Cho E là một không gian Hilbert phức. Gọi s là ánh xạ unita (x,y)↦(−y,x) trên E⊕E. Cho u là một toán tử bộ phận đóng với miền xác định trù mật trên E. Toán tử bộ phận u∗u là tự liên hợp và dương (Mệnh đề 12 của IV, p. 241), do đó −1∈/ Sp(u∗u) (Mệnh đề 17 của IV, p. 248). Đặt W(u)=(1E+u∗u)−1=−R(u∗u,−1); đó là một tự đồng cấu dương và đơn ánh của E.
Gọi p1 và p2 là hai phép chiếu chính tắc của Γu vào E. Chúng là các phần tử của L(Γu;E), và ta có đẳng thức các tương ứng p2=u∘p1. Gọi (j,∣p1∗∣) là phân tích cực (Định nghĩa 4 của I, p. 140) của tự đồng cấu p1∗∈L(E;Γu), sao cho p1∗=∣p1∗∣∘j. Ánh xạ j là một đẳng cự bộ phận từ E vào Γu.
Cho x∈E. Đặt y=W(u)(x)∈ dom(u∗u). Ta có y∈ dom(u) và u(y)∈ dom(u∗). Với mọi phần tử (y1,u(y1)) của Γu, trong đó y1∈ dom(u), ta tính được
⟨(y,u(y))∣(y1,u(y1))⟩=⟨y∣y1⟩+⟨u(y)∣u(y1)⟩
=⟨y+u∗u(y)∣y1⟩=⟨x∣p1(y1,u(y1))⟩
Điều đó có nghĩa là p1∗(x)=(y,u(y)), do đó p1∘p1∗(x)=y=W(u)(x). Vì thế, ta có p1∘p1∗=W(u), suy ra ∣p1∗∣=W(u)1/2, tức là công thức (1). Đặc biệt, vì Im(p1) = Im(∣p1∗∣) theo Hệ quả của Mệnh đề 11 của I, p. 140, suy ra dom(u) = Im(p1) = Im(W(u)1/2). Vậy toán tử bộ phận u∘W(u)1/2 có miền xác định là toàn bộ không gian E. Khi đó quan hệ p1∘j=(p1∗)∗∘j=∣p1∗∣=W(u)1/2 (Mệnh đề 11, a) của I, p. 140) kéo theo rằng
b(u)=p2∘j=u∘p1∘j=u∘W(u)1/2
đó là công thức (2).
Ta có Ker(j) = Ker(∣p1∗∣) (mệnh đề 10, b) của I, p. 139) và do đó công thức (1) suy ra rằng đẳng cự bộ phận j:E→Γu là đơn ánh, nên đẳng cự, do đó j∗∘j=1E. Viết j=(p1∘j,b(u)), ta được
1E=j∗∘j=(p1∘j)∗(p1∘j)+b(u)∗b(u)=W(u)+b(u)∗b(u)
do đó có công thức (3).
Lấy x∈ dom(u) và đặt y=W(u)(x). Ta có y∈ dom(u) và công thức y+u∗u(y)=x suy ra rằng u∗u(y)∈ dom(u). Khi đó ta có
W(u∗)−1(u(y))=(1E+uu∗)(u(y))
=u(y)+uu∗u(y)=u(y+u∗u(y))=u(x)
điều này có nghĩa là phép hạn chế của u∘W(u) lên miền xác định của u bằng W(u∗)∘u. Vì ảnh của ∣p1∗∣ bằng ảnh của p1 (hệ quả của mệnh đề 11 của I, p. 140) và do đó bằng miền xác định của u, suy ra rằng
u∘W(u)∘∣p1∗∣=W(u∗)∘u∘∣p1∗∣=W(u∗)∘b(u)
(công thức (2)). Hơn nữa, ∣p1∗∣=W(u)1/2 giao hoán với W(u), nên ta được
b(u)∘W(u)=u∘∣p1∗∣∘W(u)=u∘W(u)∘∣p1∗∣=W(u∗)∘b(u)
Quan hệ này suy ra rằng b(u)∘f(W(u))=f(W(u∗))∘b(u) đối với mọi hàm f∈C(R+) (mệnh đề 11 của I, p. 113), nên đặc biệt b(u)∘W(u)1/2=W(u∗)1/2∘b(u). Điều này chứng minh công thức (4) và kết thúc chứng minh.
