Bourbaki

§ 3. Các nội cấu fredholm và các nội cấu riesz

1. Các cấu xạ ngặt và các ánh xạ tuyến tính hạng hữu hạn

Mệnh đề 1 02RE

Cho E và F là các không gian lồi địa phương, E1E_1 là một không gian con đóng có đối chiều hữu hạn của E và uu là một ánh xạ tuyến tính liên tục từ E vào F. Để uu là một cấu xạ ngặt có ảnh đóng, điều kiện cần và đủ là u∣E1u|E_1 cũng như vậy.

Trước hết giả sử rằng ánh xạ tuyến tính u∣E1u|E_1 là đơn ánh. Khi đó ta có E1∩E_1\cap Ker(uu) ={0}=\{0\}, nên Ker(uu) có số chiều hữu hạn. Gọi S là một không gian con vectơ của E bổ sung với E1+E_1+ Ker(uu). Không gian E là tổng trực tiếp tôpô của E1E_1, Ker(uu) và S (EVT, I, p. 15, cor. 4 and prop. 3). Nếu uu là một cấu xạ ngặt có ảnh đóng, thì bằng hạn chế nó xác định một đẳng cấu từ E1⊕SE_1\oplus S lên một không gian con vectơ đóng của F, và a fortiori một đẳng cấu từ E1E_1 lên một không gian con vectơ đóng của F. Ngược lại, giả sử rằng bằng hạn chế uu xác định một đẳng cấu từ E1E_1 lên u(E1)u(E_1) và rằng u(E1)u(E_1) đóng trong F. Ta có u(E)=u(E1)⊕u(S)u(E) =u(E_1)\oplus u(S). Suy ra u(E)u(E) là tổng trực tiếp tôpô của u(E1)u(E_1) và uu(S), và đóng trong F (loc. cit.). Vì u(E1)u(E_1) đóng và ta có u(E1)∩u(S)={0}u(E_1)\cap u(S) =\{0\}, nên không gian u(S)u(S) là tách biệt và uu xác định bằng hạn chế một đẳng cấu từ S lên u(S)u(S) (EVT, I, p. 15, cor. de la prop. 3), do đó cũng từ E1⊕SE_1\oplus S lên u(E)u(E). Điều này chứng minh rằng uu là một cấu xạ ngặt có ảnh đóng.

Chuyển qua trường hợp tổng quát. Đặt N=E1∩N = E_1\cap Ker(uu) và G=E/NG = E/N. Không gian lồi địa phương E1/NE_1/N được đồng nhất với một không gian con vectơ đóng có đối chiều hữu hạn G1G_1 của G. Gọi v:G→Fv: G\rightarrow F là ánh xạ tuyến tính liên tục suy ra từ uu bằng cách chuyển qua thương. Để uu (tương ứng, u∣E1u|E_1) là một cấu xạ ngặt có ảnh đóng, điều kiện cần và đủ là vv (tương ứng, v∣G1v|G_1) cũng như vậy. Điều này quy về trường hợp đã xét.

Hệ quả 1 02RF

Giả sử rằng F là tách biệt. Cho v∈Lf(E;F)v\in \mathscr{L}^f(E; F). Nếu uu là một cấu xạ ngặt có ảnh đóng từ E vào F, thì u+vu+v cũng vậy.

Vì F là tách biệt, hạt nhân của vv là một không gian con vectơ đóng của E; nó có đối chiều hữu hạn trong E và u+vu+v có cùng hạn chế như uu trên Ker(vv). Do đó hệ quả suy ra từ mệnh đề.

Hệ quả 2 02RG

Cho T là một không gian con vectơ tách biệt có số chiều hữu hạn của F. Gọi π:F→F/T\pi : F\rightarrow F/T là toàn cấu chính tắc. Để uu là một cấu xạ ngặt có ảnh đóng, điều kiện cần và đủ là π∘u\pi \circ u cũng như vậy.

Ánh xạ đồng nhất của T vào chính nó kéo dài thành một ánh xạ liên tục q:F→Tq: F\rightarrow T (EVT, II, p. 26, nhận xét). Hạt nhân S của qq là một không gian con bù tôpô đóng của T. Gọi p:F→Fp: F\rightarrow F là phép chiếu có ảnh là S liên kết với phân tích F=T⊕SF = T\oplus S. Để π∘u\pi \circ u là một cấu xạ ngặt có ảnh đóng, điều kiện cần và đủ là p∘up\circ u có tính chất đó. Bây giờ p∘up\circ u và uu có cùng hạn chế trên u−1\overset{-1}{u}(S), là một không gian con vectơ đóng đối chiều hữu hạn của E, và mệnh đề suy ra từ mệnh đề.

2. Ánh xạ Fredholm

Cho E và F là các không gian lồi địa phương. Trong số này, ta ký hiệu bởi u≡vu\equiv v quan hệ đồng dư modulo Lf(E;F)\mathscr{L}^f(E; F) của các phần tử uu và vv của L(E;F)\mathscr{L}(E; F).

Nếu G là một không gian lồi địa phương, và nếu u′u' và v′v' là các phần tử của L(F;G)\mathscr{L}(F; G), thì các quan hệ u≡vu\equiv v và u′≡v′u'\equiv v' suy ra quan hệ u′∘u≡v′∘vu'\circ u\equiv v'\circ v.

Một phần tử ww của L(F;E)\mathscr{L}(F; E) được gọi là một nghịch đảo giả của phần tử uu của L(E;F)\mathscr{L}(E; F) nếu ta có w∘u≡1Ew\circ u\equiv 1_E và u∘w≡1Fu\circ w\equiv 1_F.

Giả sử rằng ww là một nghịch đảo giả của uu. Nếu u1u_1 là một phần tử của L(E;F)\mathscr{L}(E; F) và w1w_1 là một phần tử của L(F;E)\mathscr{L}(F; E) sao cho u1≡uu_1\equiv u và w1≡ww_1\equiv w, thì w1w_1 là một nghịch đảo giả của u1u_1 vì w∘u≡w1∘u1w\circ u\equiv w_1\circ u_1 và u∘w≡u1∘w1u\circ w\equiv u_1\circ w_1.

Nếu ww và w1w_1 là các nghịch đảo giả của uu, thì w1≡ww_1\equiv w vì

w1=1E∘w1≡w∘u∘w1≡w∘1F=w w_1= 1_E\circ w_1\equiv w\circ u\circ w_1\equiv w\circ 1_F=w

Định nghĩa 1 02RH

Cho E và F là các không gian lồi địa phương. Một phần tử uu của L(E;F)\mathscr{L}(E; F) được gọi là một ánh xạ Fredholm[^1] nếu nó có một nghịch đảo giả. Một ánh xạ Fredholm từ E vào E được gọi là một tự đồng cấu Fredholm của E.

Ta sẽ ký hiệu bởi F(E;F)\mathscr{F}(E; F) tập hợp các ánh xạ Fredholm từ E vào F, và bởi F(E)\mathscr{F}(E) tập hợp các tự đồng cấu Fredholm của E.

