Bourbaki

§ 2. Hệ nghiệm của một đại số Lie nửa đơn tách

1. Các đại số Lie nửa đơn tách

Định nghĩa 1 00YK

Cho g\mathfrak{g} là một đại số Lie nửa đơn. Một đại số con Cartan h\mathfrak{h} của g\mathfrak{g} được gọi là tách nếu, với mọi x∈hx\in \mathfrak{h}, adgx_{\mathfrak{g}}x tam giác hóa được. Một đại số Lie nửa đơn được gọi là tách được nếu nó có một đại số con Cartan tách. Một đại số Lie nửa đơn tách là một cặp (g,h)(\mathfrak{g},\mathfrak{h}) trong đó g\mathfrak{g} là một đại số Lie nửa đơn và h\mathfrak{h} là một đại số con Cartan tách của g\mathfrak{g}.

Nhận xét 1 00YL

Cho g\mathfrak{g} là một đại số Lie nửa đơn, h\mathfrak{h} là một đại số con Cartan của g\mathfrak{g}. Với mọi x∈hx\in \mathfrak{h}, adgx_{\mathfrak{g}}x là nửa đơn (Chap. VII, §2, no. 4, Th. 2). Do đó, nói rằng h\mathfrak{h} là tách có nghĩa là adgx_{\mathfrak{g}}x là chéo hóa được với mọi x∈hx\in \mathfrak{h}.

Nhận xét 2 00YM

Nếu kk đóng đại số, mọi đại số Lie nửa đơn g\mathfrak{g} đều tách được, và mọi đại số con Cartan của g\mathfrak{g} đều tách. Khi kk không đóng đại số, tồn tại các đại số Lie nửa đơn không tách được (Bài tập 2a2a))); hơn nữa, nếu g\mathfrak{g} tách được, có thể tồn tại các đại số con Cartan của g\mathfrak{g} không tách (Bài tập 2b2b))).

Nhận xét 3 00YN

Cho g\mathfrak{g} là một đại số Lie nửa đơn, h\mathfrak{h} là một đại số con Cartan của g\mathfrak{g}, và ρ\rho là một biểu diễn đơn ánh hữu hạn chiều của g\mathfrak{g} sao cho ρ(h)\rho (\mathfrak{h}) chéo hóa được. Khi đó adgx_{\mathfrak{g}}x chéo hóa được với mọi x∈hx\in \mathfrak{h} (Chap. VII, §2, no. 1, Ví dụ 2), nên h\mathfrak{h} là tách.

Nhận xét 4 00YO

Ta sẽ thấy (§3, no. 3, Hệ quả của Mệnh đề 10) rằng nếu h,h′\mathfrak{h},\mathfrak{h}' là các đại số con Cartan tách của g\mathfrak{g}, thì tồn tại một tự đẳng cấu sơ cấp của g\mathfrak{g} biến h\mathfrak{h} thành h′\mathfrak{h}'.

Nhận xét 5 00YP

Cho g\mathfrak{g} là một đại số Lie khả quy. Khi đó g=c×s\mathfrak{g}=\mathfrak{c}\times \mathfrak{s} trong đó c\mathfrak{c} là tâm của g\mathfrak{g} và s=Dg\mathfrak{s}=\mathscr{D}\mathfrak{g} là nửa đơn. Các đại số con Cartan của g\mathfrak{g} là các đại số con có dạng h=c×h′\mathfrak{h}=\mathfrak{c}\times \mathfrak{h}' trong đó h′\mathfrak{h}' là một đại số con Cartan của s\mathfrak{s} (Chap. VII, §2, no. 1, Prop. 2). Khi đó h\mathfrak{h} được gọi là tách nếu h′\mathfrak{h}' là tách đối với s\mathfrak{s}. Điều này dẫn một cách hiển nhiên đến định nghĩa các đại số khả quy phân tích được hoặc tách.

2. Các nghiệm của một đại số Lie đơn nửa đơn tách

Trong số này, (g,h)(\mathfrak{g},\mathfrak{h}) ký hiệu một đại số Lie nửa đơn tách.

Với mọi λ∈h∗\lambda \in \mathfrak{h}^*, ký hiệu gλ(h)\mathfrak{g}^{\lambda}(\mathfrak{h}), hoặc đơn giản gλ\mathfrak{g}^{\lambda}, không gian con nguyên sơ của g\mathfrak{g} đối với λ\lambda (xem Chương VII, §1, no. 3). Nhắc lại rằng g0=h\mathfrak{g}^0=\mathfrak{h} (Chương VII, §2, no. 1, Mệnh đề 4), rằng g\mathfrak{g} là tổng trực tiếp của các gλ\mathfrak{g}^{\lambda} (Chương VII, §1, no. 3, Mệnh đề 8 và 9), rằng gλ\mathfrak{g}^{\lambda} là tập hợp các x∈gx\in \mathfrak{g} sao cho [h,x]=λ(h)x[h, x] =\lambda (h)x với mọi h∈hh\in \mathfrak{h} (Chương VII, §2, no. 4, Hệ quả 1 của Định lý 2), và rằng các trọng của h\mathfrak{h} trên g\mathfrak{g} là các dạng tuyến tính λ\lambda trên h\mathfrak{h} sao cho gλ≠0\mathfrak{g}^{\lambda}\not= 0 (Chương VII, §1, no. 1).

Định nghĩa 2 00YQ

Một nghiệm của (g,h)(\mathfrak{g},\mathfrak{h}) là một trọng số khác không của h\mathfrak{h} trên g\mathfrak{g}.

Ký hiệu bởi R(g,h)R(\mathfrak{g},\mathfrak{h}), hoặc đơn giản là bởi R, tập hợp các nghiệm của (g,h)(\mathfrak{g},\mathfrak{h}). Ta có

g=h⊕⨁α∈Rgα \mathfrak{g}=\mathfrak{h}\oplus \bigoplus_{\alpha\in R}\mathfrak{g}^{\alpha}

Mệnh đề 1 00YR

Cho α,β\alpha ,\beta là các nghiệm của (g,h)(\mathfrak{g},\mathfrak{h}) và cho ⟨⋅,⋅⟩\langle \cdot ,\cdot \rangle là một dạng song tuyến tính đối xứng bất biến không suy biến trên g(\mathfrak{g}(chẳng hạn dạng Killing của g)\mathfrak{g}).

(i) Nếu α+β≠0,gα\alpha +\beta \not= 0,\mathfrak{g}^{\alpha} và gβ\mathfrak{g}^{\beta} trực giao. Hạn chế của ⟨⋅,⋅⟩\langle \cdot ,\cdot \rangle trên gα×g−α\mathfrak{g}^{\alpha}\times \mathfrak{g}^{-\alpha} là không suy biến. Hạn chế của ⟨⋅,⋅⟩\langle \cdot ,\cdot \rangle trên h\mathfrak{h} là không suy biến.