Gọi q1 và q2 là các phép chiếu Γu∗→E và gọi (k,∣q1∗∣) là phân tích cực của q1∗, sao cho b(u∗)=q2∘k. Với mọi x và y thuộc E, ta có j(x)∈Γu và k(y)∈Γu∗, và vì Γu trực giao với s(Γu∗) theo mệnh đề 7 của IV, p. 236, suy ra rằng
Vì p1∘j=∣p1∗∣ và q1∘k=∣q1∗∣ (mệnh đề 11, b) của I, p. 140) nên ta được
⟨b(u)x∣∣q1∗∣y⟩=⟨∣p1∗∣x∣b(u∗)y⟩
do đó ∣q1∗∣b(u)=b(u∗)∗∣p1∗∣. Dùng các công thức (1) và (4), ta kết luận rằng b(u)∣p1∗∣=∣q1∗∣b(u)=b(u∗)∗∣p1∗∣, và vì ảnh của ∣p1∗∣ là miền xác định của u, trù mật trong E, ta suy ra b(u)=b(u∗)∗.
Ta ký hiệu bởi Ω(E) tập hợp các v∈L(E) sao cho 1E−v∗v là dương và đơn ánh. Với v∈Ω(E), tự đồng cấu Hermit (1E−v∗v)1/2 là đơn ánh, vì bình phương của nó có tính chất đó, và ta ký hiệu bởi B(v) toán tử bộ phận v∘((1E−v∗v)1/2)−1.
Chú ý rằng 1E−v∗v là dương khi và chỉ khi ∥v∥⩽1, vì ta có ⟨x∣(1E−v∗v)(x)⟩=∥x∥2−∥v(x)∥2 với mọi x∈E.
Cho v∈Ω(E). Ta có ∥v∗∥=∥v∥⩽1 nên tự đồng cấu 1E−vv∗ là dương. Nó là đơn ánh: nếu x∈ Ker(1E−vv∗), ta có vv∗(x)=x, do đó v∗(v(v∗(x)))=v∗(x) rồi v∗(x)=0, vì 1E−v∗v là đơn ánh, và cuối cùng x=v(v∗(x))=0. Bổ đề được chứng minh.
Ánh xạ u↦b(u) xác định một song ánh từ tập hợp các toán tử bộ phận đóng có miền xác định trù mật trên E lên tập Ω(E). Song ánh ngược được cho bởi v↦B(v).
Quan hệ 1E−b(u)∗b(u)=W(u) (công thức (3)) suy ra b(u) thuộc Ω(E) vì W(u) là dương và đơn ánh. Hơn nữa, vì b(u)=u∘W(u)1/2 (công thức (2)), ta được
Ngược lại, cho v∈Ω(E). Đặt w=(1E−v∗v)1/2 và u=B(v)=v∘w−1. Miền xác định của u là ảnh của w, miền này trù mật trong E vì w là Hermit và đơn ánh (EVT, V, p. 41, mệnh đề 4 (i)). Với mọi x∈ dom(u), ta có
∥u(x)∥2=⟨(v∗v)(w−1(x))∣w−1(x)⟩
=−⟨(1E−v∗v)(w−1(x))∣w−1(x)⟩+∥w−1(x)∥2
=−⟨w(x)∣w−1(x)⟩+∥w−1(x)∥2
vì (1E−v∗v)∘w−1 là hạn chế của w lên miền xác định của w−1. Vì w là tự liên hợp, ta suy ra rằng
∥w−1(x)∥2=∥x∥2+∥v∘w−1(x)∥2=∥x∥2+∥u(x)∥2
và do đó toán tử bộ phận B(v)=u=v∘w−1 là đóng theo Bổ đề 2 của IV, p. 231.
Sau cùng, ta hãy chứng minh rằng b(B(v))=v. Vì u=v∘w−1, ta có v=u∘w, và do đó chỉ cần kiểm tra rằng w=W(u)1/2 (công thức (2)), hoặc thậm chí rằng 1E−v∗v=W(u).
