Bourbaki

§ 3. Các đại số con của các đại số Lie nửa đơn tách

Trong đoạn này, ta ký hiệu bởi (g,h)(\mathfrak{g},\mathfrak{h}) một đại số Lie nửa đơn tách, và bởi R hệ nghiệm của nó.

1. Các đại số con ổn định dưới ad h\mathfrak{h}

Bổ đề 1 00ZO

Cho V là một không gian con vectơ của g\mathfrak{g} và R(V) là tập hợp các α∈R\alpha \in R sao cho gα⊂V\mathfrak{g}^{\alpha}\subset V. Khi đó, (V∩h)+∑α∈R(V)gα(V\cap \mathfrak{h}) +\sum_{\alpha\in R(V)}\mathfrak{g}^{\alpha} là không gian con vectơ lớn nhất của V ổn định dưới ad h\mathfrak{h}.

Một không gian con vectơ W của V ổn định dưới ad h\mathfrak{h} khi và chỉ khi

W=(W∩h)+∑α∈R(W∩gα) W = (W\cap \mathfrak{h}) +\sum_{\alpha\in R}(W\cap \mathfrak{g}^{\alpha})

(Đại số, Chương VII, §2, no. 2, Hệ quả 1 của Định lý 1). Không gian con vectơ lớn nhất của V ổn định dưới ad h\mathfrak{h} do đó là (V∩h)+∑α∈R(V∩gα)(V\cap \mathfrak{h}) +\sum_{\alpha\in R}(V\cap \mathfrak{g}^{\alpha}). Nhưng V∩gα=gαV\cap \mathfrak{g}^{\alpha}=\mathfrak{g}^{\alpha} với α∈R(V)\alpha \in R(V), và V∩gα=0V\cap \mathfrak{g}^{\alpha}= 0 với α∉R(V)\alpha \notin R(V) vì dim gα=1\mathfrak{g}^{\alpha}= 1. Điều phải chứng minh.

Với mọi tập con P của R, đặt

gP=∑α∈PgαhP=∑α∈Phα \mathfrak{g}^P=\sum_{\alpha\in P}\mathfrak{g}^{\alpha}\mathfrak{h}_P=\sum_{\alpha\in P}\mathfrak{h}_{\alpha}

Nếu P⊂RP\subset R và Q⊂RQ\subset R, ta rõ ràng có

[h,gP]⊂gP(1) [\mathfrak{h},\mathfrak{g}^P]\subset \mathfrak{g}^P \tag{1}
[gP,gQ]=g(P+Q)∩R+hP∩(−Q)(2) [\mathfrak{g}^P,\mathfrak{g}^Q] =\mathfrak{g}^{(P+Q)\cap R}+\mathfrak{h}_{P\cap(-Q)} \tag{2}

Nhắc lại (Chương VI, §1, no. 7, Định nghĩa 4) rằng một tập con P của R được gọi là đóng nếu các điều kiện α∈P,β∈P,α+β∈R\alpha \in P, \beta \in P, \alpha +\beta \in R kéo theo α+β∈P\alpha +\beta \in P, nói cách khác nếu (P+P)∩R⊂P(P + P)\cap R\subset P.

Bổ đề 2 00ZP

Cho h′\mathfrak{h}' là một không gian con vectơ của h\mathfrak{h} và P là một tập con của R. Khi đó h′+gP\mathfrak{h}'+\mathfrak{g}^P là một đại số con của g\mathfrak{g} khi và chỉ khi P là một tập con đóng của R và

h′⊃hP∩(−P) \mathfrak{h}'\supset \mathfrak{h}_{P\cap(-P)}

Thật vậy,

[h′+gP,h′+gP]=[h′,gP]+[gP,gP]=hP∩(−P)+[h′,gP]+g(P+P)∩R [\mathfrak{h}'+\mathfrak{g}^P,\mathfrak{h}'+\mathfrak{g}^P] = [\mathfrak{h}',\mathfrak{g}^P] + [\mathfrak{g}^P,\mathfrak{g}^P] =\mathfrak{h}_{P\cap(-P)}+ [\mathfrak{h}',\mathfrak{g}^P] +\mathfrak{g}^{(P+P)\cap R}

Vậy h′+gP\mathfrak{h}'+\mathfrak{g}^P là một đại số con của g\mathfrak{g} khi và chỉ khi

hP∩(−P)⊂h′\mathfrak{h}_{P\cap(-P)}\subset \mathfrak{h}' and g(P+P)∩R⊂gP\mathfrak{g}^{(P+P)\cap R}\subset \mathfrak{g}^P

điều này chứng minh bổ đề.

Mệnh đề 1 00ZQ

(i) Các đại số con của g\mathfrak{g} ổn định dưới adh\mathfrak{h} là các không gian vectơ có dạng h′+gP\mathfrak{h}'+\mathfrak{g}^P, trong đó P là một tập con đóng của R và h′\mathfrak{h}' là một không gian vectơ của h\mathfrak{h} chứa hP∩(−P)\mathfrak{h}_{P\cap(-P)}.

(ii) Cho h′,h′′\mathfrak{h}',\mathfrak{h}'' là các không gian vectơ của h\mathfrak{h} và P,QP,Q là các tập con đóng của R, với h′⊃hP∩(−P),h′′⊂h′\mathfrak{h}'\supset \mathfrak{h}_{P\cap(-P)},\mathfrak{h}''\subset \mathfrak{h}' và Q⊂PQ\subset P. Khi đó h′′+gQ\mathfrak{h}''+\mathfrak{g}^Q là một iđêan của h′+gP\mathfrak{h}'+\mathfrak{g}^P khi và chỉ khi

(P+Q)∩R⊂Q(P + Q)\cap R\subset Q và hP∩(−Q)⊂h′′⊂⋂α∈P,α∉Q\mathfrak{h}_{P\cap(-Q)}\subset \mathfrak{h}''\subset \bigcap_{\alpha\in P,\alpha \notin Q} Ker α\alpha.

Mệnh đề (i) suy ra ngay lập tức từ Bổ đề 1 và 2. Cho h′,h′′,P,Q\mathfrak{h}',\mathfrak{h}'',P,Q như trong (ii). Khi đó

[h′+gP,h′′+gQ]=hP∩(−Q)+[h′,gQ]+[h′′,gP]+g(P+Q)∩R [\mathfrak{h}'+\mathfrak{g}^P,\mathfrak{h}''+\mathfrak{g}^Q] =\mathfrak{h}_{P\cap(-Q)}+ [\mathfrak{h}',\mathfrak{g}^Q] + [\mathfrak{h}'',\mathfrak{g}^P] +\mathfrak{g}^{(P+Q)\cap R}

Do đó, h′′+gQ\mathfrak{h}''+\mathfrak{g}^Q là một iđêan của h′+gP\mathfrak{h}'+\mathfrak{g}^P khi và chỉ khi

hP∩(−Q)⊂h′′,[h′′,gP]⊂gQ,g(P+Q)∩R⊂gQ \mathfrak{h}_{P\cap(-Q)}\subset \mathfrak{h}'',[\mathfrak{h}'',\mathfrak{g}^P]\subset \mathfrak{g}^Q,\mathfrak{g}^{(P+Q)\cap R}\subset \mathfrak{g}^Q

Điều này kéo theo (ii).