(ii) Cho x∈gα,y∈g−αx\in \mathfrak{g}^{\alpha},y\in \mathfrak{g}^{-\alpha} và h∈hh\in \mathfrak{h}. Khi đó [x,y]∈h[x, y]\in \mathfrak{h} và

⟨h,[x,y]⟩=α(h)⟨x,y⟩ \langle h,[x, y]\rangle =\alpha (h)\langle x, y\rangle

Mệnh đề (i) là một trường hợp riêng của Mệnh đề 10 (iii) của Chương VII, §1, no. 3. Nếu x∈gα,y∈g−αx\in \mathfrak{g}^{\alpha},y\in \mathfrak{g}^{-\alpha} và h∈hh\in \mathfrak{h}, ta có [x,y]∈gα−α=h[x, y]\in \mathfrak{g}^{\alpha-\alpha}=\mathfrak{h}, và

⟨h,[x,y]⟩=⟨[h,x],y⟩=⟨α(h)x,y⟩=α(h)⟨x,y⟩ \langle h,[x, y]\rangle =\langle [h, x], y\rangle =\langle \alpha (h)x, y\rangle =\alpha (h)\langle x, y\rangle

Định lý 1 00YS

Cho α\alpha là một nghiệm của (g,h)(\mathfrak{g},\mathfrak{h}).

(i) Không gian vectơ gα\mathfrak{g}^{\alpha} có chiều 1.

(ii) Không gian con vectơ hα=[gα,g−α]\mathfrak{h}_{\alpha}= [\mathfrak{g}^{\alpha},\mathfrak{g}^{-\alpha}] của h\mathfrak{h} có chiều 1. Nó chứa một phần tử duy nhất HαH_{\alpha} sao cho α(Hα)=2\alpha (H_{\alpha}) = 2.

(iii) Không gian con vectơ sα=hα+gα+g−α\mathfrak{s}_{\alpha}=\mathfrak{h}_{\alpha}+\mathfrak{g}^{\alpha}+\mathfrak{g}^{-\alpha} là một đại số Lie con của g\mathfrak{g}.

(iv) Nếu XαX_{\alpha} là một phần tử khác không của gα\mathfrak{g}^{\alpha}, thì tồn tại một X−α∈g−αX_{-\alpha}\in \mathfrak{g}^{-\alpha} duy nhất sao cho [Xα,X−α]=−Hα[X_{\alpha}, X_{-\alpha}] =-H_{\alpha}. Gọi φ\varphi là ánh xạ tuyến tính từ sl(2,k)\mathfrak{s}\mathfrak{l}(2, k) vào g\mathfrak{g} biến X+X_+ thành Xα,X−X_{\alpha},X_- thành X−αX_{-\alpha}, và HH thành HαH_{\alpha}; khi đó φ\varphi là một đẳng cấu từ đại số Lie sl(2,k)\mathfrak{s}\mathfrak{l}(2, k) lên đại số Lie sα\mathfrak{s}_{\alpha}.

a) Gọi hαh_{\alpha} là phần tử duy nhất của h\mathfrak{h} sao cho α(h)=⟨hα,h⟩\alpha (h) =\langle h_{\alpha}, h\rangle với mọi h∈hh\in \mathfrak{h}. Theo Mệnh đề 1,[x,y]=⟨x,y⟩hα1, [x, y] =\langle x, y\rangle h_{\alpha} với mọi x∈gα,y∈g−αx\in \mathfrak{g}^{\alpha},y\in \mathfrak{g}^{-\alpha}; mặt khác ⟨gα,g−α⟩≠0\langle \mathfrak{g}^{\alpha},\mathfrak{g}^{-\alpha}\rangle \not= 0. Do đó hα=[gα,g−α]=khα\mathfrak{h}_{\alpha}= [\mathfrak{g}^{\alpha},\mathfrak{g}^{-\alpha}] =kh_{\alpha}.

b) Chọn x∈gα,y∈g−αx\in \mathfrak{g}^{\alpha},y\in \mathfrak{g}^{-\alpha} sao cho ⟨x,y⟩=1\langle x, y\rangle = 1, do đó [x,y]=hα[x, y] =h_{\alpha}. Nhắc lại rằng [hα,x]=α(hα)x,[hα,y]=−α(hα)y[h_{\alpha}, x] =\alpha (h_{\alpha})x, [h_{\alpha}, y] =-\alpha (h_{\alpha})y. Nếu α(hα)=0\alpha (h_{\alpha}) = 0, suy ra kx+ky+khαkx+ky+kh_{\alpha} là một đại số con lũy linh t\mathfrak{t} của g\mathfrak{g}; vì hα∈[t,t]h_{\alpha}\in [\mathfrak{t},\mathfrak{t}], adghα_{\mathfrak{g}}h_{\alpha} là lũy linh (Chương I, §5, no. 3, Định lý 1), điều này vô lý vì adghα_{\mathfrak{g}}h_{\alpha} là nửa đơn khác không. Vậy α(hα)≠0\alpha (h_{\alpha})\not= 0. Do đó tồn tại duy nhất Hα∈hαH_{\alpha}\in \mathfrak{h}_{\alpha} sao cho α(Hα)=2\alpha (H_{\alpha}) = 2, điều này chứng minh (ii).

c) Chọn một phần tử khác không XαX_{\alpha} của gα\mathfrak{g}^{\alpha}. Tồn tại X−α∈g−αX_{-\alpha}\in \mathfrak{g}^{-\alpha} sao cho [Xα,X−α]=−Hα[X_{\alpha}, X_{-\alpha}] =-H_{\alpha} (vì [Xα,g−α]=hα[X_{\alpha},\mathfrak{g}^{-\alpha}] =\mathfrak{h}_{\alpha} theo bb))). Khi đó

[Hα,Xα]=α(Hα)Xα=2Xα,[Hα,X−α]=−α(Hα)X−α=−2X−α [H_{\alpha}, X_{\alpha}] =\alpha (H_{\alpha})X_{\alpha}= 2X_{\alpha},[H_{\alpha}, X_{-\alpha}] =-\alpha (H_{\alpha})X_{-\alpha}=-2X_{-\alpha}
[Xα,X−α]=−Hα [X_{\alpha}, X_{-\alpha}] =-H_{\alpha}

do đó kXα+kX−α+kHαkX_{\alpha}+kX_{-\alpha}+kH_{\alpha} là một đại số con của g\mathfrak{g} và ánh xạ tuyến tính φ\varphi từ sl(2,k)\mathfrak{s}\mathfrak{l}(2, k) tới kXα+kX−α+kHαkX_{\alpha}+kX_{-\alpha}+kH_{\alpha} sao cho φ(X+)=Xα,φ(X−)=X−α\varphi (X_+) =X_{\alpha},\varphi (X_-) =X_{-\alpha}, φ(H)=Hα\varphi (H) =H_{\alpha} là một đẳng cấu của các đại số Lie.

d) Giả sử dimgα>1\mathfrak{g}^{\alpha}>1. Cho yy là một phần tử khác không của g−α\mathfrak{g}^{-\alpha}. Tồn tại một phần tử khác không XαX_{\alpha} của gα\mathfrak{g}_{\alpha} sao cho ⟨y,Xα⟩=0\langle y, X_{\alpha}\rangle = 0. Chọn X−αX_{-\alpha} như trong c), và xét biểu diễn ρ:u→\rho :u \rightarrow adgφ(u)_{\mathfrak{g}}\varphi (u) từ sl(2,k)\mathfrak{s}\mathfrak{l}(2, k) vào g\mathfrak{g}. Ta có