Tự đồng cấu v∗ thuộc Ω(E) theo Bổ đề 1. Đặt w′=(1E−vv∗)1/2. Đó là một tự đồng cấu dương đơn ánh của E, và ta có v∘w=w′∘v (mệnh đề 11 của I, p. 113). Đồ thị của u là tập hợp các phần tử có dạng (w(x),v(x)) với x∈E. Theo mệnh đề 7 của IV, p. 236, đồ thị của u∗ là s(Γu)∘. Vì, với mọi x và y∈E, ta có
đồ thị của u∗ chứa các phần tử dạng (w′(x),v∗(x)) với x∈E, và khi đó ta có u∗(w′(x))=v∗(x). Đặc biệt, miền xác định của u∗ chứa ảnh của w′.
Cho x∈E và đặt y=w2(x)=(1E−v∗v)(x), để rồi x=y+v∗v(x). Ta có y∈ dom(u) và u(y)=v(w−1(y))=v(w(x))=w′(v(x)). Đặc biệt, u(y)∈ Im(w)⊂ dom(u∗), và u∗(u(y))=v∗(v(x)). Do đó suy ra x=y+v∗v(x)=y+u∗u(y), nên y=W(u)(x), nghĩa là
(1E−v∗v)(x)=W(u)(x)
Vậy đã chứng minh được rằng 1E−v∗v=W(u), như mong muốn.
Cho u là một toán tử bộ phận trên E. Ta nói rằng u là chuẩn tắc nếu u đóng với miền xác định trù mật và nếu bornification của nó b(u) là một tự đồng cấu chuẩn tắc của E.
Nếu u∈L (E), định nghĩa này phù hợp với EVT, V, p. 42, định nghĩa 4, nhờ các công thức 1E−b(u)∗b(u)=W(u)=(1E+u∗u)−1 (mệnh đề 1 của IV, p. 262) và b(u∗)=b(u)∗ (hệ quả của loc. cit.).
Nếu u là một toán tử bộ phận tự liên hợp trên E, thì b(u) là Hermit (hệ quả của mệnh đề 2 của IV, p. 264), do đó u là chuẩn tắc.
Cho D là đĩa đơn vị mở trong C. Ta ký hiệu bởi β hàm từ C vào D được xác định bởi β(z)=z/√1+∣z∣2. Đó là một đồng phôi, mà hàm nghịch đảo thỏa β−1(z)=z/√1−∣z∣2 với z∈D.
Cho u∈L(E). Từ các công thức (2) và (3) của mệnh đề 1 ở IV, p. 262 suy ra rằng u=β−1(b(u)), và do đó
Cho X là một không gian tôpô địa phương compact và cho μ là một độ đo dương trên X.
a) Cho g là một hàm μ-đo được trên X. Toán tử phép nhân mg trên L2(X,μ) là chuẩn tắc và b(mg)=mβ∘g;
b) Cho h:X→D là một hàm μ-đo được. Tự đồng cấu mh thuộc Ω(L2(X,μ)) và B(mh)=mβ−1∘h.
Toán tử bộ phận mg là đóng với miền xác định trù mật. Vì mg∗mg=mgmg=m∣g∣2 (mệnh đề 23 của IV, p. 253 và mệnh đề 24 của IV, p. 255), ta có
W(mg)=−R(m∣g∣2,−1)=m(1+∣g∣2)−1
(mệnh đề 22 của IV, p. 252). Điều này kéo theo
b(mg)=mg∘W(mg)1/2=mg∘m(1+∣g∣2)−1/2=mβ∘g
theo công thức (2) của IV, p. 262, hệ quả của mệnh đề 6 của IV, p. 187 và bổ đề 6 của IV, p. 254. Cuối cùng, áp dụng mệnh đề 6 của IV, p. 187, ta thu được mệnh đề a).
Ta hãy chứng minh b). Vì 1−∣h(x)∣2>0 với mọi x∈X, ta có mh∈Ω(L2(X,μ)) (hệ quả của Mệnh đề 6 của IV, p. 187). Vì ánh xạ u↦b(u) là đơn ánh (Mệnh đề 2 của IV, p. 264) và các tự đồng cấu b(B(mh)) và b(mβ−1∘h) đều bằng mh theo mệnh đề a), suy ra B(mh)=mβ−1∘h.
