1. Các tự đẳng cấu của một đại số Lie nửa đơn có khung
Nhắc lại (Chương VII, §3, no. 1) rằng Aut(g) ký hiệu nhóm các tự đẳng cấu của g. Nếu h là một đại số con Cartan của g, ta ký hiệu bởi Aut(g,h) nhóm các tự đẳng cấu của g làm cho h ổn định. Giả sử rằng h là tách, và gọi R là hệ nghiệm của (g,h). Nếu s∈ Aut(g,h), ánh xạ phản biến của s∣h là một phần tử của A(R) (nhóm các tự đẳng cấu của R), mà trong mục này chúng tôi sẽ ký hiệu bởi ε(s). Do đó
ε: Aut(g,h)→A(R)
là một đồng cấu nhóm.
Với mọi hệ nghiệm R và mọi cơ sở B của R, ta ký hiệu bởi Aut(R,B) nhóm các tự đẳng cấu của R làm cho B ổn định. Nhắc lại rằng (Chương VI, §1, no. 5, Mệnh đề 16 và §4, no. 2, Hệ quả của Mệnh đề 1) A(R) là tích nửa trực tiếp của Aut(R,B) và W(R), và A(R)/W(R) đẳng cấu một cách chính tắc với nhóm các tự đẳng cấu của đồ thị Dynkin của R.
Cho (g,h,B,(Xα)α∈B) là một đại số Lie nửa đơn có khung, và R là hệ nghiệm của (g,h). Gọi G là tập hợp các s∈ Aut(g,h) làm cho B ổn định, và sao cho s(Xα)=Xε(s)α với mọi α∈B(nói cách khác, tập hợp các tự đẳng cấu của (g,h,B,(Xα)α∈B)). Khi đó hạn chế của ε lên G là một đẳng cấu từ G lên Aut(R,B).
Nếu s∈G, hiển nhiên là ε(s)∈ Aut(R,B). Mặt khác, ánh xạ
ε∣G:G→ Aut(R,B)
là song ánh theo Định lý 2 của §4, no. 4.
2. Tự đẳng cấu của một đại số Lie nửa đơn tách
Cho E là một nhóm giao hoán, và A=⨁γ∈EAγ là một đại số phân bậc theo E. Với mọi đồng cấu φ từ nhóm E vào nhóm nhân k∗, gọi f(φ) là ánh xạ k-tuyến tính từ A vào A mà hạn chế của nó trên mỗi Aγ là phép vị tự có tỷ số φ(γ); hiển nhiên f(φ) là một tự đẳng cấu của đại số phân bậc A, và f là một đồng cấu từ nhóm Hom(E,k∗) vào nhóm các tự đẳng cấu của đại số phân bậc A.
Cho h là một đại số con Cartan tách của g, và R là hệ nghiệm của (g,h). Nhắc lại rằng P(R) (resp. Q(R)) ký hiệu nhóm các trọng số (resp. các trọng số căn) của R. Đặt
TP= Hom(P(R),k∗)TQ= Hom(Q(R),k∗).
Ta có thể xem g=g0+∑α∈Rgα như một đại số phân bậc theo Q(R). Các nhận xét trên xác định một đồng cấu chính tắc từ TQ vào Aut(g,h), sẽ được ký hiệu là f trong đoạn này. Mặt khác, đơn ánh chính tắc từ Q(R) vào P(R) xác định một đồng cấu từ TP vào TQ, sẽ được ký hiệu là q:
TP⟶qTQ⟶f Aut(g,h).
Nếu s∈ Aut(g,h), gọi s∗ là hạn chế của t(s∣h)−1 trên Q(R). Khi đó, với mọi φ∈TQ,
a) Cho φ∈ Ker f. Khi đó φ(α)=1 với mọi α∈R. Vì R sinh nhóm Q(R),φ là phần tử đơn vị của TQ.
b) Cho φ∈TQ. Hạn chế của f(φ) trên h=g0 là đồng nhất, do đó
Im f⊂ Kerε.
c) Cho s∈ Kerε. Khi đó s∣h= Idh. Với mọi α∈R, ta có s(gα)=gα, và tồn tại một tα∈k∗ sao cho sx=tαx với mọi x∈gα. Viết điều kiện để s∈ Aut(g), ta thu được các hệ thức
tαt−α=1 với mọi α∈R
tαtβ=tα+β khi α,β,α+β∈R.