Nhận xét 02RI

Cho E, F và G là các không gian lồi địa phương, u:E→Fu: E\rightarrow F và v:F→Gv: F\rightarrow G là các ánh xạ tuyến tính liên tục.

1) Giả sử rằng uu là một ánh xạ Fredholm và gọi u1u_1 là một nghịch đảo giả của uu. Vì uu là một nghịch đảo giả của u1u_1, ánh xạ u1u_1 là một ánh xạ Fredholm.

2) Giả sử rằng uu và vv là các ánh xạ Fredholm, và gọi u1u_1 (tương ứng v1v_1) là một nghịch đảo giả của uu (tương ứng của vv). Khi đó v∘uv\circ u là một ánh xạ Fredholm từ E vào G và u1∘v1u_1\circ v_1 là một nghịch đảo giả của v∘uv\circ u. Thật vậy, ta tính được

(u1∘v1)∘(v∘u)=u1∘(v1∘v)∘u≡u1∘1F∘u=u1∘u≡1E (u_1\circ v_1)\circ (v\circ u) =u_1\circ (v_1\circ v)\circ u\equiv u_1\circ 1_F\circ u=u_1\circ u\equiv 1_E
(v∘u)∘(u1∘v1)=v∘(u∘u1)∘v1≡v∘1F∘v1=v∘v1≡1G (v\circ u)\circ (u_1\circ v_1) =v\circ (u\circ u_1)\circ v_1\equiv v\circ 1_F\circ v_1=v\circ v_1\equiv 1_G

3) Giả sử rằng uu và v∘uv\circ u là các ánh xạ Fredholm, và gọi w1w_1 là một nghịch đảo giả của v∘uv\circ u. Khi đó vv là một ánh xạ Fredholm và u∘w1u\circ w_1 là một nghịch đảo giả của vv.

Thật vậy, theo nhận xét thứ nhất, w1w_1 là một ánh xạ Fredholm. Gọi u1u_1 là một nghịch đảo giả của uu; theo nhận xét thứ hai, u∘w1u\circ w_1 là một ánh xạ Fredholm và (v∘u)∘u1(v\circ u)\circ u_1 là một nghịch đảo giả của nó. Ta có u∘u1≡1Fu\circ u_1\equiv 1_F, do đó v∘u∘u1≡vv\circ u\circ u_1\equiv v; điều này chứng minh mệnh đề.

4) Giả sử rằng vv và v∘uv\circ u là các ánh xạ Fredholm, và gọi w1w_1 là một nghịch đảo giả của v∘uv\circ u. Khi đó uu là một ánh xạ Fredholm và w1∘vw_1\circ v là một nghịch đảo giả của uu.

Chứng minh là tương tự như chứng minh của nhận xét trước.

Bổ đề 1 02RJ

Cho E và F là các không gian lồi địa phương và gọi uu là một ánh xạ Fredholm từ E vào F. Hạt nhân và đối hạt nhân của uu có chiều hữu hạn.

Gọi v:F→Ev: F\rightarrow E là một nghịch đảo giả của uu. Hạt nhân của uu được chứa trong ảnh của ánh xạ tuyến tính hạng hữu hạn 1E−v∘u1_E-v\circ u, vì thế có chiều hữu hạn. Ảnh của uu chứa hạt nhân của ánh xạ tuyến tính hạng hữu hạn 1F−u∘v1_F-u\circ v, vì thế có đối chiều hữu hạn trong F.

Mệnh đề 2 02RK

Cho E và F là các không gian lồi địa phương tách được và gọi uu là một phần tử của L(E;F)\mathscr{L}(E; F). Các tính chất sau là tương đương:

(i) Ánh xạ uu là một ánh xạ Fredholm;

(ii) Ánh xạ uu là một cấu xạ ngặt, hạt nhân của nó có chiều hữu hạn, ảnh của nó đóng và có đối chiều hữu hạn trong F ;

(iii) Tồn tại các không gian con vectơ đóng đối chiều hữu hạn E1E_1 của E và F1F_1 của F sao cho uu xác định, bằng cách chuyển qua các không gian con, một đẳng cấu của E1E_1 lên F1F_1;

(iv) Tồn tại các phân tích thành tổng trực tiếp tôpô E=E1⊕E2E = E_1\oplus E_2 và F=F1⊕F2F = F_1\oplus F_2 sao cho E2E_2 và F2F_2 có chiều hữu hạn, uu triệt tiêu trên E2E_2 và xác định, bằng cách chuyển qua các không gian con, một đẳng cấu của E1E_1 lên F1F_1.

(i) =⇒=\Rightarrow (iii): Cho vv là một nghịch đảo giả của u,E1u, E_1 là hạt nhân của 1E−v∘u1_E-v\circ u và F1F_1 là hạt nhân của 1F−u∘v1_F-u\circ v. Vì các ánh xạ tuyến tính 1E−v∘u1_E-v\circ u và 1F−u∘v1_F-u\circ v là liên tục và có hạng hữu hạn, nên E1E_1 và F1F_1 lần lượt là các không gian con vectơ đóng của E và F và có đối chiều hữu hạn. Cho x∈E1x\in E_1. Ta có

(1F−u∘v)(u(x))=u((1E−v∘u)(x))=u(0)=0 (1_F-u\circ v)(u(x)) =u((1_E-v\circ u)(x)) =u(0) = 0

do đó u(x)∈F1u(x)\in F_1. Vì vậy u(E1)⊂F1u(E_1)\subset F_1; tương tự, v(F1)⊂E1v(F_1)\subset E_1. Khi đó các ánh xạ tuyến tính liên tục u1:E1→F1u_1: E_1\rightarrow F_1 và v1:F1→E1v_1: F_1\rightarrow E_1 cảm sinh bởi uu và vv là các đẳng cấu nghịch đảo của nhau, vì v∘uv\circ u và 1E1_E (resp. u∘vu\circ v và 1F1_F) trùng nhau trên E1E_1 (resp. trên F1F_1).

(iii) =⇒=\Rightarrow (ii): Cho E1E_1 và F1F_1 thỏa mãn giả thiết của (iii). Ta có E1∩E_1\cap Ker(uu) ={0}=\{0\} và F1⊂F_1\subset Im(uu), do đó Ker(uu) hữu hạn chiều và Im(uu) đóng và có đối chiều hữu hạn trong F. Suy ra từ Mệnh đề 1 của III, p. 39 rằng ánh xạ uu là một cấu xạ ngặt.

(ii) =⇒=\Rightarrow (iv): Giả sử điều kiện (ii) được thỏa mãn. Không gian con vectơ đóng E2=E_2= Ker(uu) của E là hữu hạn chiều, và tồn tại một không gian con vectơ E1E_1 của E là một phần bù tôpô của E2E_2 (TVS, II, p. 27, Hệ quả 2). Không gian con vectơ F1=F_1= Im(uu) của F là đóng và có đối chiều hữu hạn, và nhận một phần bù tôpô F2F_2 trong F. Theo Mệnh đề 1 của III, p. 39, ánh xạ u∣E1u|E_1 là một cấu xạ ngặt, do đó uu cảm sinh một đẳng cấu của E1E_1 lên F1F_1.