ρ(H)y=[φ(H),y]=[Hα,y]=−2y \rho (H)y= [\varphi (H), y] = [H_{\alpha}, y] =-2y
ρ(X+)y=[φ(X+),y]=[Xα,y]=⟨Xα,y⟩hα=0 \rho (X_+)y= [\varphi (X_+), y] = [X_{\alpha}, y] =\langle X_{\alpha}, y\rangle h_{\alpha}= 0

Vì thế, yy là nguyên thủy đối với ρ\rho, có trọng số −2-2, điều này mâu thuẫn với Mệnh đề 2 của §1, no. 2. Điều này chứng minh (i).

e) Mệnh đề (iii) bây giờ là một hệ quả của c). Mặt khác, nếu XαX_{\alpha} là một phần tử khác không của gα\mathfrak{g}^{\alpha}, thì phần tử X−αX_{-\alpha} được xây dựng trong c) là phần tử duy nhất của g−α\mathfrak{g}^{-\alpha} sao cho [Xα,X−α]=−Hα[X_{\alpha}, X_{-\alpha}] =-H_{\alpha} vì dim g−α=1\mathfrak{g}^{-\alpha}= 1. Khẳng định cuối cùng của (iv) là một hệ quả của c). Q.E.D.

Các ký hiệu hα,Hα,sαh_{\alpha},H_{\alpha},\mathfrak{s}_{\alpha} sẽ được giữ lại trong phần sau. (Để định nghĩa hαh_{\alpha}, ta lấy ⟨⋅,⋅⟩\langle \cdot ,\cdot \rangle bằng dạng Killing.) Nếu XαX_{\alpha} là một phần tử khác không của gα\mathfrak{g}^{\alpha}, thì đẳng cấu φ\varphi của Định lý 1 và biểu diễn u→u \rightarrow adgφ(u)_{\mathfrak{g}}\varphi (u) của sl(2,k)\mathfrak{s}\mathfrak{l}(2, k) trên g\mathfrak{g} sẽ được gọi là liên kết với XαX_{\alpha}.

Hệ quả 00YT

Cho Φ\Phi là dạng Killing của g\mathfrak{g}. Với mọi a,b∈ha, b\in \mathfrak{h},

Φ(a,b)=∑γ∈Rγ(a)γ(b) \Phi (a, b) =\sum_{\gamma\in R}\gamma (a)\gamma (b)

Thật vậy, ad aa.ad bb để ổn định mỗi gγ\mathfrak{g}^{\gamma}, và hạn chế của nó trên gγ\mathfrak{g}^{\gamma} là phép vị tự có tỉ số γ(a)γ(b)\gamma (a)\gamma (b); nếu γ≠0\gamma \not= 0, dimgγ=1\mathfrak{g}^{\gamma}= 1.

Mệnh đề 2 00YU

Cho α,β∈R\alpha , \beta \in R.

(i) β(Hα)∈Z\beta (H_{\alpha})\in \mathbf{Z}.

(ii) Nếu Φ\Phi ký hiệu dạng Killing của g,Φ(Hα,Hβ)∈Z\mathfrak{g},\Phi (H_{\alpha}, H_{\beta})\in \mathbf{Z}.

Gọi XαX_{\alpha} là một phần tử khác không của gα\mathfrak{g}^{\alpha}, và gọi ρ\rho là biểu diễn của sl(2,k)\mathfrak{s}\mathfrak{l}(2, k) trên g\mathfrak{g} liên kết với XαX_{\alpha}. Các trị riêng của ρ(H)\rho (H) là 0 và các β(Hα)\beta (H_{\alpha}) với β∈R\beta \in R. Do đó (i) suy ra từ §1, no. 2, Hệ quả của Mệnh đề 2. Mệnh đề (ii) suy ra từ (i) và Hệ quả của Định lý 1. Q.E.D.

Cho α∈R,Xα\alpha \in R,X_{\alpha} là một phần tử khác không của gα,X−α\mathfrak{g}^{\alpha},X_{-\alpha} là phần tử của g−α\mathfrak{g}^{-\alpha} sao cho [Xα,X−α]=−Hα[X_{\alpha}, X_{-\alpha}] =-H_{\alpha}, và ρ\rho là biểu diễn của sl(2,k)\mathfrak{s}\mathfrak{l}(2, k) trên g\mathfrak{g} liên kết với XαX_{\alpha}. Gọi π\pi là biểu diễn của SL(2,k)\mathbf{S}\mathbf{L}(2, k) trên g\mathfrak{g} tương thích với ρ(\rho (§1, no. 4, Đl. 2). Vì ad XαX_{\alpha} là lũy linh (Chap. VII, §1, no. 3, Prop. 10 (iv)), nên π(eX+)=eadXα\pi (e^{X_+}) =e^{adX_{\alpha}} là một tự đẳng cấu sơ cấp của g\mathfrak{g}. Tương tự, π(eX−)=\pi (e^{X_-}) = eadX−αe^{adX_{-\alpha}} là một tự đẳng cấu sơ cấp của g\mathfrak{g}. Do đó π(SL(2,k))⊂\pi (\mathbf{S}\mathbf{L}(2, k))\subset Aute(g)_e(\mathfrak{g}). Ta dùng ký hiệu θ(t)\theta (t) của §1, no. 5. Với t∈k∗t\in k^*, đặt

θα(t)=π(θ(t))=eadtXαeadt−1X−αeadtXα(1) \theta_{\alpha}(t) =\pi (\theta (t)) =e^{adtX_{\alpha}}e^{adt^{-1}X_{-\alpha}}e^{adtX_{\alpha}} \tag{1}

Bổ đề 1 00YV

(i) Với mọi h∈h,θα(t).h=h−α(h)Hαh\in \mathfrak{h},\theta_{\alpha}(t).h=h-\alpha (h)H_{\alpha}.

(ii) Với mọi β∈R,θα(t)(gβ)=gβ−β(Hα)α\beta \in R,\theta_{\alpha}(t)(\mathfrak{g}^{\beta}) =\mathfrak{g}^{\beta-\beta(H_{\alpha})\alpha}.

(iii) Nếu α,β∈R,β−β(Hα)α∈R\alpha , \beta \in R,\beta -\beta (H_{\alpha})\alpha \in R.

Lấy h∈hh\in \mathfrak{h}. Nếu α(h)=0,[Xα,h]=[X−α,h]=0\alpha (h) = 0, [X_{\alpha}, h] = [X_{-\alpha}, h] = 0, nên θα(t).h=h\theta_{\alpha}(t).h=h. Mặt khác, các công thức (5) của §1, no. 5 cho thấy rằng θα(t).Hα=−Hα\theta_{\alpha}(t).H_{\alpha}=-H_{\alpha}. Điều này chứng minh mệnh đề (i). Suy ra θα(t)2∣h=\theta_{\alpha}(t)^2|\mathfrak{h}= Id. Nếu x∈gβx\in \mathfrak{g}^{\beta} và h∈hh\in \mathfrak{h},

[h,θα(t)x]=θα(t).[θα(t)h,x]−β(θα(t)h).θα(t)x [h, \theta_{\alpha}(t)x] =\theta_{\alpha}(t).[\theta_{\alpha}(t)h, x]-\beta (\theta_{\alpha}(t)h).\theta_{\alpha}(t)x
=(β(h)−α(h)β(Hα)).θα(t)x = (\beta (h)-\alpha (h)\beta (H_{\alpha})).\theta_{\alpha}(t)x
=(β−β(Hα)α)(h).θα(t)x = (\beta -\beta (H_{\alpha})\alpha )(h).\theta_{\alpha}(t)x

nên θα(t)x∈gβ−β(Hα)α\theta_{\alpha}(t)x\in \mathfrak{g}^{\beta-\beta(H_{\alpha})\alpha}. Điều này chứng minh (ii). Mệnh đề (iii) suy ra từ (ii).