Cho u là một toán tử bộ phận chuẩn tắc trên không gian Hilbert E. Tồn tại một không gian tôpô compact địa phương X, một độ đo dương μ trên X, một đẳng cấu đẳng cự θ của L2(X,μ) lên E, và một hàm liên tục g trên X, sao cho u=θ∘mg∘θ−1.
Theo định nghĩa, tự đồng cấu b(u) của E là chuẩn tắc. Do định lý phổ cho các tự đồng cấu chuẩn tắc của E (Hệ quả 1 của IV, p. 193), vì vậy tồn tại một không gian tôpô compact địa phương X, một độ đo dương μ trên X, một đẳng cấu đẳng cự θ của L2(X,μ) lên E, và một hàm liên tục bị chặn h trên X, sao cho b(u) trùng với θ∘mh∘θ−1.
Gọi N là tập con đóng gồm các x∈X sao cho ∣h(x)∣⩾1. Vì tự đồng cấu 1−b(u)∗b(u)=θ∘m1−∣h∣2∘θ−1 là dương và đơn ánh, tập N là địa phương μ-không đáng kể (Bổ đề 7 của IV, p. 186 và hệ quả của Mệnh đề 6 của IV, p. 187). Khi đó đặt X=X− N. Đó là một không gian compact địa phương, và sự hạn chế các hàm lên X cảm sinh một đẳng cấu đẳng cự của L2(X,μ) lên L2(X,μ∣X) (Mệnh đề 1 của IV, p. 179). Do đó hợp thành của θ với sự hạn chế các hàm lên X cảm sinh một đẳng cấu đẳng cự θ của L2(X,μ∣X) lên E. Vì b(u)=θ∘mh∣X∘θ−1, suy ra u=θ∘mβ−1∘(h∣X)∘θ−1 (Bổ đề 2). Định lý suy ra từ công thức này.
Cho u là một toán tử bộ phận chuẩn tắc trên E. Ta có
Sp(b(u))∩D=β(Sp(u)).
Ta có b(u)=u∘W(u)1/2 (Mệnh đề 1 của IV, p. 262). Tự đồng cấu W(u)1/2 là đơn ánh và ảnh của nó là miền xác định của u (công thức (1) của IV, p. 262).
Cho λ∈C. Số λ thuộc tập phân giải của u khi và chỉ khi (u−λ1E)∘W(u)1/2 là một ánh xạ tuyến tính song ánh của E vào E (Nhận xét 3 của IV, p. 245). Mà theo công thức (3) của IV, p. 262, ta có
trong đó fλ là hàm liên tục được xác định trên D bởi z↦z−λ(1−∣z∣2)1/2. Tự đồng cấu fλ(b(u)) là song ánh khi và chỉ khi phổ của nó không chứa 0. Vì Sp(fλ(b(u))) =fλ(Sp(b(u))) (Hệ quả 2 của Mệnh đề 7 của I, p. 111), điều này xảy ra khi và chỉ khi 0 không thuộc tập hợp fλ(Sp(b(u))). Do đó, λ∈ Sp(u) khi và chỉ khi tồn tại z∈ Sp(b(u))∩D sao cho
z−λ(1−∣z∣2)1/2=0
Đẳng thức này, nếu đúng, suy ra rằng z∈D, và có nghĩa là λ=β−1(z). Suy ra Sp(u) =β−1(Sp(b(u))∩D), như đã phát biểu.
Cho u là một toán tử riêng phần chuẩn tắc trên E. Cho f∈K (Sp(u)). Ánh xạ z↦f(β−1(z)) từ Sp(b(u))∩D vào C là liên tục và có giá compact; do đó ánh xạ duy nhất fβ từ Sp(b(u)) vào C kéo dài nó bằng không là liên tục.
Với mọi hàm f∈K (Sp(u)), ta định nghĩa tự đồng cấu f(u) của E bởi f(u)=fβ(b(u)).