(iv) =⇒=\Rightarrow (i): Với các giả thiết của (iv), ánh xạ tuyến tính từ F vào E trùng với u1−1u^{-1}_1 trên F1F_1 và bằng không trên F2F_2 là một nghịch đảo giả của uu.

Nhận xét 5 02RL

Cho E, F là các không gian lồi địa phương tách được và u:E→Fu: E\rightarrow F là một ánh xạ Fredholm. Nếu uu là song ánh, thì uu là một đẳng cấu (thực vậy, uu là một cấu xạ ngặt theo Mệnh đề 2, (ii)).

3. Chỉ số của một Ánh xạ Fredholm

Cho E, F và G là các không gian lồi địa phương.

Cho u:E→Fu: E\rightarrow F là một ánh xạ Fredholm. Các không gian vectơ Ker(uu) và Coker(uu) là hữu hạn chiều (Bổ đề 1 của III, p. 41). Nhớ lại rằng số nguyên

(1) dim Coker(uu)−- dim Ker(uu) == codimF_F Im(uu)−- dim Ker(uu)

được gọi là chỉ số của uu và được ký hiệu là ind(uu) (A, V, p. 126).

Nếu u:E→Fu: E\rightarrow F và v:F→Gv: F\rightarrow G là các ánh xạ Fredholm, thì điều đó cũng đúng với v∘u(v\circ u(III, p. 41, nhận xét 2), và ta có (A, V, p. 127, bổ đề 2)

(2) ind(v∘uv\circ u) == ind(vv) ++ ind(uu).

Giả sử E và F tách biệt và u:E→u: E\rightarrow F là một ánh xạ Fredholm; dùng các ký hiệu của điều kiện (iv) của mệnh đề 2 ở III, p. 42. Khi đó ta có ind(uu) == dim(F2_2)−- dim(E2_2). Trang bị đối ngẫu của mỗi không gian này với tôpô yếu (tương ứng, tôpô compact, tôpô hội tụ đều trên các tập bị chặn). Khi đó E′E' được đồng nhất với tổng trực tiếp tôpô của E1′E'_1 và E2′E'_2, và F′F' với tổng trực tiếp tôpô của F1′F'_1 và F2′F'_2, và tu^tu gây ra một đẳng cấu của F1′F'_1 lên E1′E'_1 và triệt tiêu trên F2′F'_2. Do đó chuyển vị tu:F′→E′^tu: F'\rightarrow E' là một ánh xạ Fredholm (loc. cit.). Hạt nhân của tu^tu là F2′F'_2, và chiều của nó là chiều của F2F_2, nghĩa là chiều của đối hạt nhân của uu. Vậy

(3) ind(uu) == dim Ker(tu^tu)−- dim Ker(uu). Hơn nữa, ảnh của tu^tu là E1′E'_1, và do đó chiều của đối hạt nhân của tu^tu bằng chiều của E2′E'_2, tức là chiều của hạt nhân E2E_2 của uu. Ta suy ra

(4) ind(tu^tu) =−=- ind(uu).

Giả sử E và F tách biệt và u:E→u: E\rightarrow F là một ánh xạ Fredholm có chỉ số 0. Khi đó uu là một cấu xạ ngặt theo mệnh đề 2 của III, p. 42. Vì dim Ker(uu) == codimF_F Im(uu), ánh xạ uu là một đẳng cấu ngay khi nó là đơn ánh hoặc toàn ánh.

Mệnh đề 3 02RM

Cho E và F là các không gian lồi địa phương và u∈L(E;F)u\in \mathscr{L}(E; F). Gọi E1(E_1(tương ứng F1)F_1) là một không gian con đóng có đối chiều hữu hạn của E (tương ứng của F). Giả sử rằng uu ánh xạ E1E_1 vào F1F_1 và ký hiệu bởi u1∈L(E1;F1)u_1\in \mathscr{L}(E_1; F_1) ánh xạ trùng với uu trên E1E_1. Để uu là một ánh xạ Fredholm, điều kiện cần và đủ là u1u_1 là như vậy. Khi đó ta có

(5) ind(uu)−- ind(u1u_1) == codimF(F1)−_F(F_1)- codimE(E1)_E(E_1).

Gọi i:E1→Ei: E_1\rightarrow E và j:F1→Fj: F_1\rightarrow F là các đơn ánh chính tắc. Chúng là các ánh xạ Fredholm, và ta có

ind(ii) == codimE(E1)_E(E_1), ind(jj) == codimF(F1)_F(F_1).

Vì j∘u1=u∘ij\circ u_1=u\circ i, ta thấy rằng uu là một ánh xạ Fredholm khi và chỉ khi u1u_1 là như vậy (Nhận xét 3 và 4 của III, p. 41). Nếu đúng như thế, ta có

ind(jj) ++ ind(u1u_1) == ind(j∘u1j\circ u_1) == ind(u∘iu\circ i) == ind(uu) ++ ind(ii),

do đó có công thức (5).

Mệnh đề 4 02RN

Cho E và F là các không gian lồi địa phương tách được, u:E→Fu: E\rightarrow F là một ánh xạ Fredholm, và u^:E^→F^\widehat{u}:\widehat{E}\rightarrow \widehat{F} là mở rộng của uu lên các đầy đủ hóa. Khi đó u^\widehat{u} là một ánh xạ Fredholm và ta có Ker(u^\widehat{u}) == Ker(uu) và ind(u^\widehat{u}) == ind(uu).

Chúng ta dùng ký hiệu của điều kiện (iv) của Mệnh đề 2 của III, p. 42. Vì các không gian vectơ E2E_2 và F2F_2 là hữu hạn chiều nên chúng đầy đủ. Bổ sung của E1E_1 (resp. F1F_1) được đồng nhất với bao đóng của E1E_1 trong E^\widehat{E} (resp. của F1F_1 trong F^\widehat{F}), và E^\widehat{E} (resp. F^\widehat{F}) là tổng trực tiếp tôpô của E^1\widehat{E}_1 và E2E_2 (resp. F^1\widehat{F}_1 và F2F_2). Ánh xạ tuyến tính u^\widehat{u} xác định, bằng hạn chế, một đẳng cấu từ E^1\widehat{E}_1 lên F^1\widehat{F}_1 và triệt tiêu trên E2E_2. Khi đó mệnh đề suy ra từ hệ quả (iv)⇒\Rightarrow(i) của chỗ đã dẫn.

4. Các Tự Đồng Cấu Riesz

Cho E là một không gian vectơ và uu là một tự đồng cấu của E.

Dãy (Ker(unu^n))n∈N_{n\in\mathbf{N}} các không gian con vectơ của E là tăng; hợp của chúng là một không gian con của E ổn định dưới uu và được gọi là không gian lũy linh của uu.

Dãy (Im(unu^n))n∈N_{n\in\mathbf{N}} các không gian con vectơ của E là giảm; giao của chúng là một không gian con của E ổn định dưới uu và được gọi là đối không gian lũy linh của uu.