Mệnh đề 2 00ZR

Cho a\mathfrak{a} là một đại số con của g\mathfrak{g} ổn định dưới adh\mathfrak{h}, và cho h′⊂h\mathfrak{h}'\subset \mathfrak{h}, P⊂RP\subset R sao cho a=h′+gP\mathfrak{a}=\mathfrak{h}'+\mathfrak{g}^P.

(i) Gọi k\mathfrak{k} là tập hợp các x∈h′x\in \mathfrak{h}' sao cho α(x)=0\alpha (x) = 0 với mọi α∈P∩(−P)\alpha \in P\cap (-P). Căn của a\mathfrak{a} là k+gQ\mathfrak{k}+\mathfrak{g}^Q, trong đó Q là tập hợp các α∈P\alpha \in P sao cho −α∉P-\alpha \notin P. Hơn nữa, gQ\mathfrak{g}^Q là một iđêan lũy linh của a\mathfrak{a}.

(ii) a\mathfrak{a} là nửa đơn khi và chỉ khi P=−PP =-P và h′=hP\mathfrak{h}'=\mathfrak{h}_P.

(iii) a\mathfrak{a} là giải được nếu và chỉ nếu P∩(−P)=∅P\cap (-P) =\emptyset. Khi đó [a,a]=gS[\mathfrak{a},\mathfrak{a}] =\mathfrak{g}^S, trong đó

S=((P+P)∩R)∪{α∈P∣α(h′)≠0} S = ((P + P)\cap R)\cup \{\alpha \in P|\alpha (\mathfrak{h}')\not= 0\}

(iv) a\mathfrak{a} khả quy trong g\mathfrak{g} nếu và chỉ nếu P=−PP =-P.

(v) a\mathfrak{a} gồm các phần tử lũy linh nếu và chỉ nếu h′=0\mathfrak{h}'= 0. Khi đó P∩(−P)=P\cap (-P) = ∅\emptyset, và a\mathfrak{a} là lũy linh.

Ta chứng minh (v). Nếu a\mathfrak{a} gồm các phần tử lũy linh thì a\mathfrak{a} rõ ràng là lũy linh, và h′=0\mathfrak{h}'= 0 vì các phần tử của h\mathfrak{h} là nửa đơn. Giả sử h′=0\mathfrak{h}'= 0. Theo Mệnh đề 1 (i), P∩(−P)=∅P\cap (-P) =\emptyset. Theo Chương VI, §1, no. 7, Mệnh đề 22, tồn tại một buồng C của R sao cho P⊂R+(C)P\subset R_+(C). Do đó tồn tại một số nguyên n>0n >0 có tính chất sau: nếu α1,...,αn∈P\alpha_1, . . . , \alpha_n\in P và β∈R∪{0}\beta \in R\cup \{0\}, thì

α1+⋯+αn+β∉R∪{0} \alpha_1+\cdots +\alpha_n+\beta \notin R\cup \{0\}

Điều này kéo theo mọi phần tử của gP\mathfrak{g}^P đều lũy linh, do đó có (v).

Ta chứng minh (iii). Nếu P∩(−P)=∅,gPP\cap (-P) =\emptyset ,\mathfrak{g}^P là một đại số con của g\mathfrak{g} (Mệnh đề 1 (i)), và là lũy linh theo (v). Bây giờ

[a,a]=[h′,gP]+[gP,gP]=[h′,gP]+g(P+P)∩R⊂gP [\mathfrak{a},\mathfrak{a}] = [\mathfrak{h}',\mathfrak{g}^P] + [\mathfrak{g}^P,\mathfrak{g}^P] = [\mathfrak{h}',\mathfrak{g}^P] +\mathfrak{g}^{(P+P)\cap R}\subset \mathfrak{g}^P

do đó a\mathfrak{a} là giải được và [a,a][\mathfrak{a},\mathfrak{a}] được cho bởi công thức trong mệnh đề. Nếu P∩(−P)≠∅P\cap (-P)\not=\emptyset, lấy α∈P\alpha \in P sao cho −α∈P-\alpha \in P. Khi đó hα+gα+g−α\mathfrak{h}_{\alpha}+\mathfrak{g}^{\alpha}+\mathfrak{g}^{-\alpha} là một đại số con đơn của a\mathfrak{a} nên a\mathfrak{a} không giải được.

Ta chứng minh (i). Vì P đóng, (P+Q)∩R⊂P(P + Q)\cap R\subset P. Nếu α∈P,β∈Q\alpha \in P, \beta \in Q và α+β∈R\alpha +\beta \in R, thì không thể có α+β∈−P\alpha +\beta \in -P, vì, do P đóng, điều này sẽ kéo theo −β=−(α+β)+α∈P-\beta =-(\alpha +\beta ) +\alpha \in P trong khi β∈Q\beta \in Q; do đó, (P+Q)∩R⊂Q(P + Q)\cap R\subset Q. Điều này chứng minh rằng gQ\mathfrak{g}^Q là một iđêan của a\mathfrak{a}, lũy linh theo (v). Ta có P∩(−Q)=∅P\cap (-Q) =\emptyset, và P∩(−P)=P∩∁QP\cap (-P) = P\cap \complement Q, nên hP∩(−Q)⊂k⊂⋂α∈P,α∉Q\mathfrak{h}_{P\cap(-Q)}\subset \mathfrak{k}\subset \bigcap_{\alpha\in P,\alpha \notin Q} Kerα\alpha. Theo Mệnh đề 1 (ii),

