Xα]=α∈B∑[X−α,Xα]
nên [X−α,Xα]=0 với mọi α∈B.
Trong một đại số Lie nửa đơn phân rã được, tồn tại các phần tử lũy linh chính.
Trong một đại số Lie nửa đơn không phân rã được, 0 có thể là phần tử lũy linh duy nhất.
Mệnh đề 9 017Q
Giả sử rằng k là đóng đại số và g là nửa đơn. Mọi phần tử đơn chính (tương ứng, lũy linh) của g đều liên hợp dưới Aute(g).
Ta giữ các ký hiệu của Mệnh đề 8. Cho h là một phần tử đơn chính. Nó liên hợp dưới Aute(g) với một h′∈h sao cho α(h′)∈{0,1,2} với mọi α∈B (no. 3, Mệnh đề 5). Vì h′ là đơn chính, nên α(h′)=0 và α(h′)∈2Z với mọi α∈B, do đó α(h′)=2 với mọi α∈B, và vì thế h′=h0. Điều này chứng minh mệnh đề đối với các phần tử đơn chính.
Cho x,x′ là các phần tử lũy linh chính. Tồn tại các bộ ba sl2 (x,h,y), (x′,h′,y′). Theo Mệnh đề 7,h và h′ là đơn chính, nên liên hợp dưới Aute(g) theo điều vừa nêu trên. Vậy x và x′ liên hợp dưới Aute(g) (Mệnh đề 6).
Với các ký hiệu của Mệnh đề 8, đặt gp= Ker(ad h0−p) với p∈Z. Gọi g∗2 là tập hợp các phần tử của g2=∑α∈Bgα có một thành phần khác không
trong mỗi gα. Gọi R+ là tập hợp các nghiệm dương đối với B,n+=∑α∈R+gα, và x∈g∗2. Khi đó eadn+.x=x+[n+,n+].
Hiển nhiên là eadn+.x⊂x+[n+,n+]. Ta chứng minh rằng, nếu v∈[n+,n+], thì x+v∈eadn+.x. Đặt n(p)=∑r≥pg2r; chỉ cần chứng minh rằng
x+v∈eadn+.x+n(p)
với mọi p≥2. Điều này là hiển nhiên khi p=2 vì n(2) =[n+,n+](§3, no. 3, Mệnh đề 9 (iii)). Giả sử ta đã tìm được z∈n+ sao cho v+x−eadz.x∈ n(p). Vì tồn tại một bộ ba sl2 có dạng (x,h0,y) (Mệnh đề 8), §1, no. 2, Hệ quả của Mệnh đề 2 chứng minh rằng [x,g2p−2]=g2p; do đó tồn tại z′∈g2p−2⊂n+ sao cho
v+x−eadz.x∈[z′,x]+n(p+1)
Vậy v+x∈ead(z+z′).x+n(p+1), và mệnh đề của chúng ta được thiết lập bằng quy nạp.
Mệnh đề 10 017S
Giả sử rằng g là nửa đơn. Cho h là một đại số con Cartan tách của g, R là hệ nghiệm của (g,h), B là một cơ sở của R, R+ là tập hợp các nghiệm dương đối với B, và n+=∑α∈R+gα. Các phần tử lũy linh chính thuộc n+ là các phần tử của n+ có một thành phần khác không trong gα với mọi α∈B.
Mệnh đề 8 và Bổ đề 9 chứng minh rằng các phần tử như thế là các phần tử lũy linh chính. Ta chứng minh mệnh đề đảo lại. Hiển nhiên ta có thể giả sử rằng g là đơn. Gọi h0 và gp như trong Mệnh đề 8 và Bổ đề 9. Gọi ω là nghiệm cao nhất, và đặt ω(h0)=2q; ta có q=h−1, trong đó h là số Coxeter của R, xem Chương VI, §1, no. 11, Mệnh đề 31. Khi đó g2q=gω,g−2q=g−ω, và g2k=0 với ∣k∣>q. Tồn tại một bộ ba sl2 chính (x0,h0,y0). Theo §1, no. 2, Hệ quả của Mệnh đề 2, (ad x0)2q(g−ω)=gω, nên (ad x0)2q=0. Gọi x là một phần tử lũy linh chính của g thuộc n+. Nếu k là một bao đóng đại số của k,x⊗1 và x0⊗1 liên hợp dưới một tự đẳng cấu của g⊗kk (Mệnh đề 9), nên (ad x)2q=0. Tồn tại λ∈R sao cho (ad x)2qgλ=0. Đặt x=∑n≥1xn, trong đó xn∈g2n.
Khi đó
(ad x)2qgλ⊂ (ad x1)2qgλ+∑k>4q+λ(h0)gk= (ad x1)2qgλ, vì 4q+λ(h0)≥4q−2q=2q. Bây giờ (ad x1)2qgλ⊂g4q+λ(h0), trong đó λ=−ω. Do đó, (ad x1)2qg−ω=gω. Ta có ω=∑α∈Bnαα với nα>0 với mọi α∈ B (Chương VI, §1, no. 8, Nhận xét). Nếu tồn tại α0∈B sao cho x1∈
∑gα, quan hệ
α∈B,α=α0
ω∈/−ω+α∈B,α=α0∑kα
hàm ý rằng gω⊂ (ad x1)pg−ω với mọi p; điều này phi lý, vậy nên thành phần của x1 trong gα là khác không với mọi α∈B.
Bài tập
Xem bài tập của § 11.