Bổ đề 2 02RO

Cho E là một không gian vectơ và uu là một tự đồng cấu của E có một chỉ số (A, V, p. 126).

Nếu hai trong ba tính chất sau được thỏa mãn thì tính chất thứ ba cũng được thỏa mãn:

(i) Tự đồng cấu uu có chỉ số bằng 0;

(ii) Không gian lũy linh N của uu là hữu hạn chiều;

(iii) Đối không gian lũy linh I của uu có đối chiều hữu hạn.

Với mọi số nguyên n⩾0n\geqslant 0, tự đồng cấu unu^n có một chỉ số, bằng nn ind(uu) (A, V, p. 127, Bổ đề 2). Dãy (dim(Ker(unu^n)))n∈N_{n\in\mathbf{N}} các số nguyên tự nhiên là tăng; để nó dừng, điều kiện cần và đủ là không gian lũy linh của uu hữu hạn chiều. Dãy (codimE_E(Im(unu^n)))n∈N_{n\in\mathbf{N}} các số nguyên tự nhiên là tăng; để nó dừng, điều kiện cần và đủ là đối không gian lũy linh có số chiều hữu hạn. Giả sử điều kiện (i) được thỏa mãn; khi đó quan hệ

dim(Ker(unu^n))−- codimE_E(Im(unu^n)) == ind(unu^n) =n=n ind(uu) =0= 0

suy ra tính tương đương của các điều kiện (ii) và (iii). Ngược lại, nếu các điều kiện (ii) và (iii) được thỏa mãn thì công thức này suy ra rằng dãy (n(n ind(uu))n∈N_{n\in\mathbf{N}} là dừng, do đó uu có chỉ số bằng không.

Bổ đề 3 02RP

Cho E là một không gian vectơ và uu là một tự đồng cấu của E có một chỉ số. Giả sử rằng chỉ số của uu bằng không. Gọi N là không gian lũy linh của uu và I là đối không gian lũy linh của nó.

a) Khi đó không gian E là tổng trực tiếp của các không gian con N và I (phân rã Weyr-Fitting, cf. A, VIII, §2, no2^o2, p. 25).

b) Tự đồng cấu uu cảm sinh, khi chuyển qua các không gian con, một tự đồng cấu lũy linh của N và một tự đẳng cấu uIu_I của I.

c) Ký hiệu vv là tự đồng cấu của E bằng không trên N và trùng với uI−1u^{-1}_I trên I. Ta có u∘v=v∘uu\circ v=v\circ u và tự đồng cấu 1E−u∘v1_E-u\circ v là phép chiếu có ảnh là N và hạt nhân là I.

d) Mọi tự đồng cấu của E giao hoán với uu đều bảo toàn N và I, và giao hoán với vv.

Tự đồng cấu uu thỏa mãn các tính chất của bổ đề trước.

Lấy n∈Nn\in \mathbf{N} sao cho Ker(unu^n) =N= N. Khi đó Ker(umu^m) == Ker(unu^n) với mọi số nguyên m⩾nm\geqslant n; vì ind(umu^m) =m=m ind(uu) =0= 0, điều này kéo theo Im(umu^m) == Im(unu^n) với m⩾nm\geqslant n, do đó I = Im(unu^n). Từ A, VIII, p. 25, prop. 2 suy ra rằng các khẳng định a) và b) được thỏa mãn.

Với mọi x∈Nx\in N, ta có v(x)=0v(x) = 0 và u(x)∈Nu(x)\in N, do đó u(v(x))=0u(v(x)) = 0 và v(u(x))=0v(u(x)) = 0. Với mọi x∈Ix\in I, ta có u(v(x))=v(u(x))=xu(v(x)) =v(u(x)) =x. Điều này suy ra u∘v=v∘uu\circ v=v\circ u và 1E−u∘v1_E-u\circ v là phép chiếu có ảnh là N và hạt nhân là I.

Cho ww là một tự đồng cấu của E giao hoán với uu. Lấy n∈Nn\in \mathbf{N} sao cho N = Ker(unu^n) và I = Im(unu^n). Cho x∈Nx\in N; ta có un(w(x))=w(un(x))=0u^n(w(x)) =w(u^n(x)) = 0, do đó w(x)∈Nw(x)\in N. Cho x∈Ix\in I; tồn tại y∈Ey\in E sao cho x=un(y)x=u^n(y); khi đó, w(x)=w(un(y))=un(w(y))∈Iw(x) =w(u^n(y)) =u^n(w(y))\in I. Điều này chứng tỏ rằng ww bảo toàn N và I.

Cuối cùng, ta chứng minh rằng ww và vv giao hoán được. Với mọi xx trong N, ta có v(w(x))=0=w(v(x))v(w(x)) = 0 =w(v(x)). Cho x∈Ix\in I; các phần tử v(w(x))v(w(x)) và w(v(x))w(v(x)) của E thuộc I và ảnh của chúng qua uu đều bằng w(x)w(x), do đó chúng bằng nhau. Theo tính tuyến tính, điều này suy ra rằng vv và ww giao hoán.

Nhận xét 02RQ

Giả sử tồn tại một số nguyên n⩾0n\geqslant 0 sao cho Ker(unu^n) == Ker(un+1u^{n+1}) (resp. Im(unu^n) == Im(un+1u^{n+1})); khi đó có Ker(umu^m) == Ker(unu^n) (resp. Im(umu^m) == Im(unu^n)) với mọi số nguyên m⩾nm\geqslant n.

Giả sử uu có chỉ số không. Với mọi số nguyên n⩾0n\geqslant 0, ta có

nn ind(uu) == ind(unu^n) == codimE_E(Im(unu^n))−- dim(Ker(unu^n)).

Do đó các điều kiện Ker(unu^n) == Ker(un+1u^{n+1}) và Im(unu^n) == Im(un+1u^{n+1}) là tương đương. Khi các điều kiện ấy được thỏa mãn, không gian vectơ E là tổng trực tiếp của Ker(unu^n) và của Im(unu^n) (A, VIII, p. 25, mệnh đề 2), không gian Ker(unu^n) là hữu hạn chiều, và uu gây ra, bằng cách chuyển qua không gian con, một tự đẳng cấu của Im(unu^n).

Định nghĩa 2 02RR

Cho E là một không gian lồi địa phương tách rời. Một tự đồng cấu Riesz của E có nghĩa là mọi tự đồng cấu Fredholm của E mà không gian không hóa là hữu hạn chiều và đối không gian không hóa là đối chiều hữu hạn.

Mệnh đề 5 02RS

Cho E là một không gian lồi địa phương tách rời. Mọi tự đồng cấu Riesz của E đều có chỉ số không.

Điều này suy ra từ định nghĩa và bổ đề 2.

Ví dụ 1 02RT

Mọi tự đẳng cấu của E đều là một tự đồng cấu Riesz của E. Nếu E là hữu hạn chiều, mọi phần tử của L(E)\mathscr{L}(E) đều là một tự đồng cấu Riesz của E.