k+gQ\mathfrak{k}+\mathfrak{g}^Q là một iđêan của a\mathfrak{a}. Vì Q∩(−Q)=∅Q\cap (-Q) =\emptyset, iđêan này giải được theo (iii). Do đó nó được chứa trong căn r\mathfrak{r} của a\mathfrak{a}. Vì r\mathfrak{r} ổn định dưới mọi đạo hàm của a,r\mathfrak{a},\mathfrak{r} ổn định dưới ad h\mathfrak{h}. Bởi vậy tồn tại một tập con S của P sao cho r=(r∩h)+gS\mathfrak{r}= (\mathfrak{r}\cap \mathfrak{h}) +\mathfrak{g}^S. Giả sử α∈S\alpha \in S và −α∈P-\alpha \in P. Khi đó hα=[gα,g−α]⊂r\mathfrak{h}_{\alpha}= [\mathfrak{g}^{\alpha},\mathfrak{g}^{-\alpha}]\subset \mathfrak{r}, nên g−α=[hα,g−α]⊂r=0\mathfrak{g}^{-\alpha}= [\mathfrak{h}_{\alpha},\mathfrak{g}^{-\alpha}]\subset \mathfrak{r}= 0, do đó −α∈S-\alpha \in S; theo (iii), điều này mâu thuẫn với việc r\mathfrak{r} là giải được. Do đó, S⊂QS\subset Q. Cuối cùng, nếu x∈r∩hx\in \mathfrak{r}\cap \mathfrak{h} và nếu α∈P∩(−P)\alpha \in P\cap (-P), thì [x,gα]⊂gα∩r=0[x,\mathfrak{g}^{\alpha}]\subset \mathfrak{g}^{\alpha}\cap \mathfrak{r}= 0, nên α(x)=0\alpha (x) = 0; điều này cho thấy x∈kx\in \mathfrak{k}. Vậy r⊂k+gQ\mathfrak{r}\subset \mathfrak{k}+\mathfrak{g}^Q và chứng minh của (i) là đầy đủ.

Ta chứng minh (iv). Theo (i), biểu diễn liên hợp của a\mathfrak{a} trên g\mathfrak{g} là nửa đơn khi và chỉ khi adgx_{\mathfrak{g}}x là nửa đơn với mọi x∈k+gQx\in \mathfrak{k}+\mathfrak{g}^Q (Chương I, §6, no. 5, Định lý 4); theo (v), điều này xảy ra khi và chỉ khi Q=∅Q =\emptyset, nói cách khác P=−PP =-P.

Ta chứng minh (ii). Nếu a\mathfrak{a} là nửa đơn, thì P=−PP =-P theo (i), nên hP⊂h′\mathfrak{h}_P\subset \mathfrak{h}'; hơn nữa, a=[a,a]⊂hP+gP\mathfrak{a}= [\mathfrak{a},\mathfrak{a}]\subset \mathfrak{h}_P+\mathfrak{g}^P và do đó h′=hP\mathfrak{h}'=\mathfrak{h}_P. Nếu P=−PP =-P và h′=hP,a\mathfrak{h}'=\mathfrak{h}_P,\mathfrak{a} là khả quy theo (iv), và a=∑α∈Psα\mathfrak{a}=\sum_{\alpha\in P}\mathfrak{s}_{\alpha}, nên a=[a,a]\mathfrak{a}= [\mathfrak{a},\mathfrak{a}] và a\mathfrak{a} là nửa đơn.

Mệnh đề 3 00ZS

Cho a\mathfrak{a} là một đại số con nửa đơn của g\mathfrak{g} ổn định dưới ad(h\mathfrak{h}) và gọi P là tập con của R sao cho a=hP+gP\mathfrak{a}=\mathfrak{h}_P+\mathfrak{g}^P.

(i) hP\mathfrak{h}_P là một đại số con Cartan tách của a\mathfrak{a}.

(ii) Hệ nghiệm của (a,hP)(\mathfrak{a},\mathfrak{h}_P) là tập hợp các hạn chế lên hP\mathfrak{h}_P của các phần tử của P.

Vì hP\mathfrak{h}_P ổn định dưới ad h\mathfrak{h}, bộ chuẩn hóa của nó trong a\mathfrak{a} ổn định dưới ad h\mathfrak{h}, và do đó có dạng hP+gQ\mathfrak{h}_P+\mathfrak{g}^Q với Q⊂PQ\subset P (Bổ đề 1). Nếu α∈Q\alpha \in Q,

gα=[hα,gα]⊂[hP,gα]⊂hP \mathfrak{g}^{\alpha}= [\mathfrak{h}_{\alpha},\mathfrak{g}^{\alpha}]\subset [\mathfrak{h}_P,\mathfrak{g}^{\alpha}]\subset \mathfrak{h}_P

điều đó là phi lý. Vậy Q=∅Q =\emptyset và hP\mathfrak{h}_P là chuẩn hóa tử của chính nó trong a\mathfrak{a}. Điều này chứng minh rằng hP\mathfrak{h}_P là một đại số con Cartan của a\mathfrak{a}. Nếu x∈hPx\in \mathfrak{h}_P, adgx_{\mathfrak{g}}x, và a fortiori adax_{\mathfrak{a}}x, tam giác hóa được. Vậy (i) được chứng minh, và (ii) là hiển nhiên.

Theo Mệnh đề 1 (i), các đại số con của g\mathfrak{g} chứa h\mathfrak{h} là các tập hợp h+gP\mathfrak{h}+\mathfrak{g}^P trong đó P là một tập con đóng của R. Theo Chương VII, §3, Mệnh đề 3, mọi đại số con Cartan của h+gP\mathfrak{h}+\mathfrak{g}^P đều là một đại số con Cartan của g\mathfrak{g}.

Mệnh đề 4 00ZT

Giả sử a\mathfrak{a} là một đại số con của g\mathfrak{g} chứa h,x\mathfrak{h},x là một phần tử của a,s\mathfrak{a},s và nn là các thành phần nửa đơn và lũy linh của nó. Khi đó s∈as\in \mathfrak{a} và n∈an\in \mathfrak{a}.

Ta có (ad xx)a⊂a\mathfrak{a}\subset \mathfrak{a}, nên (ad ss)a⊂a\mathfrak{a}\subset \mathfrak{a} và (ad nn)a⊂a\mathfrak{a}\subset \mathfrak{a}. Vì a\mathfrak{a} là bộ chuẩn hóa của chính nó trong g\mathfrak{g} (Chương VII, §2, no. 1, Hệ quả 4 của Mệnh đề 44),s∈a,s\in \mathfrak{a} và n∈an\in \mathfrak{a}.

Mệnh đề 5 00ZU

Cho P là một tập con đóng của R.

(i) h+gP\mathfrak{h}+\mathfrak{g}^P giải được khi và chỉ khi P∩(−P)=∅P\cap (-P) =\emptyset. Trong trường hợp đó, [h+gP,h+gP]=gP[\mathfrak{h}+\mathfrak{g}^P,\mathfrak{h}+\mathfrak{g}^P] =\mathfrak{g}^P.

(ii) h+gP\mathfrak{h}+\mathfrak{g}^P là khả quy khi và chỉ khi P=−PP =-P.