Trong các điều kiện này, tồn tại φ∈TQ sao cho φ(α)=tα với mọi α∈R (Chương VI, §1, no. 6, Hệ quả 2 của Mệnh đề 19). Khi đó s=f(φ). Do đó, Ker ε⊂ Im f.
d) Ảnh của Aut(g,h) qua ε chứa W(R) theo §2, no. 2, Hệ quả của Định lý 2, và chứa Aut(R,B) theo Mệnh đề 1. Do đó ảnh này bằng A(R).
Cho (B,(Xα)α∈B) là một cơ sở của (g,h). Gọi G là tập hợp các s∈ Aut(g,h) bảo toàn cơ sở đó. Khi đó Aut(g,h) là tích nửa trực tiếp của G và ε−1(W(R)).
Cho α∈R và t∈k∗. Gọi φ là đồng cấu λ→tλ(Hα) từ Q(R) vào k∗. Khi đó f(φ)=θα(t)θα(−1).
Cho ρ là biểu diễn của sl(2,k) trên g liên kết với Xα. Cho π là biểu diễn của SL(2,k) tương thích với ρ. Đặt các ký hiệu θ(t),h(t) của §1, no. 5. Vì ρ(H)= ad Hα, các phần tử của gλ có trọng số λ(Hα) đối với ρ. Theo §2, số 2,θα(t)θα(−1)=π(θ(t)θ(−1))=π(h(t)). Do đó hạn chế của θα(t)θα(−1) lên gλ là phép vị tự có tỷ số tλ(Hα)(§1, no. 5, Mệnh đề 6), suy ra bổ đề.
Cho B là một cơ sở của R. Khi đó (Hα)α∈B là một cơ sở của R∨, và cơ sở đối ngẫu của (Hα)α∈B trong h∗ là một cơ sở của nhóm P(R). Do đó nhóm TP được sinh bởi các đồng cấu λ→tλ(Hα)(t∈k∗,α∈B). Nếu φ là hạn chế của một đồng cấu như vậy lên Q(R), thì Bổ đề 1 chứng minh rằng f(φ)∈ Aute(g), do đó suy ra mệnh đề.
Cho k là một bao đóng đại số của k. Ánh xạ liên kết với mỗi tự đẳng cấu s của g tự đẳng cấu s⊗1 của g⊗kk là một đơn cấu từ Aut(g) vào Aut(g⊗kk). Ta ký hiệu bởi Aut0(g) nhóm con chuẩn tắc của Aut(g) là ảnh ngược của Aute(g⊗kk) qua đồng cấu này; đó là tập hợp các tự đẳng cấu của g trở thành sơ cấp khi mở rộng trường cơ sở từ k lên k. Hiển nhiên Aute(g) độc lập với lựa chọn k, và Aute(g)⊂ Aut0(g). Các nhóm Aut0(g) và Aute(g) có thể phân biệt (Chương VII, §13, no. 1). Nếu h là một đại số con Cartan của g, đặt
Cho h là một đại số con Cartan tách của g, và s∈ Aut0(g,h). Giả sử rằng hạn chế của s lên ∑α∈Rgα không có 1 là một trị riêng.
Khi đó ε(s)=1.
Bằng cách mở rộng k, ta quy về trường hợp s∈ Aute(g,h). Chiều của không gian lũy linh của s−1 ít nhất bằng dim h (Chương VII, §4, no. 4, Mệnh đề 9). Do đó, (s−1)∣h là lũy linh. Vì s∣h∈A(R∨),s∣h có cấp hữu hạn, nên nửa đơn (Chương V, Phụ lục, Mệnh đề 2). Do đó, (s−1)∣h=0, điều này chứng tỏ rằng ε(s)=1.
(i) Cho m=(P(R):Q(R)). Nếu φ là lũy thừa bậc m của một phần tử của TQ, thì φ∈q(TP).
(ii) Nếu k đóng đại số, q(TP)=TQ.
Tồn tại một cơ sở (λ1,...,λl) của P(R) và các số nguyên n1≥1,...,nl≥1 sao cho (n1λ1,...,nlλl) là một cơ sở của Q(R). Ta có m=n1...nl. Lấy ψ∈TQ và đặt ψ(n1λ1)=t1,...,ψ(nlλl)=tl. Với i=1,...,l, đặt mi=∏j=inj. Cho χ là phần tử của TP sao cho χ(λ1)=t1m1,...,χ(λl)=tlml. Khi đó
χ(niλi)=timini=tim=(ψm)(niλi)
nên χ∣Q(R)=ψm. Điều này chứng minh (i). Nếu k đóng đại số, mọi phần tử của k∗ đều là lũy thừa bậc m của một phần tử của k∗, nên mọi phần tử của TQ đều là lũy thừa bậc m của một phần tử của TQ; do đó (ii) suy ra từ (i).
a) Cho φ∈TQ và cho k là một bao đóng đại số của k. Theo Bổ đề 3,φ kéo dài thành một phần tử của Hom(P(R),k∗). Theo Mệnh đề 3,
f(φ)⊗1∈ Aute(g⊗kk,h⊗kk).