Ví dụ 2 02RU

Nếu (Ei)i∈I(E_i)_{i\in I} là một họ hữu hạn các không gian lồi địa phương tách rời và uiu_i là một phần tử của L(Ei)\mathscr{L}(E_i) với mọi ii trong I, thì tự đồng cấu u=⨁i∈Iuiu=\bigoplus_{i\in I}u_i của không gian lồi địa phương ⨁i∈IEi\bigoplus_{i\in I}E_i là một tự đồng cấu Riesz khi và chỉ khi uiu_i là như vậy với mọi ii.

Ví dụ 3 02RV

Cho E là một không gian lồi địa phương tách rời trên R\mathbf{R}, và gọi E(C)E_{(\mathbf{C})} là phức hóa của nó. Cho uu là một tự đồng cấu của E. Để uu là một tự đồng cấu Riesz, điều cần và đủ là phức hóa của nó u(C)u_{(\mathbf{C})} là một tự đồng cấu Riesz của E(C)E_{(\mathbf{C})}.

Mệnh đề 6 02RW

Cho E là một không gian lồi địa phương tách rời và gọi uu là một tự đồng cấu Riesz của E. Gọi N là không gian không hóa của uu và I là đối không gian không hóa của nó.

a) Các không gian con N và I của E là đóng và ổn định dưới uu, và không gian E là tổng trực tiếp tôpô của chúng;

b) Tự đồng cấu uu xác định, bằng hạn chế, một tự đẳng cấu uIu_I của I;

c) Không gian vectơ N là hữu hạn chiều và uu xác định, bằng hạn chế, một tự đồng cấu lũy linh uNu_N của N;

d) Cho vv là phần tử của L(E)\mathscr{L}(E) bằng không trên N và trùng với uI−1u^{-1}_I trên I. Nó là một tự đồng cấu Riesz của E và một nghịch đảo giả của uu giao hoán với uu. Tự đồng cấu 1E−u∘v1_E-u\circ v của E là phép chiếu có ảnh là N và hạt nhân là I. Mọi phần tử của L(E)\mathscr{L}(E) giao hoán với uu đều ổn định hóa N và I, và giao hoán với vv.

Cho nn là một số tự nhiên sao cho Ker(unu^n) =N= N và Im(unu^n) =I= I. Vì E tách và uu liên tục, N = Ker(unu^n) là đóng trong E. Vì uu là một tự đồng cấu Fredholm, điều này cũng đúng với unu^n, và I = Im(unu^n) là đóng (III, p. 42, mệnh đề 2). Theo bổ đề 2, không gian E là tổng trực tiếp của N và I và khi đó mệnh đề a) suy ra từ mệnh đề 3 của EVT, I, p. 15.

Vì I đóng, có đối chiều hữu hạn trong E và ổn định dưới uu, ánh xạ uI:I→Iu_I: I\rightarrow I suy ra từ uu là một tự đồng cấu Fredholm (III, p. 44, mệnh đề 3); nó cũng song ánh, nên là một tự đẳng cấu của I (III, p. 42, mệnh đề 2). Điều này chứng minh b), và các khẳng định còn lại suy ra từ bổ đề 2.

Tự đồng cấu vv được định nghĩa trong mệnh đề d) của mệnh đề này là một nghịch đảo giả của uu, được gọi là nghịch đảo giả chính tắc của uu.

Các tự đồng cấu Riesz có một số tính chất ổn định của các ánh xạ Fredholm.

Mệnh đề 7 02RX

Cho E là một không gian lồi địa phương tách và cho uu là một tự đồng cấu của E.

a) Cho E1E_1 là một không gian con đóng có đối chiều hữu hạn của E, ổn định dưới uu. Ký hiệu u1u_1 là phần tử của L(E1)\mathscr{L}(E_1) trùng với uu trên E1E_1. Khi đó uu là một tự đồng cấu Riesz nếu và chỉ nếu u1u_1 là một tự đồng cấu như vậy;

b) Giả sử rằng uu là một tự đồng cấu Fredholm có chỉ số 0. Cho E^\widehat{E} là hoàn thành của E và cho u^∈L(E^)\widehat{u}\in \mathscr{L}(\widehat{E}) là mở rộng của uu bằng tính liên tục. Khi đó uu là một tự đồng cấu Riesz nếu và chỉ nếu u^\widehat{u} là một tự đồng cấu như vậy;

c) Trang bị cho đối ngẫu E′E' của E tôpô hội tụ bị chặn, tôpô hội tụ compắc, hoặc tôpô yếu. Nếu uu là một tự đồng cấu Riesz của E, thì tu^tu là một tự đồng cấu Riesz của E′E'.

a) Để uu là một tự đồng cấu Fredholm có chỉ số không, điều kiện cần và đủ là u1u_1 cũng như vậy (III, p. 44, mệnh đề 3). Mặt khác, với mọi n∈Nn\in \mathbf{N}, ta có Ker(u1nu^n_1) =E1∩= E_1\cap Ker(unu^n), do đó

dim Ker(u1nu^n_1)⩽\leqslant dim Ker(unu^n)⩽\leqslant dim Ker(u1nu^n_1) ++ codimE(E1)_E(E_1),

do đó dãy (dim Ker(unu^n))n∈N_{n\in\mathbf{N}} bị chặn nếu và chỉ nếu dãy (dim Ker(u1nu^n_1))n∈N_{n\in\mathbf{N}} bị chặn. Suy ra, uu là một tự đồng cấu Riesz của E nếu và chỉ nếu u1u_1 là một tự đồng cấu Riesz của E1E_1 (bổ đề 2).

b) Theo mệnh đề 4 của III, p. 44, với mọi n∈Nn\in \mathbf{N}, ánh xạ u^n\widehat{u}^n là một tự đồng cấu Fredholm của E^\widehat{E} sao cho Ker(u^n\widehat{u}^n) == Ker(unu^n) và ind(u^n\widehat{u}^n) == ind(unu^n) =n=n ind(uu). Suy ra, uu là một tự đồng cấu Riesz nếu và chỉ nếu u^\widehat{u} là một tự đồng cấu Riesz.

c) Chuyển vị tu^tu là một tự đồng cấu Fredholm có chỉ số 0 của E′(E'(III, p. 43, no3^o3). Vì hạt nhân của (tu)n(^tu)^n là trực giao của ảnh của unu^n (EVT, IV, p. 27, mệnh đề 2), dãy (Ker(tu^tu)n^n)n_n là dừng. Điều này chứng minh rằng tu^tu là một tự đồng cấu Riesz của E′E'.

Mệnh đề 8 02RY

Cho E là một không gian lồi địa phương tách và uu một tự đồng cấu của E. Các điều kiện sau là tương đương:

(i) uu là một tự đồng cấu Riesz của E;

(ii) Tồn tại một nghịch đảo giả vv của uu giao hoán với uu;

(iii) Tồn tại một không gian con vectơ đóng E1E_1 của E, đối chiều hữu hạn, ổn định dưới tác dụng của uu, sao cho uu cảm sinh một tự đẳng cấu của E1E_1.

Hàm ý (i) =⇒=\Rightarrow (ii) suy ra từ mệnh đề 6, d).