Định lý 2 00YW

(i) Tập hợp R=R(g,h)R = R(\mathfrak{g},\mathfrak{h}) là một hệ căn rút gọn trong h∗\mathfrak{h}^*.

(ii) Cho α∈R\alpha \in R. Ánh xạ sα,Hα:λ→λ−λ(Hα)αs_{\alpha ,H_{\alpha}}:\lambda \rightarrow \lambda -\lambda (H_{\alpha})\alpha từ h∗\mathfrak{h}^* đến h∗\mathfrak{h}^* là phép đối xứng duy nhất ss của h∗\mathfrak{h}^* sao cho s(α)=−αs(\alpha ) =-\alpha và s(R)=Rs(R) = R. Với mọi t∈k∗t\in k^*, ss là chuyển vị của θα(t)∣h\theta_{\alpha}(t)|\mathfrak{h}.

Trước hết, R sinh ra h∗\mathfrak{h}^*, vì nếu h∈hh\in \mathfrak{h} sao cho α(h)=0\alpha (h) = 0 với mọi α∈R\alpha \in R, thì ad h=0h= 0 và do đó h=0h= 0 vì tâm của g\mathfrak{g} là không. Theo định nghĩa, 0∉R0\notin R. Cho α∈R\alpha \in R. Vì α(Hα)=2,s=sα,Hα\alpha (H_{\alpha}) = 2,s=s_{\alpha ,H_{\alpha}} là một phép đối xứng sao cho s(α)=−αs(\alpha ) =-\alpha. Khi đó s(R)=Rs(R) = R theo Bổ đề 1 (iii), và β(Hα)∈Z\beta (H_{\alpha})\in \mathbf{Z} với mọi β∈R\beta \in R (Mệnh đề 2 (i)). Điều này cho thấy R là một hệ nghiệm trong h∗\mathfrak{h}^*. Với mọi h∈hh\in \mathfrak{h} và λ∈h∗\lambda \in \mathfrak{h}^*,

⟨s(λ),h⟩=⟨λ−λ(Hα)α,h⟩=⟨λ,h−α(h)Hα⟩=⟨λ,θα(t)h⟩ \langle s(\lambda ), h\rangle =\langle \lambda -\lambda (H_{\alpha})\alpha , h\rangle =\langle \lambda , h-\alpha (h)H_{\alpha}\rangle =\langle \lambda , \theta_{\alpha}(t)h\rangle

vậy ss là chuyển vị của θα(t)∣h\theta_{\alpha}(t)|\mathfrak{h}. Cuối cùng, ta chứng minh rằng hệ nghiệm R là rút gọn. Cho α∈R\alpha \in R và y∈g2αy\in \mathfrak{g}^{2\alpha}. Vì 3α∉R3\alpha \notin R (Chap. VI, §1, no. 3, Mệnh đề 88),[Xα,y]=0, [X_{\alpha}, y] = 0; mặt khác, [X−α,y]∈g−α+2α=gα=kXα[X_{-\alpha}, y]\in \mathfrak{g}^{-\alpha+2\alpha}=\mathfrak{g}^{\alpha}=kX_{\alpha}, nên [Xα,[X−α,y]]=0[X_{\alpha},[X_{-\alpha}, y]] = 0; do đó

4y=2α(Hα)y=[Hα,y]=−[[Xα,X−α],y]=0 4y= 2\alpha (H_{\alpha})y= [H_{\alpha}, y] =-[[X_{\alpha}, X_{-\alpha}], y] = 0

suy ra y=0y= 0 và g2α=0\mathfrak{g}^{2\alpha}= 0. Nói cách khác, 2α2\alpha không phải là một nghiệm. C.Q.F.D.

Đồng nhất h\mathfrak{h} một cách chính tắc với h∗∗\mathfrak{h}^{**}. Với các ký hiệu của Chương VI, §1, no. 1, khi đó theo Định lý 2 (ii),

Hα=α∨H_{\alpha}=\alpha^{\vee} với mọi α∈R\alpha \in R. (2)

Do đó, các HαH_{\alpha} tạo thành hệ nghiệm R∨R^{\vee} trong h\mathfrak{h} nghịch đảo với R.

Ta sẽ gọi R(g,h)R(\mathfrak{g},\mathfrak{h}) là hệ nghiệm của (g,h)(\mathfrak{g},\mathfrak{h}). Các phép đối xứng sα,Hαs_{\alpha ,H_{\alpha}} sẽ được ký hiệu đơn giản bởi sαs_{\alpha}. Nhóm Weyl, nhóm trọng số, số Coxeter ... .. của R(g,h)R(\mathfrak{g},\mathfrak{h}) được gọi là nhóm Weyl, nhóm trọng số, số Coxeter ... .. của (g,h)(\mathfrak{g},\mathfrak{h}). Như trong Chương VI, §1, no. 1, ta xét nhóm Weyl như tác động không chỉ trên h∗\mathfrak{h}^*, mà còn trên h\mathfrak{h} bằng phép chuyển cấu trúc, sao cho sα=θα(t)∣hs_{\alpha}=\theta_{\alpha}(t)|\mathfrak{h}. Vì các θα(t)\theta_{\alpha}(t) là những tự đẳng cấu sơ cấp của g\mathfrak{g}, ta có:

Hệ quả 00YX

Mọi phần tử của nhóm Weyl của (g,h)(\mathfrak{g},\mathfrak{h}), tác động trên h\mathfrak{h}, đều là hạn chế trên h\mathfrak{h} của một tự đẳng cấu sơ cấp của g\mathfrak{g}.

Để có một đảo lại của kết quả này, xem §5, no. 2, Mệnh đề 4.

Nhận xét 1 00YY

Nếu hQ\mathfrak{h}_{\mathbf{Q}} (tương ứng hQ∗\mathfrak{h}^*_{\mathbf{Q}}) ký hiệu không gian con vectơ trên Q\mathbf{Q} của h\mathfrak{h} (tương ứng của h∗\mathfrak{h}^*) sinh bởi các HαH_{\alpha} (tương ứng các α\alpha ), với α∈R\alpha \in R, thì h\mathfrak{h} (tương ứng h∗\mathfrak{h}^*) có thể được đồng nhất một cách chính tắc với hQ⊗Qk\mathfrak{h}_{\mathbf{Q}}\otimes_{\mathbf{Q}}k (tương ứng với hQ∗⊗Qk\mathfrak{h}^*_{\mathbf{Q}}\otimes_{\mathbf{Q}}k) và hQ∗\mathfrak{h}^*_{\mathbf{Q}} có thể được đồng nhất với đối ngẫu của hQ\mathfrak{h}_{\mathbf{Q}} (Chương VI, §1, no. 1, Mệnh đề 1). Ta gọi hQ\mathfrak{h}_{\mathbf{Q}} và hQ∗\mathfrak{h}^*_{\mathbf{Q}} là các Q\mathbf{Q}-cấu trúc chính tắc trên h\mathfrak{h} và h∗(\mathfrak{h}^*(Đại số, Chương II, §8, no. 1, Định nghĩa 1). Khi nói đến tính hữu tỉ trên Q\mathbf{Q} đối với một không gian con vectơ của h\mathfrak{h}, đối với một dạng tuyến tính trên h\mathfrak{h}, v.v., ta sẽ hiểu theo các cấu trúc ấy, trừ khi có chỉ dẫn ngược lại. Khi nói đến các buồng Weyl, hoặc các mặt, của R(g,h)R(\mathfrak{g},\mathfrak{h}), ta sẽ làm việc trong hQ⊗QR\mathfrak{h}_{\mathbf{Q}}\otimes_{\mathbf{Q}}\mathbf{R} hoặc hQ∗⊗QR\mathfrak{h}^*_{\mathbf{Q}}\otimes_{\mathbf{Q}}\mathbf{R}, mà ta sẽ ký hiệu bởi hR\mathfrak{h}_{\mathbf{R}} và hR∗\mathfrak{h}^*_{\mathbf{R}}.