Mệnh đề (i) suy ra từ Mệnh đề 2 (iii). Nếu P=−P,h+gPP =-P,\mathfrak{h}+\mathfrak{g}^P là khả quy (Mệnh đề 2 (iv)). Giả sử a=h+gP\mathfrak{a}=\mathfrak{h}+\mathfrak{g}^P là khả quy. Khi đó

gP=[h,gP]⊂[a,a]⊂h+gP \mathfrak{g}^P= [\mathfrak{h},\mathfrak{g}^P]\subset [\mathfrak{a},\mathfrak{a}]\subset \mathfrak{h}+\mathfrak{g}^P

nên [a,a][\mathfrak{a},\mathfrak{a}] có dạng h′+gP\mathfrak{h}'+\mathfrak{g}^P với h′⊂h\mathfrak{h}'\subset \mathfrak{h}; vì [a,a][\mathfrak{a},\mathfrak{a}] là nửa đơn, suy ra P=−PP =-P (Mệnh đề 2 (ii)).

2. Iđêan

Mệnh đề 6 00ZV

Cho R1,...,RpR_1, . . . ,R_p là các thành phần bất khả quy của R. Với i=1,...,pi= 1, . . . , p, đặt gi=hRi+gRi\mathfrak{g}_i=\mathfrak{h}_{R_i}+\mathfrak{g}^{R_i}. Khi đó g1,...,gp\mathfrak{g}_1, . . . ,\mathfrak{g}_p là các thành phần đơn của g\mathfrak{g}.

Các gi\mathfrak{g}_i là các iđêan của g\mathfrak{g} (Mệnh đề 1 (ii)). Hiển nhiên g\mathfrak{g} là tổng trực tiếp của các gi\mathfrak{g}_i, do đó là tích của các gi\mathfrak{g}_i. Cho a\mathfrak{a} và b\mathfrak{b} là các iđêan bù nhau của g\mathfrak{g}. Khi đó a\mathfrak{a} và b\mathfrak{b} là nửa đơn và ổn định dưới ad h\mathfrak{h}, nên tồn tại các tập con P,QP,Q của R sao cho a=hP+gP,b=hQ+gQ\mathfrak{a}=\mathfrak{h}_P+\mathfrak{g}^P,\mathfrak{b}=\mathfrak{h}_Q+\mathfrak{g}^Q. Khi đó hP,hQ\mathfrak{h}_P,\mathfrak{h}_Q là các phần bù trực giao của nhau trong h\mathfrak{h} đối với dạng Killing, nên P và Q là các hợp của những thành phần bất khả quy của R. Điều này chứng minh rằng các gi\mathfrak{g}_i là các iđêan cực tiểu của g\mathfrak{g}.

Hệ quả 1 01IZ

g\mathfrak{g} là đơn khi và chỉ khi R là bất khả quy (nói cách khác, đồ thị Dynkin của nó là liên thông).

Điều này suy ra từ Mệnh đề 6.

Một đại số Lie a\mathfrak{a} được gọi là đơn tuyệt đối nếu, với mọi mở rộng k′k' của kk, đại số Lie trên k′k' a(k′)\mathfrak{a}_{(k')} là đơn.

Hệ quả 2 00ZW

Một đại số Lie đơn phân rã được là đơn tuyệt đối.

Điều này suy ra từ Hệ quả 1.

Nếu g\mathfrak{g} thuộc kiểu Al(l≥1)A_l(l\geq 1) hoặc Bl(l≥1)B_l(l\geq 1) hoặc Cl(l≥1)C_l(l\geq 1) hoặc Dl(l≥3),gD_l(l\geq 3),\mathfrak{g} được gọi là một đại số Lie đơn phân rã được cổ điển. Nếu g\mathfrak{g} thuộc kiểu E6,E7,E8,F4E_6, E_7, E_8, F_4, hoặc G2,gG_2,\mathfrak{g} được gọi là một đại số Lie đơn phân rã được ngoại lệ.

3. Các đại số con Borel

Mệnh đề 7 00ZX

Cho b=h+gP\mathfrak{b}=\mathfrak{h}+\mathfrak{g}^P là một đại số con của g\mathfrak{g} chứa h\mathfrak{h}. Các điều kiện sau là tương đương:

(i) b\mathfrak{b} là một đại số con giải được cực đại của g\mathfrak{g};

(ii) tồn tại một buồng C của R sao cho P=R+(C)P = R_+(C);

(iii) P∩(−P)=∅P\cap (-P) =\emptyset và P∪(−P)=RP\cup (-P) = R.

(i) =⇒=\Rightarrow (ii): Nếu b\mathfrak{b} giải được, thì P∩(−P)=∅P\cap (-P) =\emptyset. Khi đó tồn tại một buồng C của R sao cho P⊂R+(C)P\subset R_+(C) (Chương VI, §1, no. 7, Mệnh đề 22). Khi đó h+gR+(C)\mathfrak{h}+\mathfrak{g}^{R_+(C)} là một đại số con giải được của g\mathfrak{g} chứa b\mathfrak{b}, do đó bằng b\mathfrak{b} nếu b\mathfrak{b} là cực đại.

(ii) =⇒=\Rightarrow (iii): Điều này hiển nhiên.

(iii) =⇒=\Rightarrow (i): Giả sử rằng P∩(−P)=∅P\cap (-P) =\emptyset và P∪(−P)=RP\cup (-P) = R. Khi đó b\mathfrak{b} là giải được. Gọi b′\mathfrak{b}' là một đại số con giải được của g\mathfrak{g} chứa b\mathfrak{b}. Tồn tại một tập con Q của R sao cho b′=h+gQ\mathfrak{b}'=\mathfrak{h}+\mathfrak{g}^Q. Khi đó Q∩(−Q)=∅Q\cap (-Q) =\emptyset và Q⊃PQ\supset P, nên Q = P và b′=b\mathfrak{b}'=\mathfrak{b}.

Định nghĩa 1 00ZY

Một đại số con của g\mathfrak{g} chứa h\mathfrak{h} và thỏa mãn điều kiện tương đương trong Mệnh đề 7 được gọi là một đại số con Borel của (g,h)(\mathfrak{g},\mathfrak{h}).

Một đại số con b\mathfrak{b} của một đại số tách được g\mathfrak{g} được gọi là một đại số con Borel của g\mathfrak{g} nếu tồn tại một đại số con Cartan tách h′\mathfrak{h}' của g\mathfrak{g} sao cho b\mathfrak{b} là một đại số con Borel của (g,h′)(\mathfrak{g},\mathfrak{h}').

Cho (g,h)(\mathfrak{g},\mathfrak{h}) là một đại số Lie khả quy tách được. Giả sử g=c×s\mathfrak{g}=\mathfrak{c}\times \mathfrak{s} với c\mathfrak{c} giao hoán và s\mathfrak{s} nửa đơn. Một đại số con của g\mathfrak{g} có dạng c×b\mathfrak{c}\times \mathfrak{b}, trong đó b\mathfrak{b} là một đại số con Borel của (s,h∩s)(\mathfrak{s},\mathfrak{h}\cap \mathfrak{s}), được gọi là một đại số con Borel của (g,h)(\mathfrak{g},\mathfrak{h}).