Giả sử rằng uu có một nghịch đảo giả vv khả hoán với uu. Hạt nhân E1E_1 của 1E−u∘v1_E-u\circ v là một không gian con vectơ đóng của E, đối chiều hữu hạn, ổn định dưới tác dụng của uu và vv. Vì ta có u(v(x))=v(u(x))=xu(v(x)) =v(u(x)) =x với mọi x∈E1x\in E_1, các ánh xạ uu và vv cảm sinh các tự đẳng cấu của E1E_1 nghịch đảo với nhau. Do đó (ii) suy ra (iii).

Cuối cùng, hàm ý (iii) =⇒=\Rightarrow (i) suy ra từ mệnh đề a) của mệnh đề 7 và từ việc một tự đẳng cấu là một tự đồng cấu Riesz.

Mệnh đề 9 02RZ

Cho E là một không gian lồi địa phương tách và cho u,vu,v là các phần tử khả hoán của L(E)\mathscr{L}(E). Các điều kiện sau là tương đương:

(i) Các tự đồng cấu uu và vv là các tự đồng cấu Riesz;

(ii) Tự đồng cấu u∘vu\circ v là một tự đồng cấu Riesz.

Giả sử uu và vv là các tự đồng cấu Riesz; gọi u′u' và v′v' là các nghịch đảo giả chính tắc của chúng. Các tự đồng cấu u,v,u′u,v,u' và v′v' của E giao hoán (mệnh đề 6, d)). Tự đồng cấu v′∘u′v'\circ u' là một nghịch đảo giả của u∘vu\circ v và giao hoán với u∘vu\circ v, do đó u∘vu\circ v là một tự đồng cấu Riesz (mệnh đề 8).

Ngược lại, giả sử u∘vu\circ v là một tự đồng cấu Riesz, và gọi ww là nghịch đảo giả chính tắc của nó. Vì uu giao hoán với u∘vu\circ v, các tự đồng cấu uu và ww giao hoán theo mệnh đề 6, d). Tương tự vv và ww giao hoán. Do đó các tự đồng cấu u,vu,v và ww của E giao hoán; suy ra tự đồng cấu v∘wv\circ w của E là một nghịch đảo giả của uu và w∘uw\circ u là một nghịch đảo giả của vv. Theo mệnh đề 8,u,u và vv là các tự đồng cấu Riesz.

Cho uu là một tự đồng cấu Riesz của E. Nếu vv là một tự đẳng cấu của E, thì tự đồng cấu u∘vu\circ v của E không nhất thiết là một tự đồng cấu Riesz của E, ngay cả khi u∘v−v∘uu\circ v-v\circ u có hạng hữu hạn. Nếu hh là một tự đồng cấu hạng hữu hạn của E, thì tự đồng cấu u+hu+h không nhất thiết là một tự đồng cấu Riesz (xem III, p. 120, bài tập 3).

Mệnh đề 10 02S0

Cho E và F là các không gian lồi địa phương, p∈L(E;F)p\in \mathscr{L}(E; F) và q∈L(F;E)q\in \mathscr{L}(F; E). Đặt u=1E−q∘pu= 1_E-q\circ p và v=1F−p∘qv= 1_F-p\circ q.

a) Cho n∈Nn\in \mathbf{N}. Ánh xạ pp xác định bằng hạn chế một đẳng cấu của các không gian vectơ tôpô từ Ker(unu^n) lên Ker(vnv^n) và xác định, bằng cách chuyển qua các thương, một đẳng cấu của các không gian vectơ tôpô từ Coker(unu^n) lên Coker(vnv^n);

b) Nếu ảnh của uu đóng trong E, thì ảnh của vv đóng trong F;

c) Nếu Ker(uu) có một phần bù tôpô trong E, thì Ker(vv) có một phần bù như vậy trong F. Nếu Im(uu) có một phần bù tôpô trong E, thì Im(vv) có một phần bù như vậy trong F;

d) Nếu uu là một cấu xạ ngặt, thì vv là một cấu xạ ngặt;

e) Nếu uu là một tự đẳng cấu của E, thì vv là một tự đẳng cấu của F;

f) Nếu uu là một tự đồng cấu Fredholm của E, thì vv là một tự đồng cấu Fredholm của F, và ta có ind(uu) == ind(vv);

g) Giả sử E và F tách được. Nếu uu là một tự đồng cấu Riesz của E, thì vv là một tự đồng cấu Riesz của F.

Trước hết, hãy chú ý các công thức

q∘v=u∘q,v∘p=p∘u(6) q\circ v=u\circ q,v\circ p=p\circ u \tag{6}

Sau đó ta chứng minh hai bổ đề.

Bổ đề 4 02S1

Cho n∈Nn\in \mathbf{N}. Đặt

ni−1(n)i−1ni-1(n)i-1

qn=∑(−1)q∘(p∘q)q_n=\sum(-1)q\circ (p\circ q).

i i
i=1i=1

Ta có un=1E−qn∘pu^n= 1_E-q_n\circ p và vn=1F−p∘qnv^n= 1_F-p\circ q_n.

Ta có (q∘p)i=q∘(p∘q)i−1∘p(q\circ p)^i=q\circ (p\circ q)^{i-1}\circ p với mọi số nguyên i⩾1i\geqslant 1. Khi đó ta tính được

nnni−1(n)innni-1(n)i u=(1E−q∘p)=1E−∑(−1)(q∘p)=1E−qn∘pu= (1_E-q\circ p)= 1_E-\sum(-1)(q\circ p)= 1_E-q_n\circ p
i i
i=1 i=1
nnni−1(n)innni-1(n)i

v=(1F−p∘q)=1F−∑(−1)(p∘q)=1F−p∘qnv= (1_F-p\circ q)= 1_F-\sum(-1)(p\circ q)= 1_F-p\circ q_n,

i i
i=1i=1

do đó suy ra kết quả.

Bổ đề 5 02S2

Cho u′u' là một phần tử của L(E)\mathscr{L}(E). Đặt v′=1F+p∘u′∘qv'= 1_F+p\circ u'\circ q. Nếu u′u' là một nghịch đảo của uu, thì v′v' là một nghịch đảo của vv. Nếu u′u' là một giả nghịch đảo của uu, thì v′v' là một giả nghịch đảo của vv. Nếu u′u' giao hoán với uu, thì v′v' giao hoán với vv.

Dùng các công thức (6), ta tính được

v−v′∘v=−p∘u′∘q∘v=−p∘u′∘u∘q v-v'\circ v=-p\circ u'\circ q\circ v=-p\circ u'\circ u\circ q
v−v∘v′=−v∘p∘u′∘q=−p∘u∘u′∘q v-v\circ v'=-v\circ p\circ u'\circ q=-p\circ u\circ u'\circ q

do đó

1F−v′∘v=p∘(1E−u′∘u)∘q 1_F-v'\circ v=p\circ (1_E-u'\circ u)\circ q
1F−v∘v′=p∘(1E−u∘u′)∘q 1_F-v\circ v'=p\circ (1_E-u\circ u')\circ q

điều này chứng minh bổ đề.