Nhận xét 2 00YZ

Hệ nghiệm R∨R^{\vee} trong h\mathfrak{h} xác định một dạng song tuyến tính đối xứng không suy biến β\beta trên h\mathfrak{h} (Chap. VI, §1, no. 1, Prop. 3), cụ thể là dạng (a,b)→(a, b) \rightarrow ∑α∈R⟨α,a⟩⟨α,b⟩\sum_{\alpha\in R}\langle \alpha , a\rangle \langle \alpha , b\rangle. Theo Hệ quả của Định lý 1, dạng này chính là hạn chế của

dạng Killing lên h\mathfrak{h}. Mở rộng của β∣hQ×hQ\beta |\mathfrak{h}_{\mathbf{Q}}\times \mathfrak{h}_{\mathbf{Q}} tới hQ⊗QR\mathfrak{h}_{\mathbf{Q}}\otimes_{\mathbf{Q}}\mathbf{R} là dương không suy biến (Chap. VI, §1, no. 1, Prop. 3). Mặt khác, ta thấy rằng dạng nghịch đảo trên h∗\mathfrak{h}^* của hạn chế lên h\mathfrak{h} của dạng Killing trên g\mathfrak{g} là dạng song tuyến tính chính tắc ΦR\Phi_R của R (Chap. VI, §1, no. 12).

Cho (g1,h1),(g2,h2)(\mathfrak{g}_1,\mathfrak{h}_1), (\mathfrak{g}_2,\mathfrak{h}_2) là các đại số Lie nửa đơn tách, φ\varphi là một đẳng cấu từ g1\mathfrak{g}_1 lên g2\mathfrak{g}_2 sao cho φ(h1)=h2\varphi (\mathfrak{h}_1) =\mathfrak{h}_2. Bởi phép chuyển cấu trúc, chuyển vị của ánh xạ φ∣h1\varphi |\mathfrak{h}_1 đưa R(g2,h2)R(\mathfrak{g}_2,\mathfrak{h}_2) vào R(g1,h1)R(\mathfrak{g}_1,\mathfrak{h}_1).

Mệnh đề 3 00Z0

Cho g\mathfrak{g} là một đại số Lie nửa đơn, h1\mathfrak{h}_1 và h2\mathfrak{h}_2 là các đại số con Cartan tách của g\mathfrak{g}. Tồn tại một đẳng cấu từ h1∗\mathfrak{h}^*_1 đến h2∗\mathfrak{h}^*_2 đưa R(g,h1)R(\mathfrak{g},\mathfrak{h}_1) lên R(g,h2)R(\mathfrak{g},\mathfrak{h}_2).

(Để có các kết quả chính xác hơn, xem §3, no. 3, Hệ quả của Mệnh đề 10, và §5, no. 3, Mệnh đề 5).

Cho k′k' là một bao đóng đại số của k,g′=g⊗kk′,hi′=hi⊗kk′k,\mathfrak{g}'=\mathfrak{g}\otimes_kk',\mathfrak{h}'_i=\mathfrak{h}_i\otimes_kk'. Khi đó R(g′,hi′)R(\mathfrak{g}',\mathfrak{h}'_i) là ảnh của R(g,hi)R(\mathfrak{g},\mathfrak{h}_i) dưới ánh xạ λ→λ⊗1\lambda \rightarrow \lambda \otimes 1 từ hi∗\mathfrak{h}^*_i vào hi∗⊗kk′=hi′∗\mathfrak{h}^*_i\otimes_kk'={\mathfrak{h}'_i}^*. Theo Chương VII, §3, no. 2, Định lý 1, tồn tại một tự đẳng cấu của g′\mathfrak{g}' biến h1′\mathfrak{h}'_1 thành h2′\mathfrak{h}'_2, do đó một đẳng cấu φ\varphi từ h1′∗{\mathfrak{h}'_1}^* lên h2′∗{\mathfrak{h}'_2}^* biến R(g′,h1′)R(\mathfrak{g}',\mathfrak{h}'_1) thành R(g′,h2′)R(\mathfrak{g}',\mathfrak{h}'_2). Khi đó φ∣h1∗\varphi |\mathfrak{h}^*_1 biến R(g,h1)R(\mathfrak{g},\mathfrak{h}_1) thành R(g,h2)R(\mathfrak{g},\mathfrak{h}_2), và do đó biến h1∗\mathfrak{h}^*_1 thành h2∗\mathfrak{h}^*_2. C.Q.F.D.

Theo Mệnh đề 3, hệ nghiệm của (g,h)(\mathfrak{g},\mathfrak{h}) chỉ phụ thuộc, tới đẳng cấu, vào g\mathfrak{g} mà không phụ thuộc vào h\mathfrak{h}. Cũng vậy, nhóm Weyl, nhóm các trọng số ... .. của (g,h)(\mathfrak{g},\mathfrak{h}) được gọi đơn giản, do lạm dụng ngôn ngữ, là nhóm Weyl, nhóm các trọng số ... .. của g\mathfrak{g} (xem thêm §5, no. 3, Nhận xét 2). Nếu đồ thị Dynkin của g\mathfrak{g} thuộc kiểu AlA_l, hoặc Bl,..B_l,. .. (x. Chương VI, §4, no. 2, Định lý 3), ta nói rằng g\mathfrak{g} thuộc kiểu AlA_l, hoặc Bl,..B_l,. ...

Nhớ rằng, nếu α\alpha và β\beta là các nghiệm độc lập tuyến tính, thì tập hợp các j∈Zj\in \mathbf{Z} sao cho β+jα∈R\beta +j\alpha \in R là một khoảng [−q,p][-q, p] của Z\mathbf{Z} chứa 0, với p−q=p-q= −⟨β,α∨⟩=−β(Hα)-\langle \beta , \alpha^{\vee}\rangle =-\beta (H_{\alpha}) (Chương VI, §1, no. 3, Mệnh đề 9).

Mệnh đề 4 00Z1

Cho α\alpha và β\beta là các nghiệm độc lập tuyến tính. Gọi pp (tương ứng qq) là số nguyên lớn nhất jj sao cho β+jα\beta +j\alpha (tương ứng β−jα\beta -j\alpha ) là một nghiệm.