Ánh xạ f↦fβ là một cấu xạ đại số phức từ K (Sp(u)) vào C(Sp(b(u))), do đó ánh xạ f↦f(u) là một cấu xạ đại số phức từ K (Sp(u)) vào L(E). Ta có f(u)=f(u)∗ vì fβ=fβ. Nếu f⩾0 thì fβ⩾0, do đó f(u) là một tự đồng cấu dương của E.
Giả sử rằng u là một tự đồng cấu chuẩn của E, sao cho Sp(u) là một tập con compact của C. Vì biến đổi bị chặn b(u) trùng với β(u) (công thức (5)), và Sp(b(u)) =β(Sp(u)) (Hệ quả 2 của Mệnh đề 7 của I, p. 111), phổ của b(u) là một tập con compact của D. Với mọi hàm liên tục f∈C (Sp(u)), hàm fβ trùng với hạn chế của f∘β−1 lên Sp(u). Do đó, fβ(β(u)) trùng với tự đồng cấu f(u) được xác định bởi phép tính phiếm hàm liên tục của u. Định nghĩa trên do đó tương thích với định nghĩa của phép tính phiếm hàm liên tục của đại số đối hợp L(E).
Cho f∈K (Sp(u)). Ta có
∥f(u)∥⩽∥fβ∥∞=∥f∥∞
sao cho, với mọi x và y trong E, ta thu được bất đẳng thức ∣⟨x∣f(u)y⟩∣⩽∥x∥∥y∥∥f∥∞. Ánh xạ f↦⟨x∣f(u)y⟩ do đó là một độ đo bị chặn trên Sp(u), có khối lượng toàn phần ⩽∥x∥∥y∥ (INT, IV, p. 154, § 4, no7). Nếu x=y, nó là một độ đo dương, vì f(u) là dương khi f⩾0.
Cho u là một toán tử từng phần chuẩn trên một không gian Hilbert phức E. Cho x và y thuộc E. Độ đo bị chặn trên Sp(u) được xác định bởi f↦⟨x∣f(u)y⟩ với f∈K (Sp(u)) được gọi là độ đo phổ của (x,y) đối với u. Khi x=y, người ta nói rằng đó là độ đo phổ của x đối với u.
Cho j là phép nhúng chính tắc của Sp(u) vào C. Vì Sp(u) là đóng, ánh xạ j là μ-thực sự đối với mọi độ đo bị chặn μ trên Sp(u) (INT, V, p. 68, § 6, no1, Mệnh đề 1). Người ta thường đồng nhất các độ đo phổ của u với các độ đo trên C là ảnh của chúng qua j(cf. INT, V, p. 84, § 7, no2).
Ánh xạ của E×E vào không gian Banach M1(Sp(u)) gán cho (x,y) độ đo phổ của (x,y) tương đối với u là sesqui tuyến tính và liên tục có chuẩn ⩽1.
Cho X là một không gian tôpô compact địa phương, cho μ là một độ đo dương trên X, và cho g là một hàm μ-đo được trên X. Gọi mg là toán tử của phép nhân bởi g trên L2(X,μ).
a) Ánh xạ f↦f(mg) của K (Sp(mg)) vào L(L2(X,μ)) được cho bởi f↦mf∘g;
b) Với f1 và f2 thuộc L2(X,μ) có các lớp f1 và f2 trong L2(X,μ), độ đo phổ suy ra từ độ đo ảnh g(f(f11f,2f⋅2μ) )tương đối với. mg là hạn chế tới Sp(mg)
Toán tử từng phần mg là chuẩn và b(mg)=mβ∘g=mg(1+∣g∣2)−1/2 (bổ đề 2). Hơn nữa β(g(x)) thuộc Sp(mβ∘g) với mọi x bên ngoài một tập hợp không đáng kể địa phương đối với μY⊂X (mệnh đề 22 của IV, p. 252 và bổ đề 1 của IV, p. 181). Vì fβ(β(g(x)))=f(g(x)) với mọi x∈X - Y, suy ra rằng f(mg)=mf∘g từ định nghĩa 3 và hệ quả của mệnh đề 6 của IV, p. 187.