Do đó f(φ)∈ Aut0(g,h), và Ker ε⊂ Aut0(g,h).
b) Ảnh của Aute(g,h) dưới ε chứa W(R) (§2, no. 2, Hệ quả của Định lý 2). Theo a), ta thấy rằng ε−1(W(R))⊂ Aut0(g,h).
c) Còn phải chứng minh rằng Aut0(g,h)⊂ε−1(W(R)). Theo b), chỉ cần chứng minh rằng ε(Aut0(g,h))∩ Aut(R,B), trong đó B chỉ một cơ sở của R, rút gọn thành {1}.
Cho s∈ Aut0(g,h) sao cho ε(s)∈ Aut(R,B). Nhóm con của A(R) được sinh bởi ε(s) có một số hữu hạn quỹ đạo trên R. Cho U là một quỹ đạo như vậy, có lực lượng r, và gU=∑β∈Ugβ. Lấy β1∈U, và đặt βi=ε(s)i−1β1 với
1≤i≤r, sao cho U={β1,...,βr}. Gọi Xβ1 là một phần tử khác không của gβ1, và đặt Xβi=si−1Xβ1 với 1≤i≤r. Tồn tại cU∈k∗ sao cho srXβ1=cUXβ1, do đó srXβi=cUXβi với mọi i, và do đó sr∣gU=cU.1. Gọi φ∈TQ, và s′=s∘f(φ), theo a) thì đó là một phần tử của Aut0(g,h). Ta có s′r∣gU=cU′.1, trong đó
cU′=cUi=1∏rφ(βi)=cUφ(i=1∑rβi)
Đặt B={α1,...,αl} và ∑i=1rβi=∑j=1lmjUαj. Vì ε(s)∈ Aut(R,B), các
mjU là những số nguyên cùng dấu và không phải tất cả đều bằng không. Ta có
cU′=cUj=1∏lφ(αj)mjU
Bây giờ có thể chọn φ sao cho cU′=1 với mọi quỹ đạo U; thật vậy, điều này quy về việc chọn các phần tử φ(α1)=t1,...,φ(αl)=tl của k∗ không bị triệt tiêu bởi một số hữu hạn đa thức theo t1,...,tl, không đồng nhất bằng không. Với một lựa chọn như vậy của φ,ε(s′)=1 theo Bổ đề 2, nên
Cho ε′,ε′′ là các hạn chế của ε lên Aut0(g,h), Aute(g,h). Cho f′ là đồng cấu từ TP đến Aute(g,h) được cảm sinh bởi f qua đơn ánh chính tắc từ Q(R) vào P(R). Trong phần trước chúng ta đã thiết lập biểu đồ giao hoán sau:
trong đó các mũi tên thẳng đứng khác q biểu thị các đơn ánh chính tắc. Ta đã thấy (Mệnh đề 2 và 4) rằng hai hàng đầu là khớp. Trong hàng thứ ba, đồng cấu ε′′ là toàn ánh (§2, no. 2, Hệ quả của Định lý 2); có thể chứng minh được rằng hạt nhân của nó là f′(TP) (§7, Bài tập 26 d)).
3. Các tự đồng cấu của một đại số Lie nửa đơn phân rã được
— Giả sử rằng g là tách được. Nhóm Aut0(g) tác động đơn bắc cầu trên tập hợp các khung của g.