(i) Không gian con vectơ ∑−q≤j≤pgβ+jα\sum_{-q\leq j\leq p}\mathfrak{g}^{\beta+j\alpha} của g\mathfrak{g} là một sα\mathfrak{s}_{\alpha}-môđun đơn có chiều p+q+1p+q+ 1.

(ii) Nếu α+β\alpha +\beta là một nghiệm, thì [gα,gβ]=gα+β[\mathfrak{g}^{\alpha},\mathfrak{g}^{\beta}] =\mathfrak{g}^{\alpha+\beta}.

Cho XαX_{\alpha} (resp. xx) là một phần tử khác không của gα\mathfrak{g}^{\alpha} (resp. gβ+pα\mathfrak{g}^{\beta+p\alpha}). Khi đó

[Xα,x]∈gβ+(p+1)α=0 [X_{\alpha}, x]\in \mathfrak{g}^{\beta+(p+1)\alpha}= 0
[Hα,x]=(β(Hα)+pα(Hα))x=(−p+q+2p)x=(p+q)x [H_{\alpha}, x] = (\beta (H_{\alpha}) +p\alpha (H_{\alpha}))x= (-p+q+ 2p)x= (p+q)x

Như vậy, xx là nguyên thủy có trọng số p+qp+q đối với biểu diễn của sl(2,k)\mathfrak{s}\mathfrak{l}(2, k) trên g\mathfrak{g} liên kết với XαX_{\alpha}; nhưng sl(2,k\mathfrak{s}\mathfrak{l}(2, k)-môđun ∑−q≤j≤pgβ+jα\sum_{-q\leq j\leq p}\mathfrak{g}^{\beta+j\alpha} có chiều p+q+1p+q+ 1; do đó nó là đơn (§1, no. 2, Mệnh đề 2). Nếu α+β∈R\alpha +\beta \in R, thì p≥1p\geq 1, nên các phần tử của gβ\mathfrak{g}^{\beta} không nguyên thủy, và do đó [Xα,gβ]≠0[X_{\alpha},\mathfrak{g}^{\beta}]\not= 0. Vì [gα,gβ]⊂[\mathfrak{g}^{\alpha},\mathfrak{g}^{\beta}]\subset gα+β\mathfrak{g}^{\alpha+\beta}, cuối cùng ta thấy rằng [gα,gβ]=gα+β[\mathfrak{g}^{\alpha},\mathfrak{g}^{\beta}] =\mathfrak{g}^{\alpha+\beta}.

Nhận xét 3 00Z2

Nhớ rằng, theo Chương VI, §1, no. 3, Hệ quả của Mệnh đề 9, số nguyên p+q+1p+q+ 1 chỉ có thể nhận các giá trị 1,2,3,41,2,3,4.

Nhận xét 4 00Z3

Cho (g,h)(\mathfrak{g},\mathfrak{h}) là một đại số Lie khả quy tách được, c\mathfrak{c} là tâm của g,g′=Dg\mathfrak{g},\mathfrak{g}'=\mathscr{D}\mathfrak{g}, h′=h∩g′\mathfrak{h}'=\mathfrak{h}\cap \mathfrak{g}'. Khi đó h=c×h′\mathfrak{h}=\mathfrak{c}\times \mathfrak{h}', và ta đồng nhất h′∗\mathfrak{h}^{'*} với một không gian con vectơ của h∗\mathfrak{h}^*. Với mọi λ∈h∗\lambda \in \mathfrak{h}^* sao cho λ≠0\lambda \not= 0, không gian con nguyên sơ gλ\mathfrak{g}^{\lambda} đối với λ\lambda bằng g′λ∣h′{\mathfrak{g}'}^{\lambda|\mathfrak{h}'}. Một trọng số khác không của h\mathfrak{h} trên g\mathfrak{g} được gọi là một nghiệm của (g,h)(\mathfrak{g},\mathfrak{h}); mọi nghiệm đều triệt tiêu trên c\mathfrak{c}. Ký hiệu R(g,h)R(\mathfrak{g},\mathfrak{h}) là tập hợp các nghiệm của (g,h)(\mathfrak{g},\mathfrak{h}); nó có thể được đồng nhất một cách chính tắc với R(g′,h′)R(\mathfrak{g}',\mathfrak{h}'). Cho α∈R(g,h)\alpha \in R(\mathfrak{g},\mathfrak{h}). Ta định nghĩa hα,Hαh_{\alpha},H_{\alpha}, sα\mathfrak{s}_{\alpha}, các đẳng cấu sl(2,k)→sα\mathfrak{s}\mathfrak{l}(2, k)\rightarrow \mathfrak{s}_{\alpha}, và các biểu diễn của sl(2,k)\mathfrak{s}\mathfrak{l}(2, k) trên g\mathfrak{g} liên kết với α\alpha, như trong trường hợp nửa đơn.

3. Các dạng song tuyến tính bất biến

Mệnh đề 5 00Z4

Cho (g,h)(\mathfrak{g},\mathfrak{h}) là một đại số Lie nửa đơn tách, Φ\Phi là một dạng song tuyến tính đối xứng bất biến trên g\mathfrak{g}, và W là nhóm Weyl của (g,h)(\mathfrak{g},\mathfrak{h}). Khi đó hạn chế Φ′\Phi ' của Φ\Phi trên h\mathfrak{h} là bất biến dưới W. Hơn nữa, nếu Φ\Phi không suy biến thì Φ′\Phi ' cũng vậy.

Cho α∈R\alpha \in R, XαX_{\alpha} là một phần tử khác không của gα,ρ\mathfrak{g}^{\alpha},\rho là biểu diễn liên kết của sl(2,k)\mathfrak{s}\mathfrak{l}(2, k) trên g\mathfrak{g}, và π\pi là biểu diễn của SL(2,k)\mathbf{S}\mathbf{L}(2, k) trên g\mathfrak{g} tương thích với ρ\rho. Khi đó Φ\Phi là bất biến dưới ρ\rho, và do đó dưới π(\pi (§1, no. 4). Đặc biệt, Φ′\Phi ' là bất biến dưới θα(t)∣h\theta_{\alpha}(t)|\mathfrak{h} (no. 2), và do đó dưới W. Khẳng định cuối cùng suy ra từ Mệnh đề 1 (i).

Mệnh đề 6 00Z5

Cho (g,h)(\mathfrak{g},\mathfrak{h}) là một đại số Lie nửa đơn tách, Φ\Phi là một dạng song tuyến tính đối xứng bất biến không suy biến trên g\mathfrak{g}. Với mọi α∈R\alpha \in R, gọi XαX_{\alpha} là một phần tử khác không của gα\mathfrak{g}^{\alpha}. Gọi (Hi)i∈I(H_i)_{i\in I} là một cơ sở của h\mathfrak{h}, và (Hi′)i∈I(H'_i)_{i\in I} là cơ sở của h\mathfrak{h} sao cho Φ(Hi,Hj′)=δij\Phi (H_i, H'_j) =\delta_{ij}. Khi đó phần tử Casimir liên kết với Φ\Phi trong đại số bao của g\mathfrak{g} (Chương I, §3, no. 7) là

∑1Φ(Xα,X−α)XαX−α+∑HiHi′ \sum\frac{1}{\Phi(X_{\alpha}, X_{-\alpha})}X_{\alpha}X_{-\alpha}+\sum H_iH'_i
α∈Ri∈I\alpha \in Ri\in I

Thật vậy, theo Mệnh đề 1,Φ(Hi,Xα)=Φ(Hi′,Xα)=01,\Phi (H_i, X_{\alpha}) =\Phi (H'_i, X_{\alpha}) = 0 với mọi i∈I,α∈Ri\in I,\alpha \in R, và Φ(1Φ(Xα,X−α)Xα,X−β)=δαβ\Phi (\frac{1}{\Phi(X_{\alpha},X_{-\alpha})}X_{\alpha}, X_{-\beta})=\delta_{\alpha \beta} với mọi α,β∈R\alpha , \beta \in R.