Với các ký hiệu của Mệnh đề 7, ta cũng nói rằng b\mathfrak{b} là đại số con Borel của g\mathfrak{g} được xác định bởi h\mathfrak{h} và C (hoặc bởi h\mathfrak{h} và cơ sở của R liên kết với C).

Nhận xét 00ZZ

Ánh xạ gán R+(C)R_+(C) cho một buồng C của R là đơn ánh (Chap. VI, §1, no. 7, Cor. 1 of Prop. 20). Do đó, C→h+gR+(C)C \rightarrow \mathfrak{h}+\mathfrak{g}^{R_+(C)} là một song ánh từ tập hợp các buồng của R lên tập hợp các đại số con Borel của (g,h)(\mathfrak{g},\mathfrak{h}). Vì thế, số các đại số con Borel của (g,h)(\mathfrak{g},\mathfrak{h}) bằng cấp của nhóm Weyl của R (Chap. VI, §1, no. 5, Th. 2).

Mệnh đề 8 0100

Cho b\mathfrak{b} là một đại số con của g,k′\mathfrak{g},k' là một mở rộng của kk. Khi đó b⊗kk′\mathfrak{b}\otimes_kk' là một đại số con Borel của (g⊗kk′,h⊗kk′)(\mathfrak{g}\otimes_kk',\mathfrak{h}\otimes_kk') nếu và chỉ nếu b\mathfrak{b} là một đại số con Borel của (g,h)(\mathfrak{g},\mathfrak{h}).

Điều này hiển nhiên từ điều kiện (iii) của Mệnh đề 7.

Mệnh đề 9 0101

Cho b\mathfrak{b} là đại số con Borel của (g,h)(\mathfrak{g},\mathfrak{h}) được xác định bởi một chamber C của R. Cho n=gR+(C)=∑α∈R,α>0gα\mathfrak{n}=\mathfrak{g}^{R_+(C)}=\sum_{\alpha\in R,\alpha >0}\mathfrak{g}^{\alpha}. Đặt l=l= dimh\mathfrak{h}.

(i) Nếu h∈hh\in \mathfrak{h} và x∈nx\in \mathfrak{n}, đa thức đặc trưng của adg(h+x)_{\mathfrak{g}}(h+x) là Tl∏α∈R(T−α(h))T^l\prod_{\alpha\in R}(T-\alpha (h)).

(ii) iđêan lũy linh lớn nhất của b\mathfrak{b} bằng n\mathfrak{n} và bằng [b,b][\mathfrak{b},\mathfrak{b}]. Đây cũng là tập hợp các phần tử của b\mathfrak{b} lũy linh trong g\mathfrak{g}.

(iii) Gọi B là cơ sở của R liên kết với C. Với mọi α∈B\alpha \in B, gọi XαX_{\alpha} là một phần tử khác không của gα\mathfrak{g}^{\alpha}. Khi đó (Xα)α∈B(X_{\alpha})_{\alpha\in B} sinh ra đại số Lie n\mathfrak{n}. Ta có [n,n]=∑α∈R,α>0,α∉Bgα[\mathfrak{n},\mathfrak{n}] =\sum_{\alpha\in R,\alpha >0,\alpha \notin B}\mathfrak{g}^{\alpha}.

Tồn tại một thứ tự toàn phần trên hQ∗\mathfrak{h}^*_{\mathbf{Q}} tương thích với cấu trúc không gian vectơ của nó và sao cho các phần tử của R+(C)R_+(C) là >0>0 (Chap. VI, §1, no. 7). Gọi h,xh, x như trong (i) và y∈gαy\in \mathfrak{g}^{\alpha}. Khi đó [h+x,y]=α(h)y+z[h+x, y] =\alpha (h)y+z với z∈∑β>αgβz\in \sum_{\beta >\alpha}\mathfrak{g}^{\beta}. Khi đó,

đối với một cơ sở thích hợp của g\mathfrak{g}, ma trận của adg(h+x)_{\mathfrak{g}}(h+x) có các tính chất sau:

1) nó là tam giác dưới;

2) các phần tử trên đường chéo của ma trận là số 0(l0 (l lần) và các α(h)\alpha (h) với α∈R\alpha \in R.

Điều này chứng minh (i). Nó cũng cho thấy rằng đa thức đặc trưng của adb(h+x)_{\mathfrak{b}}(h+x) là T∏α∈R+(C)l(T−α(h))T\prod_{\alpha\in R_+(C)}^l(T-\alpha (h)). Suy ra từ điều trên rằng tập hợp

các phần tử của b\mathfrak{b} lũy linh trong g\mathfrak{g}, cũng như iđêan lũy linh lớn nhất của b\mathfrak{b}, đều bằng n\mathfrak{n}. Ta có n=[b,b]\mathfrak{n}= [\mathfrak{b},\mathfrak{b}] theo Mệnh đề 5 (i). Cuối cùng, mệnh đề (iii) suy ra từ §2, Mệnh đề 4 (ii) và Chương VI, §1, no. 6, Mệnh đề 19.

Hệ quả 0102

Cho b\mathfrak{b} là một đại số con Borel của g\mathfrak{g}.

(i) Mọi đại số con Cartan của b\mathfrak{b} đều là một đại số con Cartan tách của g\mathfrak{g}.

(ii) Nếu h1,h2\mathfrak{h}_1,\mathfrak{h}_2 là các đại số con Cartan của b\mathfrak{b}, thì tồn tại x∈[b,b]x\in [\mathfrak{b},\mathfrak{b}] sao cho eadgxh1=h2e^{ad_{\mathfrak{g}}x}\mathfrak{h}_1=\mathfrak{h}_2.

Mệnh đề (i) suy ra từ Mệnh đề 9 (i) và Chương VII, §3, no. 3, Mệnh đề 3. Mệnh đề (ii) suy ra từ Mệnh đề 9 (ii) và Chương VII, §3, no. 4, Định lý 3.

Mệnh đề 10 0103

Cho b,b′\mathfrak{b},\mathfrak{b}' là các đại số con Borel của g\mathfrak{g}. Tồn tại một đại số con Cartan tách của g\mathfrak{g} được chứa trong b∩b′\mathfrak{b}\cap \mathfrak{b}'.