Hãy chứng minh Mệnh đề 10. Có tính đến Bổ đề 4, chỉ cần chứng minh mệnh đề a) đối với n=1n= 1. Theo các công thức (6), các ánh xạ pp và qq xác định, khi chuyển qua các không gian con, các ánh xạ tuyến tính liên tục p′:p': Ker(uu)→\rightarrow Ker(vv) và q′:q': Ker(vv)→\rightarrow Ker(uu), và khi chuyển qua các thương, các ánh xạ tuyến tính liên tục p′′:p'': Coker(uu)→\rightarrow Coker(vv) và q′′:q'': Coker(vv)→\rightarrow Coker(uu).

Vì 1E−u=q∘p1_E-u=q\circ p và 1F−v=p∘q1_F-v=p\circ q, các ánh xạ p′p' và q′q' một mặt, p′′p'' và q′′q'' mặt khác, là các đẳng cấu nghịch đảo của nhau. Điều này chứng minh a).

Để ảnh của một ánh xạ tuyến tính liên tục là đóng, điều kiện cần và đủ là đối hạt nhân của ánh xạ này là một không gian tách được. Do đó b) suy ra từ a).

Kí hiệu i:Ker(u)→Ei: Ker(u)\rightarrow E và j:j: Ker(vv)→F\rightarrow F là các đơn cấu chính tắc. Giả sử rằng Ker(uu) có một phần bù tôpô trong E, và gọi r:E→r: E\rightarrow Ker(uu) là một co rút tuyến tính liên tục của ii. Đặt r′=p′∘r∘qr'=p'\circ r\circ q. Ta có r′∈L(Fr'\in \mathscr{L}(F; Ker(vv)) và

r′∘j=p′∘r∘q∘j=p′∘r∘i∘q′=p′∘q′=1Ker(v) r'\circ j=p'\circ r\circ q\circ j=p'\circ r\circ i\circ q'=p'\circ q'= 1_{Ker(v)}

do đó r′r' là một co rút tuyến tính liên tục của jj và Ker(vv) có một phần bù tôpô trong F. Điều này chứng minh mệnh đề thứ nhất của c). Mệnh đề thứ hai được chứng minh tương tự, bằng cách nhận thấy rằng nếu s:s: Coker(uu)→E\rightarrow E là một tiết diện tuyến tính liên tục của toàn cấu chính tắc từ E lên Coker(uu), thì p∘s∘q′′p\circ s\circ q'' là một tiết diện tuyến tính liên tục của toàn cấu chính tắc từ F lên Coker(vv).

Kí hiệu u‾:E/\overline{u}: E/ Ker(uu)→\rightarrow Im(uu) và v‾:F/\overline{v}: F/ Ker(vv)→\rightarrow Im(vv) là các ánh xạ tuyến tính liên tục song ánh cảm sinh bởi uu và vv. Theo các công thức (6), ánh xạ pp định nghĩa, khi chuyển qua các thương, một ánh xạ tuyến tính liên tục p1:E/p_1: E/ Ker(uu)→F/\rightarrow F/ Ker(vv), và p,qp,q định nghĩa, khi chuyển qua các không gian con, các ánh xạ tuyến tính liên tục p0:p_0: Im(uu)→\rightarrow Im(vv) và q0:q_0: Im(vv)→\rightarrow Im(uu).

Gọi t:t: Im(vv)→F/\rightarrow F/ Ker(vv) là ánh xạ hợp thành của đơn ánh chính tắc Im(vv)→F\rightarrow F và toàn cấu chính tắc F→F/F\rightarrow F/ Ker(vv); nó liên tục. Ta có v‾∘t=1Im(v)−p0∘q0\overline{v}\circ t= 1_{Im(v)}-p_0\circ q_0 và v‾∘p1=p0∘u‾\overline{v}\circ p_1=p_0\circ \overline{u}, do đó

v‾∘(t+p1∘u‾−1∘q0)=v‾∘t+p0∘q0=1Im(v) \overline{v}\circ (t+p_1\circ \overline{u}^{-1}\circ q_0) =\overline{v}\circ t+p_0\circ q_0= 1_{Im(v)}

Điều này chứng tỏ rằng t+p1∘u‾−1∘q0t+p_1\circ \overline{u}^{-1}\circ q_0 là song ánh ngược của v‾\overline{v}. Nếu uu ngặt, ánh xạ u‾−1\overline{u}^{-1} liên tục, và v‾−1\overline{v}^{-1} cũng vậy, điều đó chứng tỏ rằng vv ngặt. Điều này chứng tỏ d).

Theo bổ đề 5, nếu uu là một tự đẳng cấu của E, thì vv là một tự đẳng cấu của F. Tương tự, nếu uu là một tự đồng cấu Fredholm của E, thì vv là một tự đồng cấu Fredholm của F, và khi đó ta có ind(uu) == ind(vv) theo a). Điều này chứng tỏ e) và f). Cuối cùng, nếu E và F là tách được và nếu uu là một tự đồng cấu Riesz của E, thì vv là một tự đồng cấu Riesz của F theo bổ đề 5 và điều kiện (ii) của mệnh đề 8; đó là mệnh đề g).

5. Các ánh xạ Fredholm và các ánh xạ Riesz giữa các không gian Fréchet

Mệnh đề 11 02S3

Cho E và F là các không gian Fréchet. Để một ánh xạ tuyến tính liên tục uu từ E vào F là một ánh xạ Fredholm, điều kiện cần và đủ là hạt nhân và đối hạt nhân của nó đều hữu hạn chiều.

Điều này suy ra từ đặc trưng hóa các ánh xạ Fredholm cho bởi điều kiện (ii) của mệnh đề 2 của III, p. 42 và từ bổ đề sau:

Bổ đề 6 02S4

Cho E và F là các không gian Fréchet và u∈L(E;F)u\in \mathscr{L}(E; F). Giả sử rằng ảnh của uu có đối chiều hữu hạn trong F. Khi đó ảnh của uu đóng trong F và uu là một cấu xạ ngặt.

Gọi G là một không gian con vectơ của F bù với Im(uu); không gian con G là đóng (TVS, I, p. 14, hệ quả 1), nên không gian thương F/GF/G là một không gian Fréchet (TG, IX, p. 25, mệnh đề 4). Gọi π:F→F/G\pi : F\rightarrow F/G là toàn cấu chính tắc. Ánh xạ π∘u\pi \circ u là toàn ánh, nên ngặt (TVS, I, p. 19, hệ quả 3). Khi đó mệnh đề suy ra từ hệ quả 2 của III, p. 40.

Mệnh đề 12 02S5

Cho E và F là các không gian Fréchet. Trang bị cho các đối ngẫu của chúng E′E' và F′F' tôpô yếu, tôpô hội tụ compắc, hoặc tôpô hội tụ bị chặn. Cho u∈L(E;F)u\in \mathscr{L}(E; F). Để uu là một ánh xạ Fredholm từ E vào F, điều kiện cần và đủ là tu^tu là một ánh xạ Fredholm từ F′F' vào E′E'.