4. Các hệ số nαβ_{\boldsymbol{\alpha \beta }}

Trong số này, ta lại ký hiệu bởi (g,h)(\mathfrak{g},\mathfrak{h}) một đại số Lie nửa đơn tách.

Bổ đề 2 00Z6

Tồn tại một họ (Xα)α∈R(X_{\alpha})_{\alpha\in R} sao cho, với mọi α∈R\alpha \in R,

Xα∈gαX_{\alpha}\in \mathfrak{g}^{\alpha} và [Xα,X−α]=−Hα[X_{\alpha}, X_{-\alpha}] =-H_{\alpha}.

Cho R1R_1 là một tập con của R sao cho R=R1∪(−R1)R = R_1\cup (-R_1) và R1∩(−R1)=∅R_1\cap (-R_1) =\emptyset. Với α∈R1\alpha \in R_1, chọn một phần tử khác không tùy ý XαX_{\alpha} của gα\mathfrak{g}^{\alpha}. Tồn tại một phần tử duy nhất X−α∈g−αX_{-\alpha}\in \mathfrak{g}^{-\alpha} sao cho [Xα,X−α]=−Hα[X_{\alpha}, X_{-\alpha}] =-H_{\alpha} (Định lý 1 (iv)). Khi đó

[X−α,Xα]=Hα=−H−α.Q.E.D [X_{-\alpha}, X_{\alpha}] =H_{\alpha}=-H_{-\alpha}.Q.E.D

Nếu (Xα)α∈R(X_{\alpha})_{\alpha\in R} là một họ thỏa mãn các điều kiện của Bổ đề 2, thì họ tổng quát nhất thỏa mãn các điều kiện ấy là (tαXα)α∈R(t_{\alpha}X_{\alpha})_{\alpha\in R} trong đó tα∈k∗t_{\alpha}\in k^* và tαt−α=1t_{\alpha}t_{-\alpha}= 1 với mọi α∈R\alpha \in R.

Trong phần còn lại của số này, ta ký hiệu bởi (Xα)α∈R(X_{\alpha})_{\alpha\in R} một họ thỏa mãn các điều kiện của Bổ đề 2. Ta ký hiệu bởi ⟨⋅,⋅⟩\langle \cdot ,\cdot \rangle một dạng song tuyến tính đối xứng bất biến không suy biến trên g\mathfrak{g}.

Mọi x∈gx\in \mathfrak{g} đều có thể viết duy nhất dưới dạng

x=h+∑α∈RμαXα(h∈h,μα∈k) x=h+\sum_{\alpha\in R}\mu_{\alpha}X_{\alpha}(h\in \mathfrak{h}, \mu_{\alpha}\in k)

Dấu ngoặc của hai phần tử như vậy có thể được tính bằng các công thức sau:

[h,Xα]=α(h)Xα [h, X_{\alpha}] =\alpha (h)X_{\alpha}

0 nếu α+β∉R∪{0}\alpha +\beta \notin R\cup \{0\}

[Xα,Xβ]=−Hα[X_{\alpha}, X_{\beta}] =-H_{\alpha} nếu α+β=0\alpha +\beta = 0

NαβXα+βN_{\alpha \beta}X_{\alpha+\beta} nếu α+β∈R\alpha +\beta \in R

các NαβN_{\alpha \beta} là những phần tử khác không của kk.

Bổ đề 3 00Z7

Với mọi α∈R\alpha \in R,

⟨Xα,X−α⟩=−12⟨Hα,Hα⟩ \langle X_{\alpha}, X_{-\alpha}\rangle =-\frac{1}{2}\langle H_{\alpha}, H_{\alpha}\rangle

Thật vậy,

2⟨Xα,X−α⟩=⟨α(Hα)Xα,X−α⟩=⟨[Hα,Xα],X−α⟩ 2\langle X_{\alpha}, X_{-\alpha}\rangle =\langle \alpha (H_{\alpha})X_{\alpha}, X_{-\alpha}\rangle =\langle [H_{\alpha}, X_{\alpha}], X_{-\alpha}\rangle
=⟨Hα,[Xα,X−α]⟩=−⟨Hα,Hα⟩ =\langle H_{\alpha},[X_{\alpha}, X_{-\alpha}]\rangle =-\langle H_{\alpha}, H_{\alpha}\rangle

Bổ đề 4 00Z8

Cho α,β∈R\alpha , \beta \in R sao cho α+β∈R\alpha +\beta \in R. Gọi pp (resp. qq) là số nguyên lớn nhất jj sao cho β+jα∈R\beta +j\alpha \in R (resp. β−jα∈R\beta -j\alpha \in R). Khi đó,

Nα,βN−α,α+β=−p(q+1)(3) N_{\alpha ,\beta}N_{-\alpha ,\alpha+\beta}=-p(q+ 1) \tag{3}
N−α,α+β⟨Hβ,Hβ⟩=−N−α,−β⟨Hα+β,Hα+β⟩(4) N_{-\alpha ,\alpha+\beta}\langle H_{\beta}, H_{\beta}\rangle =-N_{-\alpha ,-\beta}\langle H_{\alpha+\beta}, H_{\alpha+\beta}\rangle \tag{4}
Nα,βN−α,−β=(q+1)2(5) N_{\alpha ,\beta}N_{-\alpha ,-\beta}= (q+ 1)^2 \tag{5}

Cho ρ\rho là biểu diễn của sl(2,k)\mathfrak{s}\mathfrak{l}(2, k) trên g\mathfrak{g} được xác định bởi XαX_{\alpha}. Phần tử e=Xβ+pαe=X_{\beta+p\alpha} là nguyên thủy có trọng số p+qp+q (Mệnh đề 4 (i)). Đặt

en=(−n1)e_n=(-n1)! nρ(X−)ne^n\rho (X_-)^ne với n≥0n\geq 0.

Theo Mệnh đề 1 của §1,

(ad XαX_{\alpha})ep=(q+1)ep−1e_p= (q+ 1)e_{p-1}

(ad X−αX_{-\alpha})(ad XαX_{\alpha})ep=−p(q+1)epe_p=-p(q+ 1)e_p.

Điều này chứng minh (3) vì epe_p là một phần tử khác không của gβ\mathfrak{g}^{\beta}.