Cho h\mathfrak{h} là một đại số con Cartan của b,n=[b,b],n′=[b′,b′],p=b∩b′\mathfrak{b},\mathfrak{n}= [\mathfrak{b},\mathfrak{b}],\mathfrak{n}'= [\mathfrak{b}',\mathfrak{b}'],\mathfrak{p}=\mathfrak{b}\cap \mathfrak{b}', và s\mathfrak{s} là một không gian con vectơ của g\mathfrak{g} bù với b+b′\mathfrak{b}+\mathfrak{b}'. Ký hiệu bởi s⊥,b⊥,b′⊥\mathfrak{s}^{\bot},\mathfrak{b}^{\bot},\mathfrak{b}^{'\bot} các phần bù trực giao của s,b,b′\mathfrak{s},\mathfrak{b},\mathfrak{b}' đối với dạng Killing của g\mathfrak{g}. Đặt l=l= dimh,n=\mathfrak{h}, n= dimn,p=\mathfrak{n}, p= dimp\mathfrak{p}. Khi đó dimb=\mathfrak{b}= dimb′=l+n\mathfrak{b}'=l+n,

dims⊥=\mathfrak{s}^{\bot}= dim(b+b′\mathfrak{b}+\mathfrak{b}') =2(l+n)−p= 2(l+n)-p,

và do đó

dim(s⊥∩p\mathfrak{s}^{\bot}\cap \mathfrak{p})≥\geq dims⊥+\mathfrak{s}^{\bot}+ dimp−\mathfrak{p}- dimg\mathfrak{g} (3)

=2(l+n)−p+p−(l+2n)=l = 2(l+n)-p+p-(l+ 2n) =l

Theo Mệnh đề 1 của §2, no. 2,n⊂b⊥,n′⊂b′⊥2,\mathfrak{n}\subset \mathfrak{b}^{\bot},\mathfrak{n}'\subset \mathfrak{b}^{'\bot}. Các phần tử của p∩n\mathfrak{p}\cap \mathfrak{n} là lũy linh trong g\mathfrak{g} (Mệnh đề 9 (ii)), và thuộc b′\mathfrak{b}', do đó thuộc n′\mathfrak{n}' (Mệnh đề 9 (ii)). Do đó, p∩n⊂n∩n′⊂b⊥∩b′⊥\mathfrak{p}\cap \mathfrak{n}\subset \mathfrak{n}\cap \mathfrak{n}'\subset \mathfrak{b}^{\bot}\cap \mathfrak{b}^{'\bot}, nên s⊥∩p∩n=0\mathfrak{s}^{\bot}\cap \mathfrak{p}\cap \mathfrak{n}= 0. Theo (3), ta thấy rằng s⊥∩p\mathfrak{s}^{\bot}\cap \mathfrak{p} là một phần bù của n\mathfrak{n} trong b\mathfrak{b}. Gọi zz là một phần tử của h\mathfrak{h} chính quy trong g\mathfrak{g}; tồn tại y∈ny\in \mathfrak{n} sao cho y+z∈s⊥∩py+z\in \mathfrak{s}^{\bot}\cap \mathfrak{p}; theo Mệnh đề 9 (i), adg(y+z)_{\mathfrak{g}}(y+z) có cùng đa thức đặc trưng như adgz_{\mathfrak{g}}z, nên x=y+zx=y+z là chính quy trong g\mathfrak{g} và a fortiori trong b\mathfrak{b} và b′\mathfrak{b}' (Chương VII, §2, no. 2, Mệnh đề 9). Vì g,b,b′\mathfrak{g},\mathfrak{b},\mathfrak{b}' có cùng hạng, b0(x)=g0(x)=b′0(x)\mathfrak{b}^0(x) =\mathfrak{g}^0(x) ={\mathfrak{b}'}^0(x) đồng thời là một đại số con Cartan của b\mathfrak{b}, của g\mathfrak{g} và của b′\mathfrak{b}' (Chương VII, §3, no. 3, Định lý 2). Cuối cùng, đại số con Cartan này của g\mathfrak{g} là tách theo Hệ quả của Mệnh đề 9.

Hệ quả 0104

Nhóm Aute(g)_e(\mathfrak{g}) tác động bắc cầu trên tập hợp các cặp (t,b)(\mathfrak{t},\mathfrak{b}) trong đó t\mathfrak{t} là một đại số con Cartan tách của g\mathfrak{g} và b\mathfrak{b} là một đại số con Borel của (g,t)(\mathfrak{g},\mathfrak{t}).

Cho (t1,b1)(\mathfrak{t}_1,\mathfrak{b}_1) và (t2,b2)(\mathfrak{t}_2,\mathfrak{b}_2) là hai cặp như thế. Tồn tại một đại số con Cartan tách t\mathfrak{t} của g\mathfrak{g} được chứa trong b1∩b2\mathfrak{b}_1\cap \mathfrak{b}_2 (Mệnh đề 10). Theo Hệ quả của Mệnh đề 9, ta được quy về trường hợp t1=t2=t\mathfrak{t}_1=\mathfrak{t}_2=\mathfrak{t}. Gọi S là hệ nghiệm của (g,t)(\mathfrak{g},\mathfrak{t}). Tồn tại các cơ sở B1,B2B_1,B_2 của S sao cho bi\mathfrak{b}_i liên kết với Bi(i=1,2)B_i(i= 1,2), và tồn tại s∈W(S)s\in W(S) biến đổi B1B_1 thành B2B_2. Cuối cùng, tồn tại a∈a\in Aute(g)_e(\mathfrak{g}) sao cho a∣t=s(a|\mathfrak{t}=s(§2, no. 2, Hệ quả của Định lý 2). Khi đó a(t)=ta(\mathfrak{t}) =\mathfrak{t} và a(b1)=b2a(\mathfrak{b}_1) =\mathfrak{b}_2.

4. Các đại số con parabolic

Mệnh đề 11 0105

Cho p=h+gP\mathfrak{p}=\mathfrak{h}+\mathfrak{g}^P là một đại số con của g\mathfrak{g} chứa h\mathfrak{h}. Các điều kiện sau là tương đương:

(i) p\mathfrak{p} chứa một đại số con Borel của (g,h)(\mathfrak{g},\mathfrak{h});

(ii) tồn tại một buồng C của R sao cho P⊃R+(C)P\supset R_+(C);

(iii) P là parabolic, nói cách khác (Chương VI, §1, no. 7, Định nghĩa 4), P∪(−P)=P\cup (-P) = R.

Các điều kiện (i) và (ii) là tương đương theo Mệnh đề 7. Các điều kiện (ii) và (iii) là tương đương theo Chương VI, §1, no. 7, Mệnh đề 20.

Định nghĩa 2 0106

Một đại số con của g\mathfrak{g} chứa h\mathfrak{h} và thỏa mãn các điều kiện tương đương của Mệnh đề 11 được gọi là một đại số con parabolic của (g,h)(\mathfrak{g},\mathfrak{h}). Một đại số con parabolic của g\mathfrak{g} là một đại số con parabolic của (g,h′)(\mathfrak{g},\mathfrak{h}') trong đó h′\mathfrak{h}' là một đại số con Cartan tách của g\mathfrak{g}.

Định nghĩa này mở rộng ngay lập tức cho trường hợp trong đó (g,h)(\mathfrak{g},\mathfrak{h}) là một đại số Lie khả quy tách được.