Cho e1=(g,h1,B1,(Xα1)α∈B1), e2=(g,h2,B2,(Xα2)α∈B2) là hai khung của g. Tồn tại ít nhất một phần tử của Aut0(g) biến e1 thành e2 (Mệnh đề 1 và Mệnh đề 4). Cho k là một bao đóng đại số của k. Tồn tại một phần tử của Aute(g⊗kk) biến h1⊗kk thành h2⊗kk (Chương VII, §3, no. 2, Định lý 1). Do đó, theo Mệnh đề 4 và Hệ quả 2 của Mệnh đề 2, tồn tại một phần tử φ của Aute(g⊗kk) biến khung (g⊗kk,h1⊗kk,B1,(Xα1)α∈B1) của g⊗kk thành khung (g⊗kk,h2⊗kk,B2,(Xα2)α∈B2). Vì h1 và các Xα1 (tương ứng h2 và các Xα2) sinh ra g1 (tương ứng g2), ta có φ(g1)=g2, nên φ có dạng ψ⊗1 với ψ∈Aut0(g), và ψ biến e1 thành e2.
— Cho (g,h,B,(Xα)α∈B) là một sự định khung của g, và G là nhóm (đẳng cấu với Aut(R,B)) các tự đẳng cấu của g để sự định khung này bất biến. Khi đó Aut(g) là tích nửa trực tiếp của G và Aut0(g).
Thật vậy, mọi phần tử của Aut(g) biến (g,h,B,(Xα)α∈B) thành một sự định khung của g. Theo Mệnh đề 5, mỗi lớp kề của Aut(g) theo môđun Aut0(g) cắt G đúng tại một điểm.
Q.E.D.
Từ Hệ quả 1 suy ra rằng nhóm Aut(g)/Aut0(g) có thể được đồng nhất với Aut(R,B), và đẳng cấu với nhóm các tự đẳng cấu của đồ thị Dynkin của R.
Aut(g) = Aut0(g) khi g là một đại số Lie đơn phân rã được thuộc kiểu A1,Bn(n≥2), Cn(n≥2), E7,E8,F4,G2. Thương Aut(g)/Aut0(g) có cấp 2 khi g thuộc kiểu An(n≥2), Dn(n≥5), E6; nó đẳng cấu với S3 khi g thuộc kiểu D4.
Điều này suy ra từ Hệ quả 1 và Chương VI, Các bảng I đến IX.
Cho e1=(g,h1,B1,(Xα1)α∈B1),e2=(g,h2,B2,(Xα2)α∈B2), e2′=(g,h2,B2,(Yα2)α∈B2) là các khung của g, và s (resp. s′) là một phần tử của Aut0(g) biến đổi e1 thành e2 (resp. e2′). Khi đó s∣h1=s′∣h1. Thật vậy, s′−1s∈ Aut0(g,h1) và s′−1s(B1)=B1, nên ε(s′−1s)=1.
Cho X là tập hợp các cặp (h,B) trong đó h là một đại số con Cartan tách của g và B là một cơ sở của hệ nghiệm của (g,h). Nếu x=(h,B) và x′=(h′,B′) là hai phần tử của X, thì tồn tại s∈ Aut0(g) biến đổi x thành x′ (Mệnh đề 5), và hạn chế sx′,x của s trên h không phụ thuộc vào lựa chọn s (Nhận xét 1). Đặc biệt, sx′′,x′∘sx′,x=sx′′,x nếu x,x′,x′′∈X, và sx,x=1. Tập hợp các họ (hx)x∈X thỏa mãn các điều kiện
a)hx∈h nếu x=(h,B)
b)sx′,x(hx)=hx′ nếu x,x′∈X
là, một cách tự nhiên, một không gian vectơ h(g) mà đôi khi chúng tôi gọi là đại số con Cartan chính tắc của g. Với x=(h,B) và x′=(h′,B′),sx′,x biến B thành B′, và do đó biến hệ nghiệm của (g,h) thành hệ nghiệm của (g,h′); suy ra đối ngẫu h(g)∗ của h(g) được trang bị một cách tự nhiên một hệ nghiệm R(g) và một cơ sở B(g) của R(g). Đôi khi chúng tôi nói rằng R(g) là hệ nghiệm chính tắc của g và B(g) là cơ sở chính tắc của nó. Nhóm Aut(g) tác động lên h(g) và để R(g) cùng B(g) ổn định; các phần tử của Aut(g) tác động tầm thường trên h(g) là các phần tử của Aut0(g).
Cho h là một đại số con Cartan tách của g. Ta có, với các ký hiệu ở no. 1, Aut0(g)= Aute(g).Ker ε= Aute(g).f(TQ).
Theo §3, no. 3, Hệ quả của Mệnh đề 10, Aut0(g)= Aute(g).Aut0(g,h). Mặt khác, ε(Aute(g,h))⊃W(R) theo §2, no. 2, Hệ quả của Định lý 2, do đó Aut0(g,h)= Aute(g,h).Kerε.