Do dạng ⟨⋅,⋅⟩\langle \cdot ,\cdot \rangle là bất biến, ta có

⟨[X−α,Xα+β],X−β⟩=−⟨Xα+β,[X−α,X−β]⟩ \langle [X_{-\alpha}, X_{\alpha+\beta}], X_{-\beta}\rangle =-\langle X_{\alpha+\beta},[X_{-\alpha}, X_{-\beta}]\rangle

do đó

N−α,α+β⟨Xβ,X−β⟩=−N−α,−β⟨Xα+β,X−α−β⟩ N_{-\alpha ,\alpha+\beta}\langle X_{\beta}, X_{-\beta}\rangle =-N_{-\alpha ,-\beta}\langle X_{\alpha+\beta}, X_{-\alpha-\beta}\rangle

điều này, theo Bổ đề 3, chứng minh (4).

Hạn chế của ⟨⋅,⋅⟩\langle \cdot ,\cdot \rangle lên h\mathfrak{h} là không suy biến và bất biến dưới nhóm Weyl (Mệnh đề 5). Đồng nhất h\mathfrak{h} và h∗\mathfrak{h}^* bằng hạn chế này. Nếu γ∈R,Hγ\gamma \in R,H_{\gamma} được đồng nhất với 2γ/⟨γ,γ⟩2\gamma /\langle \gamma , \gamma \rangle (Chap. VI, §1, no. 1, Bổ đề 2); do đó, với mọi γ,δ∈R\gamma , \delta \in R,

⟨γ,γ⟩⟨Hδ,Hδ⟩ \langle \gamma , \gamma \rangle \langle H_{\delta}, H_{\delta}\rangle
⟨δ,δ⟩‾=⟨Hγ,Hγ⟩‾(6) \overline{\langle\delta , \delta\rangle}=\overline{\langle H_{\gamma}, H_{\gamma}\rangle} \tag{6}

Bây giờ, theo Chap. VI, §1, no. 3, Mệnh đề 10,

⟨α+β,α+β⟩⟨β,β⟩=q+1p(7) \frac{\langle\alpha + \beta , \alpha + \beta\rangle}{\langle\beta , \beta\rangle}=\frac{q + 1}{p} \tag{7}

do đó, theo (3), (4), (6), (7),

Nα,βN−α,−β=−Nα,βN−α,α+β⟨Hβ,Hβ⟩⟨Hα+β,Hα+β⟩ N_{\alpha ,\beta}N_{-\alpha ,-\beta}=-N_{\alpha ,\beta}N_{-\alpha ,\alpha+\beta}\frac{\langle H_{\beta}, H_{\beta}\rangle}{\langle H_{\alpha+\beta}, H_{\alpha+\beta}\rangle}
=−Nα,βN−α,α+βq+1p=(q+1)2 =-N_{\alpha ,\beta}N_{-\alpha ,\alpha+\beta}\frac{q + 1}{p}= (q+ 1)^2

Định nghĩa 3 00Z9

Một hệ Chevalley cho (g,h)(\mathfrak{g},\mathfrak{h}) là một họ (Xα)α∈R(X_{\alpha})_{\alpha\in R} sao cho

(i) Xα∈gαX_{\alpha}\in \mathfrak{g}^{\alpha} với mọi α∈R\alpha \in R;

(ii) [Xα,X−α]=−Hα[X_{\alpha}, X_{-\alpha}] =-H_{\alpha} với mọi α∈R\alpha \in R;

(iii) ánh xạ tuyến tính từ g\mathfrak{g} vào g\mathfrak{g} bằng −1-1 trên h\mathfrak{h} và biến XαX_{\alpha} thành X−αX_{-\alpha} với mọi α∈R\alpha \in R là một tự đẳng cấu của g\mathfrak{g}.

Việc mở rộng định nghĩa này cho trường hợp (g,h)(\mathfrak{g},\mathfrak{h}) là khả quy tách là ngay lập tức.

Ta sẽ chỉ ra (§4, no. 4, Hệ quả của Mệnh đề 5) rằng các hệ Chevalley cho (g,h)(\mathfrak{g},\mathfrak{h}) tồn tại.

Mệnh đề 7 00ZA

Cho (Xα)α∈R(X_{\alpha})_{\alpha\in R} là một hệ Chevalley của (g,h)(\mathfrak{g},\mathfrak{h}). Ta giữ ký hiệu của Bổ đề 4. Khi đó, N−α,−β=Nα,βN_{-\alpha ,-\beta}= N_{\alpha ,\beta} và Nα,β=±(q+1)N_{\alpha ,\beta}=\pm (q+ 1) với α,β,α+β∈R\alpha , \beta , \alpha +\beta \in R.

Cho φ\varphi là tự đẳng cấu của g\mathfrak{g} được xét trong Định nghĩa 3 (iii). Khi đó

N−α,−βX−α−β=[X−α,X−β]=[φ(Xα),φ(Xβ)]=φ([Xα,Xβ]) N_{-\alpha ,-\beta}X_{-\alpha-\beta}= [X_{-\alpha}, X_{-\beta}] = [\varphi (X_{\alpha}), \varphi (X_{\beta})] =\varphi ([X_{\alpha}, X_{\beta}])
=φ(Nα,βXα+β)=Nα,βX−α−β =\varphi (N_{\alpha ,\beta}X_{\alpha+\beta}) = N_{\alpha ,\beta}X_{-\alpha-\beta}

nên N−α,−β=Nα,βN_{-\alpha ,-\beta}= N_{\alpha ,\beta}. Bây giờ Nα,β=±(q+1)N_{\alpha ,\beta}=\pm (q+ 1) theo (5).

Mệnh đề 8 00ZB

Cho (Xα)α∈R(X_{\alpha})_{\alpha\in R} là một hệ Chevalley của (g,h)(\mathfrak{g},\mathfrak{h}). Cho M là một Z\mathbf{Z}-môđun con của h\mathfrak{h} chứa các HαH_{\alpha} và được chứa trong nhóm các trọng số của R∨R^{\vee}. Gọi gZ\mathfrak{g}_{\mathbf{Z}} là môđun con trên Z\mathbf{Z} của g\mathfrak{g} được sinh bởi M và các XαX_{\alpha}. Khi đó gZ\mathfrak{g}_{\mathbf{Z}} là một đại số Lie con trên Z\mathbf{Z} của g\mathfrak{g}, và ánh xạ chính tắc từ gZ⊗Zk\mathfrak{g}_{\mathbf{Z}}\otimes_{\mathbf{Z}}k đến g\mathfrak{g} là một đẳng cấu.

Nếu α,β∈R\alpha , \beta \in R sao cho α+β∈R\alpha +\beta \in R, thì Nα,β∈ZN_{\alpha ,\beta}\in \mathbf{Z} (Mệnh đề 7). Mặt khác, nếu α∈R\alpha \in R và h∈Mh\in M, thì α(h)∈Z\alpha (h)\in \mathbf{Z} (Đại số, Chương VI, §1, no. 9). Điều đó chứng tỏ rằng gZ\mathfrak{g}_{\mathbf{Z}} là một đại số con Lie trên Z\mathbf{Z} của g\mathfrak{g}. Mặt khác, M là một nhóm Abel tự do hạng dimh(\mathfrak{h}(Đại số, Chương VII, §3, Định lý 1), nên gZ\mathfrak{g}_{\mathbf{Z}} là một nhóm Abel tự do hạng dimg\mathfrak{g}; điều này suy ra khẳng định cuối cùng.

Bài tập

Xem các bài tập của § 2.

Machine translation of the English, by gpt-5.4, against glossary version 34. Not checked by a person.