Nhận xét 0107

Cho B là một cơ sở của R, và b\mathfrak{b} là đại số con Borel tương ứng. Nếu Σ⊂B\Sigma \subset B, ký hiệu QΣQ_{\Sigma} là tập hợp các nghiệm là tổ hợp tuyến tính của các phần tử của Σ\Sigma với các hệ số ≤0\leq 0; đặt p(Σ)=R+(B)∪QΣ\mathfrak{p}(\Sigma ) = R_+(B)\cup Q_{\Sigma} và pΣ=h⊕gP(Σ)\mathfrak{p}_{\Sigma}=\mathfrak{h}\oplus \mathfrak{g}^{P(\Sigma)}. Theo Chương VI, §1, no. 7, Bổ đề 3 và Mệnh đề 20,pΣ20,\mathfrak{p}_{\Sigma} là một đại số con parabolic chứa b\mathfrak{b} và mọi đại số con parabolic của g\mathfrak{g} chứa b\mathfrak{b} đều thu được theo cách này.

Bổ đề 3 0108

Cho V là một không gian vectơ thực hữu hạn chiều, S là một hệ nghiệm trong V∗,PV^*,\mathscr{P} là tập hợp các tập con parabolic của S; gọi H\mathscr{H} là tập hợp các Ker α\alpha với α∈S\alpha \in S, và F\mathscr{F} là tập hợp các mặt của V đối với H\mathscr{H} (Chương V, §1, no. 2, Định nghĩa 1).

Nếu P∈PP\in \mathscr{P}, gọi F(P) là tập hợp các v∈Vv\in V sao cho α(v)≥0\alpha (v)\geq 0 với mọi α∈P\alpha \in P. Nếu F∈FF\in \mathscr{F}, gọi P(F) là tập hợp các α∈R\alpha \in R sao cho α(v)≥0\alpha (v)\geq 0 với mọi v∈Fv\in F.

Khi đó F→P(F)F \rightarrow P(F) là một song ánh từ F\mathscr{F} tới P\mathscr{P}; với mọi F∈FF\in \mathscr{F}, F(P(F)) là bao đóng của F.

a) Cho P∈PP\in \mathscr{P}. Tồn tại một buồng C của S và một tập con Σ\Sigma của cơ sở B(C) sao cho P=S+(C)∪QP = S_+(C)\cup Q trong đó Q là tập các tổ hợp tuyến tính của các phần tử của Σ\Sigma với các hệ số là số nguyên không dương (Chương VI, §1, no. 7, Mệnh đề 20). Đặt

B(C)={α1,...,αl},Σ={α1,...,αm} B(C) =\{\alpha_1, . . . , \alpha_l\}, \Sigma =\{\alpha_1, . . . , \alpha_m\}

Nếu v∈Vv\in V, ta có các tương đương sau:

α(v)≥0\alpha (v)\geq 0 với mọi α∈P\alpha \in P

⇐⇒α1(v)≥0,...αl(v)≥0,α1(v)≤0,...,αm(v)≤0 \Leftarrow \Rightarrow \alpha_1(v)\geq 0, . . . \alpha_l(v)\geq 0, \alpha_1(v)\leq 0, . . . , \alpha_m(v)\leq 0
⇐⇒α1(v)=⋯=αm(v)=0,αm+1(v)≥0,...,αl(v)≥0 \Leftarrow \Rightarrow \alpha_1(v) =\cdots =\alpha_m(v) = 0, \alpha_{m+1}(v)\geq 0, . . . , \alpha_l(v)\geq 0

vậy F(P) là bao đóng của tập

{v∈V∣α1(v)=⋯=αm(v)=0,αm+1(v)>0,...,αl(v)>0} \{v\in V|\alpha_1(v) =\cdots =\alpha_m(v) = 0, \alpha_{m+1}(v)>0, . . . , \alpha_l(v)>0\}

một tập hợp là một diện F đối với H\mathscr{H} vì mọi phần tử của S là một tổ hợp tuyến tính của α1,...,αl\alpha_1, . . . , \alpha_l trong đó các hệ số hoặc đều ≥0\geq 0 hoặc đều ≤0\leq 0. Hơn nữa, nếu β=u1α1+⋯+ulαl∈S\beta =u_1\alpha_1+\cdots +u_l\alpha_l\in S,

β∈P(F)⇐⇒um+1≥0,...,ul≥0 \beta \in P(F)\Leftarrow \Rightarrow u_{m+1}\geq 0, . . . , u_l\geq 0

⇐⇒β∈S+(C)\Leftarrow \Rightarrow \beta \in S_+(C) hoặc (−β∈S+(C)(-\beta \in S_+(C) và um+1=...=ul=0)u_{m+1}=. . .=u_l= 0)

⇐⇒β∈S+(C)∪Q=P \Leftarrow \Rightarrow \beta \in S_+(C)\cup Q = P

do đó P(F) = P.

b) Cho F∈FF\in \mathscr{F}. Rõ ràng là P(F)∈PP(F)\in \mathscr{P}. Mặt khác, F được chứa trong bao đóng của một buồng đối với H\mathscr{H} (Chap. V, §1, no. 3, formulas (6)), và do đó là một mặt đối với tập hợp các tường của buồng này (Chap. V, §1, no. 4, Prop. 9). Do đó, F‾\overline{F} có dạng {v∈V∣α(v)≥0\{v\in V|\alpha (v)\geq 0 for all α∈T}\alpha \in T\}, trong đó T là một tập con của S mà rõ ràng ta có thể lấy bằng P(F). Vậy, F‾=F(P(F))\overline{F}= F(P(F)). Q.E.D.

Nếu P∈PP\in \mathscr{P}, thì mặt F sao cho P = P(F) được gọi là liên kết với P; ta ký hiệu nó bởi F(P). Ta mở rộng các quy ước này cho trường hợp trong đó (g,h)(\mathfrak{g},\mathfrak{h}) là khả quy tách.

Mệnh đề 12 0109

Cho H\mathscr{H} là tập hợp các siêu phẳng của hR\mathfrak{h}_{\mathbf{R}} gồm các hạt nhân của các căn trong R. Cho F\mathscr{F} là tập hợp các mặt của hR\mathfrak{h}_{\mathbf{R}} đối với H\mathscr{H}. Cho S\mathscr{S} là tập hợp các đại số con parabolic của (g,h)(\mathfrak{g},\mathfrak{h}). Với mỗi p=h+gP∈S\mathfrak{p}=\mathfrak{h}+\mathfrak{g}^P\in \mathscr{S}, gọi F(p)F(\mathfrak{p}) là mặt liên kết với P. Khi đó p→F(p)\mathfrak{p} \rightarrow F(\mathfrak{p}) là một song ánh từ S\mathscr{S} lên F\mathscr{F}. Nếu p1,p2∈P\mathfrak{p}_1,\mathfrak{p}_2\in \mathscr{P},

p1⊃p2⇐⇒F(p1)⊂F(p2)‾ \mathfrak{p}_1\supset \mathfrak{p}_2\Leftarrow \Rightarrow F(\mathfrak{p}_1)\subset \overline{F(\mathfrak{p}_2)}

Điều này suy ra ngay lập tức từ Bổ đề 3.