Cho f1 và f2 thuộc L2(X,μ) có các lớp f1 và f2 trong L2(X,μ). Vì độ đo ν=f1f2⋅μ bị chặn, độ đo ảnh g(ν) được xác định (INT, V, p. 69, § 6, no1, nhận xét. 1). Cho f∈K (Sp(mg)). Ta có f(mg)=mf∘g theo a), do đó
Cho n∈N. Ta trang bị cho Rn độ đo Lebesgue, và ta đồng nhất Rn và nhóm đối ngẫu của nó như trong hệ quả 3 của II, p. 236. Gọi N là chuẩn Euclid trên Rn và F là biến đổi Fourier trên S(Rn) và trên S′(Rn) (no12 của IV, p. 217).
Cho ΔS là toán tử bộ phận trên L2(Rn) có miền xác định là không gian S(Rn) và sao cho
ΔS(φ)=−i=1∑n∂i2φ
với mọi φ∈S(Rn). Khi đó ta có F(ΔS(φ))=4π2N2F(φ) với mọi hàm φ∈S(Rn) (nhận xét 12 của IV, p. 220). Vì biến đổi Fourier là một tự đẳng cấu của S(Rn) (mệnh đề 18 của IV, p. 219), điều này có nghĩa là toán tử bộ phận u=F∘ΔS∘F−1 là hạn chế của toán tử phép nhân m4π2N2 lên không gian S(Rn). Toán tử bộ phận u là đóng được và đối xứng; bao đóng của nó là toán tử bộ phận tự liên hợp dương m4π2N2 (mệnh đề 6 của IV, p. 232, áp dụng cho không gian D(Rn)⊂S(Rn) với sự trợ giúp của mệnh đề 4 của IV, p. 202). Do đó, toán tử bộ phận ΔS là tự liên hợp cơ bản. Bao đóng của nó được ký hiệu bởi Δ; nó là một toán tử tự liên hợp dương, và nó là toán tử Laplace duy nhất trên Rn(xem ví dụ của No.o6 của IV, p. 243 và hệ quả của mệnh đề 26 của IV, p. 257).
Theo mệnh đề 21 của IV, p. 223, không gian Sobolev H2(Rn) là tập hợp các f∈L2(Rn) sao cho (1+N2)F(f) thuộc L2(Rn), nghĩa là sao cho F(f) thuộc miền xác định của m4π2N2. Vì biến đổi Fourier là một đẳng cấu đẳng cự của không gian L2(Rn) lên chính nó (định lý 1 của II, p. 215), miền xác định của toán tử Laplace Δ là H2(Rn). Ta có Δ=F−1∘m4π2N2∘F. Đặc biệt, phổ của Δ bằng R+.
3. Phép tính phiếm hàm đo được phổ quát
Trong No. này, các không gian Hilbert được xét là phức.
Cho u là một toán tử bộ phận chuẩn trên một không gian Hilbert E. Ký hiệu μx,y (tương ứng μy) là độ đo phổ của (x,y)∈E×E (tương ứng của y) đối với u.
Cho y∈E. Ánh xạ K (Sp(u))→E xác định bởi f↦f(u)(y) thỏa mãn
∥f(u)(y)∥2=∫∣f∣2μy=∥f∥L2(Sp(u),μy)2
Sp(u)
Do đó tồn tại một ánh xạ tuyến tính đẳng cự duy nhất evy của không gian L2(Sp(u),μy) vào E sao cho evy(f)=f(u)(y) nếu f là lớp của một hàm f∈K (Sp(u)).
Cho f là một hàm đo được phổ quát xác định trên phổ của u. Ký hiệu Df là tập hợp các phần tử y∈E sao cho f thuộc L2(Sp(u),μy).
Cho f là một hàm đo được phổ quát được xác định trên phổ của u. Tập hợp Df là một không gian con vectơ trù mật của E. Ánh xạ y↦ evy(f) là một toán tử từng phần chuẩn trên E có miền xác định là Df, và được ký hiệu là f(u).