Điều kiện là cần (III, p. 43, no3^o3). Ta sẽ chứng minh rằng nó là đủ. Nếu tu^tu là một ánh xạ Fredholm, thì nó là một cấu xạ ngặt (III, p. 42, mệnh đề 2), nên uu là một cấu xạ ngặt với ảnh đóng (TVS, IV, p. 28, định lý 1 và p. 29, hệ quả 3). Theo các đẳng cấu chính tắc Coker(tu^tu)→\rightarrow Ker(uu)′' và Ker(tu^tu)→\rightarrow Coker(uu)′' (TVS, IV, p. 27, mệnh đề 2), các không gian vectơ Ker(uu) và Coker(uu) đều hữu hạn chiều và uu là một ánh xạ Fredholm (mệnh đề 2 của III, p. 42).

Mệnh đề 13 02S6

Cho E là một không gian Fréchet và u∈L(E)u\in \mathscr{L}(E).

a) Tự đồng cấu uu là một tự đồng cấu Riesz khi và chỉ khi không gian không linh N của nó hữu hạn chiều và không gian đối không linh I của nó có đối chiều hữu hạn ;

b) Trang bị cho E′E' tôpô hội tụ bị chặn, tôpô hội tụ compact, hoặc tôpô yếu. Nếu tu^tu là một tự đồng cấu Riesz của E′E', thì uu là một tự đồng cấu Riesz của E.

a) Giả sử rằng không gian lũy linh N là hữu hạn chiều và không gian đối lũy linh I có đối chiều hữu hạn. Vì Ker(uu)⊂N\subset N và I⊂I\subset Im(uu), hạt nhân của uu là hữu hạn chiều và ảnh của uu có đối chiều hữu hạn. Theo định nghĩa và Mệnh đề 11, ánh xạ uu là một tự đồng cấu Riesz. Mệnh đề đảo lại suy ra từ định nghĩa.

b) Theo Mệnh đề 12, giả thiết kéo theo rằng uu là một tự đồng cấu Fredholm có chỉ số ind(tu^tu) =−=- ind(uu) =0= 0 (No.o3^o3, công thức (4)). Cho n∈Nn\in \mathbf{N}. Vì ảnh của unu^n là đóng và có trực giao là hạt nhân của tun^tu^n (EVT, IV, p. 27, Prop. 2), dãy (Im(unu^n)) là dừng, và do đó uu là một tự đồng cấu Riesz.

6. Đặc trưng hóa phổ của các tự đồng cấu Riesz

Cho E là một không gian Banach phức và uu là một tự đồng cấu của E. Nhắc lại rằng Sp(uu) kí hiệu phổ của uu đối với đại số Banach có đơn vị L(E)(\mathscr{L}(E) (xem § 7 của I, p. 127).

Giả sử rằng 0 là một điểm cô lập của Sp(uu); nhắc lại rằng khi đó người ta kí hiệu bởi e0(u)e_0(u) phép chiếu phổ liên kết với uu và với tập con mở và đóng {0}\{0\} của phổ của u(u(xem No.o3^o3 của I, p. 131). Ta có e0(u)=f(u)e_0(u) =f(u) đối với mọi mầm của một hàm chỉnh hình ff trong một lân cận của Sp(uu) bằng 1 trong một lân cận của 0 và bằng không trong một lân cận của Sp(uu)−{0}-\{0\}.

Khi chuyển qua các không gian con, tự đồng cấu uu cảm sinh một tự đồng cấu lũy linh giả trên ảnh của e0(u)e_0(u), mà phổ thu về {0}\{0\}, và một tự đẳng cấu của hạt nhân của e0(u)e_0(u), mà phổ là Sp(uu)−{0}(-\{0\}(loc. cit.).

Mệnh đề 14 02S7

Cho E là một không gian Banach phức. Để một phần tử uu của L(E)\mathscr{L}(E) là một tự đồng cấu Riesz của E, điều kiện cần và đủ là một trong hai điều kiện sau đây, loại trừ lẫn nhau, được thỏa mãn:

(i) Tự đồng cấu uu của E là một tự đẳng cấu của E;

(ii) Điểm 0 là một điểm cô lập của Sp(uu) và phép chiếu e0(u)e_0(u) có hạng hữu hạn.

Khi điều kiện (ii) được thỏa mãn, ảnh của e0(u)e_0(u) là không gian lũy linh của uu và hạt nhân của e0(u)e_0(u) là không gian đối lũy linh của uu.

Mọi tự đẳng cấu của E đều là một tự đồng cấu Riesz của E (III, p. 47, nhận xét 1). Nếu uu thỏa mãn điều kiện (ii), hạt nhân F của e0(u)e_0(u) là một không gian con vectơ đóng có đối chiều hữu hạn của E, ổn định dưới uu. Gọi uFu_F là tự đồng cấu của F được cảm sinh bởi uu. Phổ của nó được chứa trong C−{0}\mathbf{C}-\{0\} (No. 3 của I, p. 131), do đó uFu_F là một tự đẳng cấu của F. Suy ra uu là một tự đồng cấu Riesz của E (III, p. 48, mệnh đề 8).

Ngược lại, giả sử uu là một tự đồng cấu Riesz của E. Gọi N là không gian không hóa của nó và I là đối không gian không hóa của nó. Theo mệnh đề 6 của III, p. 47, không gian E là tổng trực tiếp tôpô của N và I, và ánh xạ uu xác định, khi chuyển qua các không gian con ấy, một tự đồng cấu lũy linh uNu_N của N và một tự đẳng cấu uIu_I của I. Đặc biệt, ta có Sp(uNu_N)⊂{0}\subset \{0\} và 0∉0\not \in Sp(uIu_I). Nếu N bằng không, thì I = E và uu là một tự đẳng cấu của E. Nếu không, thì 0 là một điểm cô lập của Sp(uu) và e0(u)e_0(u) là phép chiếu có ảnh là N và hạt nhân là I (mệnh đề 2 của I, p. 129); đặc biệt, nó có hạng hữu hạn.

Nhận xét 02S8

Cho E là một không gian Banach thực và uu là một tự đồng cấu của E. Giả sử rằng 0 là một điểm cô lập của phổ phức của uu, nghĩa là của phổ của tự đồng cấu 1⊗u1\otimes u của không gian khả chuẩn đầy đủ phức hóa E(C)E_{(\mathbf{C})} của E (I, p. 85, No. 13). Tập con {0}\{0\} của phổ phức của uu là mở và đóng, và bất biến đối với phép liên hợp; gọi e0(u)∈L(E)e_0(u)\in \mathscr{L}(E) là phép chiếu phổ liên kết với nó (No. 13 của I, p. 85). Mệnh đề 14 vẫn còn đúng, mutatis mutandis, trong cách đặt này.

Bài tập

Xem bài tập của § 3.

[^1]: Một số tác giả cũng nói "toán tử chỉ số" hoặc "giả đẳng cấu".

Machine translation of the English, by gpt-5.4, against glossary version 34. Not checked by a person.