được cảm sinh bởi biểu đồ ở no. 2, là toàn ánh. Đặc biệt, Aute(g) chứa nhóm dẫn xuất của Aut0(g); ta sẽ thấy (§11, no. 2, Mệnh đề 3) rằng thực ra chúng bằng nhau. Hơn nữa, có thể chứng minh rằng ι là đơn ánh, nói cách khác rằng f(TQ)∩ Aute(g)=f′(TP),
Cho g là một đại số Lie nửa đơn tách được, b là một đại số con Borel của g, và p1 và p2 là hai đại số con parabolic phân biệt của g chứa b. Khi đó p1 và p2 không liên hợp dưới Aut0(g).
Ta có thể giả thiết rằng k đóng đại số. Cho s∈ Aut0(g) sao cho s(p1)=p2. Gọi h là một đại số con Cartan của g được chứa trong b∩s(b)(§3, no. 3, Prop. 10). Vì h và s(h) là các đại số con Cartan của s(b), tồn tại u∈[b,b] sao cho eadu(h)=s(h) (Chap. VII, §3, no. 4, Th. 3). Thay thế s bởi e−adus, ta được quy về trường hợp s(h)=h, và khi đó s cảm sinh trên h một phần tử σ của nhóm Weyl W của (g,h) (Prop. 4). Gọi C là buồng Weyl tương ứng với b. Khi đó p1 và p2 tương ứng với các mặt F1 và F2 của hR được chứa trong bao đóng của C. Ta có σ(F1)=F2. Vì σ∈W, điều này suy ra F1=F2 (Chap. V, §3, no. 3, Th. 2) nên p1=p2.
Cho g là một đại số Lie nửa đơn phân rã được, P tập hợp các đại số con parabolic của g, một tập hợp mà trên đó Aut0(g) tác động. Giữ các ký hiệu của Nhận xét 2. Cho Σ là một tập con của B(g). Cho Σ tương đương với việc cho, với mỗi x=(h,B)∈X, một tập con Σx của B, sao cho sx′,x biến Σx thành Σx′ với mọi x,x′∈X. Gọi px là đại số con parabolic của g tương ứng với Σx (§3, no. 4, Nhận xét). Quỹ đạo của px dưới tác động của Aut0(g) là tập hợp các px′ với x′∈X. Điều này xác định một ánh xạ từ P(B(g)) tới P/Aut0(g). Ánh xạ này là toàn ánh theo Nhận xét của §3, no. 4, và đơn ánh theo Mệnh đề 7.
Gọi V là tập hợp các nội cấu của không gian vectơ g. Khi đó Aut(g) là đóng trong V đối với tôpô Zariski (Chương VII, Phụ lục I).
Gọi K là dạng Killing của g. Nếu s∈ Aut(g),
[sx,sy]=[x,y](2)
K(sx,sy)=K(x,y)(3)
với mọi x,y∈g. Ngược lại, giả sử s là một phần tử của V thỏa mãn (2) và (3) với mọi x,y∈g. Khi đó Ker(s) =0, nên s là song ánh và s∈ Aut(g). Nhưng, với mọi x,y∈g, các ánh xạ s→[sx,sy] và s→K(sx,sy) từ V tới g và k là đa thức.
(i) Nhóm f(TQ) là đóng trong Aut(g) đối với tôpô Zariski.
(ii) Nhóm f(q(TP)) là trù mật trong f(TQ) đối với tôpô Zariski.
Mệnh đề (i) suy ra từ đẳng thức f(TQ)= Aut(g,h)∩Kerε (Prop. 2). Đặt m=(P(R):Q(R)). Cho F là một hàm đa thức trên V; ta giả sử rằng F triệt tiêu trên lũy thừa bậc m của mọi phần tử của f(TQ), và chứng minh rằng F∣f(TQ)=0; theo Bổ đề 3, điều này sẽ chứng minh (ii).
Tập hợp V′ các phần tử của V cảm sinh đồng nhất trên h và để mỗi gα ổn định có thể được đồng nhất với kR. Gọi F′ là hạn chế của F lên V′=kR; đó là một hàm đa thức. Ta có f(TQ)⊂V′. Gọi B=(α1,...,αl) là một cơ sở của R. Với mọi t=(t1,...,tl)∈k∗B, gọi φ(t) là đồng cấu từ Q(R) vào nhóm k∗ kéo dài t. Khi đó F′(f(φ(t))) có thể được viết thành một tổng hữu hạn
(i) Nhóm Aute(g) trù mật trong Aut0(g) theo tôpô Zariski.