Ví dụ 010A

Các mặt tương ứng với các đại số con parabolic của (g,h)(\mathfrak{g},\mathfrak{h}) chứa một đại số Borel b\mathfrak{b} là các mặt được chứa trong bao đóng của buồng liên kết với b\mathfrak{b} (xem Nhận xét trên).

Mệnh đề 13 010B

Cho p=h+gP\mathfrak{p}=\mathfrak{h}+\mathfrak{g}^P là một đại số con parabolic của (g,h)(\mathfrak{g},\mathfrak{h}), Q là tập hợp các α∈P\alpha \in P sao cho −α∉P-\alpha \notin P, và s=h+gP∩(−P)\mathfrak{s}=\mathfrak{h}+\mathfrak{g}^{P\cap(-P)}. Khi đó p=s⊕gQ,s\mathfrak{p}=\mathfrak{s}\oplus \mathfrak{g}^Q,\mathfrak{s} là khả quy trong g\mathfrak{g}, và gQ\mathfrak{g}^Q là iđêan lũy linh lớn nhất của p\mathfrak{p} và là căn lũy linh của p\mathfrak{p}. Tâm của p\mathfrak{p} bằng không.

Theo Mệnh đề 2,s2,\mathfrak{s} là khả quy trong g\mathfrak{g} và gQ\mathfrak{g}^Q là một iđêan lũy linh của p\mathfrak{p}. Nếu n\mathfrak{n} là iđêan lũy linh lớn nhất của p,gQ⊂n⊂h+gQ\mathfrak{p},\mathfrak{g}^Q\subset \mathfrak{n}\subset \mathfrak{h}+\mathfrak{g}^Q (Mệnh đề 2 (i)); nếu x∈n∩hx\in \mathfrak{n}\cap \mathfrak{h}, adpx_{\mathfrak{p}}x là lũy linh, nên α(x)=0\alpha (x) = 0 đối với mọi α∈P\alpha \in P, và do đó x=0x= 0; điều này chứng tỏ rằng n=gQ\mathfrak{n}=\mathfrak{g}^Q. Vì [h,gQ]=gQ[\mathfrak{h},\mathfrak{g}^Q] =\mathfrak{g}^Q, căn lũy linh của p\mathfrak{p} chứa gQ\mathfrak{g}^Q và do đó bằng gQ\mathfrak{g}^Q. Cho z=h+∑α∈Puαz=h+\sum_{\alpha\in P}u_{\alpha} (trong đó h∈h,uα∈gαh\in \mathfrak{h}, u_{\alpha}\in \mathfrak{g}^{\alpha}) là một

phần tử của tâm của p\mathfrak{p}. Với mọi h′∈h,0=[h′,z]=∑α(h′)uαh'\in \mathfrak{h}, 0 = [h', z] =\sum\alpha (h')u_{\alpha}, nên uα=0u_{\alpha}= 0 với mọi α∈P\alpha \in P; suy ra [h,gβ]=0[h,\mathfrak{g}^{\beta}] = 0 với mọi β∈P\beta \in P, do đó h=0h= 0.

5. Trường hợp không tách được

Mệnh đề 14 010C

Cho k′k' là một mở rộng của kk và g′=g⊗kk′\mathfrak{g}'=\mathfrak{g}\otimes_kk'. Cho m\mathfrak{m} là một đại số con của g\mathfrak{g} và m′=m⊗kk′\mathfrak{m}'=\mathfrak{m}\otimes_kk'. Nếu m′\mathfrak{m}' là một đại số con parabolic (tương ứng, Borel ) của g′,m\mathfrak{g}',\mathfrak{m} thì là một đại số con parabolic (tương ứng, Borel ) của g\mathfrak{g}.

Theo Mệnh đề 8 và 11, chỉ cần chứng minh rằng m\mathfrak{m} chứa một đại số con Cartan tách của g\mathfrak{g}. Gọi b\mathfrak{b} là một đại số con Borel của g\mathfrak{g}. Khi đó b′=b⊗kk′\mathfrak{b}'=\mathfrak{b}\otimes_kk' là một đại số con Borel của g′\mathfrak{g}', nên m′∩b′\mathfrak{m}'\cap \mathfrak{b}' chứa một đại số con Cartan của g′\mathfrak{g}' (Mệnh đề 10). Gọi t\mathfrak{t} là một đại số con Cartan của m∩b\mathfrak{m}\cap \mathfrak{b}. Khi đó t⊗kk′\mathfrak{t}\otimes_kk' là một đại số con Cartan của m′∩b′\mathfrak{m}'\cap \mathfrak{b}', và do đó của g′\mathfrak{g}' (Chap. VII, §3, no. 3, Mệnh đề 3). Do đó, t\mathfrak{t} là một đại số con Cartan của g\mathfrak{g}, và nó là tách vì nó được chứa trong b\mathfrak{b}.

Định nghĩa 3 010D

Cho a\mathfrak{a} là một đại số Lie nửa đơn (hoặc nói chung hơn là khả quy) và k‾\overline{k} là một bao đóng đại số của kk. Một đại số con m\mathfrak{m} của a\mathfrak{a} được gọi là parabolic (tương ứng, Borel ) nếu m⊗kk‾\mathfrak{m}\otimes_k\overline{k} là một đại số con parabolic (tương ứng, Borel ) của a⊗kk‾\mathfrak{a}\otimes_k\overline{k}.

Nếu a\mathfrak{a} phân rã được, Mệnh đề 14 cho thấy rằng định nghĩa này tương đương với Định nghĩa 2 (tương ứng, với Định nghĩa 1).

Mệnh đề 15 010E

Cho a\mathfrak{a} là một đại số Lie khả quy, k′k' là một mở rộng của kk, và m\mathfrak{m} là một đại số con của a\mathfrak{a}. Khi đó m\mathfrak{m} là một đại số con parabolic (tương ứng là Borel ) của a\mathfrak{a} nếu và chỉ nếu m⊗kk′\mathfrak{m}\otimes_kk' là một đại số con parabolic (tương ứng là Borel ) của a⊗kk′\mathfrak{a}\otimes_kk'.

Điều này suy ra ngay lập tức từ Mệnh đề 14.

Bài tập

Xem các bài tập của § 3.

Machine translation of the English, by gpt-5.4, gpt-5-6-mini, against glossary version 34. Not checked by a person. That model is a cut down version of the one the rest of this language was written by.