Với mọi x∈E và mọi y∈Df, ta có f∈L1(Sp(u),μx,y) và
a) Tập hợp Df là một không gian con vectơ trù mật của E. Ánh xạ f(u):y↦ evy(f) từ Df vào E là tuyến tính và trùng với 1E nếu f=1;
b) Cho g∈Lu(Sp(u)). Với mọi y∈Df và mọi x∈Dg, ta có fg∈L1(Sp(u),μx,y), và
⟨g(u)x∣f(u)y⟩=∫gfμx,y(7)
Sp(u)
c) Giả sử rằng E=L2(X,μ) trong đó X là một không gian tôpô compact địa phương và μ là một độ đo dương trên X, và u=mh, trong đó h:X→C là μ-đo được. Ta có f(mh)=mf∘h.
Theo Định lý 1 của IV, p. 266, ta có thể giả sử rằng ta ở trong tình huống của mệnh đề c), nghĩa là E=L2(X,μ) và u=mh, trong đó X là một không gian tôpô compact địa phương, μ là một độ đo dương trên X và h:X→C là μ-đo được. Ta sẽ ký hiệu bởi φ lớp trong L2(X,μ) của một hàm φ∈L2(X,μ).
Đặt S = Sp(mh). Ta ký hiệu bởi μφ1,φ2 (tương ứng. μφ) độ đo phổ của (φ1,φ2) (tương ứng. của φ) đối với mh với mọi (φ1,φ2)∈L2(X,μ)2 (tương ứng. mọi φ∈L2(X,μ)).
Cho φ∈L2(X,μ). Độ đo phổ μφ bằng độ đo ảnh h(∣φ∣2⋅μ) trên S (Bổ đề 4 của IV, p. 269). Vì hàm f là μφ-đo được, ta có φ∈Df khi và chỉ khi các tích phân
∫S∗∣f∣2dμφ=∫S∗∣f∣2h(∣φ∣2dμ)=∫X∗∣f∘h∣2∣φ∣2dμ
là hữu hạn (INT, V, p. 70, § 6, no2, Mệnh đề 2). Điều này có nghĩa là Df là miền của toán tử phép nhân mf∘h, là một không gian con trù mật của E (Mệnh đề 5 của IV, p. 232).
Hạn chế của evφ trên các lớp của các hàm g∈K(S) là ánh xạ gán cho một lớp g phần tử g(mh)(φ)=mg∘h(φ) (Bổ đề 4 của IV, p. 269). Ánh xạ evφ do đó trùng với ánh xạ đẳng cự từ L2(S,μφ) vào L2(X,μ) suy ra bằng cách chuyển qua các thương từ ánh xạ g↦(g∘h)⋅φ của L2(S,μφ) vào L2(X,μ).
Đặc biệt, do đó, ta có evφ(f)=mf∘h(φ), sao cho ánh xạ f(mh) từ Df vào E trùng với toán tử từng phần mf∘h. Điều này chứng minh mệnh đề c); nếu f=1, ta tìm được evφ(1)=φ, điều này cũng kết thúc chứng minh của a).
Ta chứng minh mệnh đề b). Cho φ1 và φ2 là các hàm sao cho φ1∈Df và φ2∈Dg. Khi đó ta có (INT, V, tại chỗ đã dẫn)
∫S∗∣fg∣∣μφ1,φ2∣=∫X∗∣(f∘h)(g∘h)φ1φ2∣dμ
⩽∥(f∘h)φ1∥∥(g∘h)φ2∥
là hữu hạn; do đó fg∈L1(S,μφ1,φ2). Hơn nữa, khi đó ta có
Ánh xạ f↦f(u) của Lu(Sp(u)) vào tập hợp các toán tử từng phần chuẩn tắc trên E được xác định bởi Mệnh đề 3 của IV, p. 271 được gọi là ánh xạ phép tính phiếm hàm đo được phổ quát liên kết với u.
Nói chung hơn, cho T là một tập hợp và g: Sp(u)×T→C là một ánh xạ; cho t∈T sao cho hàm gt:z↦g(z,t) là đo được phổ quát trên Sp(u). Khi đó ta viết g(u,t)=gt(u).
Công thức (7) suy ra đặc biệt rằng (8) ∥f(u)(y)∥2=∫∣f∣2μy
Sp(u)
với mọi f∈Lu(Sp(u)) và mọi y∈Df. Lấy f=1, ta suy ra rằng μy là một độ đo dương có khối lượng toàn phần ∥y∥2.