(ii) Các nhóm Aute(g) và Aut0(g) là liên thông theo tôpô Zariski.
Theo Mệnh đề 3,f(q(TP))⊂ Aute(g). Với mọi s∈ Aute(g), bao đóng của s.f(q(TP)) trong tôpô Zariski chứa s.f(TQ) theo Mệnh đề 9. Do đó bao đóng của Aute(g) chứa Aute(g).f(TQ)= Aut0(g) (Mệnh đề 6). Điều này chứng minh (i).
Cho Aute(g)=Ω∪Ω′ là một phân hoạch của Aute(g) được tạo bởi các tập con mở tương đối trong tôpô Zariski, với Ω=∅. Nếu ω∈Ω và nếu x là một phần tử lũy linh của g, ánh xạ τ:t→ω exp(t ad x) từ k vào Aute(g) là đa thức, nên liên tục trong tôpô Zariski; do đó, τ(k) là liên thông; vì ω∈τ(k), ta có τ(k)⊂Ω. Do đó, Ω.(exp ad kx)⊂Ω, nên Ω.Aute(g)⊂Ω và Ω= Aute(g). Điều này chứng minh rằng Aute(g) là liên thông. Theo (i) suy ra rằng Aut0(g) là liên thông. Q.E.D.
Ta sẽ thấy (§8, no. 4, Hệ quả của Mệnh đề 6) rằng Aut0(g) đóng trong V đối với tôpô Zariski, và rằng nó là thành phần liên thông của phần tử đơn vị của Aut(g). Mặt khác, Aute(g) nói chung không đóng đối với tôpô Zariski.
\*Giả sử rằng (g,h) là tách. Nhóm Aut0(g) là nhóm G(k) của các k-điểm của một nhóm đại số nửa đơn liên thông G có tâm tầm thường (nhóm adjoint). Nhóm f(TQ) bằng H(k), trong đó H là nhóm Cartan của G có đại số Lie h. Ảnh ngược H của H trong phủ phổ quát G của G (theo nghĩa đại số) có TP là nhóm các k-điểm của nó. Ảnh của G(k) trong G(k)= Aut0(g) là nhóm Aute(g).\*
Giả sử rằng k là R,C hoặc một trường ultrametric đầy đủ không rời rạc. Cho h là một đại số con Cartan tách của g.
(i) Aut(g,h) là một nhóm con Lie của Aut(g) với đại số Lie adh.
(ii) f(TQ) và (q∘f)(TP) là các nhóm con mở của Aut(g,h).
(iii) Aute(g) là một nhóm con mở của Aut(g).
(iv) Nếu k=R hoặc C, Aute(g) là thành phần liên thông của đơn vị của Aut(g), nói cách khác là Int(g).
Theo Chương III, §3, no. 8, Hệ quả 2 của Mệnh đề 29, và no. 10, Mệnh đề 36, Aut(g,h) là một nhóm con Lie của Aut(g) mà đại số Lie là tập hợp các ad x(x∈g) sao cho (ad x)h⊂h, nói cách khác là adh.
Cho H∈h. Tồn tại ε>0 có các tính chất sau đây: với t∈k và ∣t∣<ε, exp(tγ(H)) được xác định với mọi γ∈P(R), và ánh xạ γ→ exp(tγ(H)) là một đồng cấu σt từ P(R) vào k∗. Với ∣t∣<ε, exp(t ad H) được xác định, cảm sinh đồng nhất trên h và cảm sinh trên gα phép vị tự có tỉ số σt(α); do đó exp t ad H∈(q∘f)(TP). Điều này chứng tỏ, theo (i), rằng (q∘f)(TP) chứa một lân cận của 1 trong Aut(g,h), và do đó là một nhóm con mở của Aut(g,h). A fortiori,f(TQ) là một nhóm con mở của Aut(g,h).
Với mọi α∈R, exp ad gα⊂ Aute(g). Theo (ii), Aute(g) chứa một lân cận của 1 trong Aut(g), điều này chứng minh (iii).
Giả sử rằng k=R hoặc C. Khi đó Aute(g) được chứa trong thành phần chứa đơn vị C của Aut(g) (Chap. VII, §3, no. 1), và là mở trong Aut(g) theo (iii). Do đó Aute(g)=C. Cuối cùng, C = Int(g) theo Chap. III, §9, no. 8, Prop. 30 (i).