Nếu u là một toán tử từng phần chuẩn tắc trên một không gian Hilbert E và f∈K (Sp(u)), thì Df=E và toán tử từng phần f(u) khi đó là liên tục, vì
∥f(u)y∥⩽∥f∥∞∥y∥
với mọi y∈E theo (8). Tự đồng cấu f(u) trùng với tự đồng cấu trong Định nghĩa 3 của IV, p. 268.
Với f= IdSp(u), ta có f(u)=u (mệnh đề b) với k=1). Do đó miền xác định của u trùng với tập hợp các x∈E sao cho hàm đồng nhất của Sp(u) thuộc về L2(Sp(u),μx); đặc biệt nó chứa các phần tử x∈E sao cho độ đo μx có giá compact.
Hệ quả sau đây tổng quát hóa hệ quả của mệnh đề 16 của IV, p. 247 và mệnh đề 17 của IV, p. 248.
Cho u là một toán tử bộ phận chuẩn trên không gian Hilbert E. Giả sử rằng E là khác không.
a) Phổ của u là khác rỗng;
b) Với mọi λ∈C− Sp(u), chuẩn của giải thức R(u,λ) bằng 1/δ, trong đó δ>0 là khoảng cách trong C từ λ đến phổ của u.
c) Với mọi ε> 0, giả phổ ε PSpε(u) là tập hợp các λ∈C ở khoảng cách <ε từ Sp(u).
Giả sử phổ của u là rỗng. Khi đó u là đơn ánh, và tự đồng cấu u−1=−R(u,0) là chuẩn (hệ quả 1, c) và a)). Ta có Sp(u−1)⊂{0} (mệnh đề 15, a)), do đó Sp(u−1) ={0}(I, p. 26, hệ quả 1). Vì u−1 là chuẩn, điều này suy ra u−1=0(I, p. 110, ví dụ 1), điều này mâu thuẫn vì E không là không.
Để chứng minh b), ta có thể giả sử rằng u là toán tử phép nhân mg trên L2(X,μ), trong đó g là một hàm liên tục trên một không gian tôpô compact địa phương X được trang bị một độ đo dương μ (định lý 1 của IV, p. 266). Cho λ∈C− Sp(u) và cho δ>0 là khoảng cách từ λ đến phổ của u. Để chứng minh rằng ∥R(u,λ)∥=δ−1, ta quy về trường hợp λ=0 bằng cách thay thế u bởi u−λ1E. Số thực δ khi đó là khoảng cách từ 0 đến phổ của mg. Vì phổ sau cùng trùng với ảnh μ-cốt yếu của g, kết quả là một hệ quả của bổ đề 3 của IV, p. 182.
Cuối cùng, mệnh đề c) suy ra từ b) và từ định nghĩa của PSpε(u) (IV, p. 250, định nghĩa 9).
Cho u là một toán tử chuẩn bộ phận trên một không gian Hilbert E. Cho f∈Lu(Sp(u)). Với mọi x và y trong E, độ đo phổ của (x,y) đối với f(u) là độ đo ảnh f(μ), trong đó μ là độ đo phổ của (x,y) đối với u.
Theo định lý phổ (định lý 1 của IV, p. 266), ta có thể giả sử rằng u là toán tử phép nhân mg trên L2(X,μ), trong đó X là một không gian tôpô compact địa phương, μ là một độ đo dương trên X và g∈C(X). Cho f1 và f2 thuộc L2(X,μ), với các lớp f1 và f2 trong L2(X,μ). Vì f(mg)=mf∘g (mệnh đề 4, c)), độ đo phổ của (f1,f2) đối với f(mg) là độ đo ảnh (f∘g)(f1f2⋅μ) (bổ đề 4, b) của IV, p. 269). Độ đo này bằng độ đo ảnh f(g(f1f2⋅μ)) (INT, V, p. 72, § 6, no4, mệnh đề 4, a)), do đó có mệnh đề cần chứng minh (bổ đề 4, b) của IV, p. 269).
Ta có g∘f∈Lu(Sp(u)) (bổ đề 5 của IV, p. 184). Với mọi x và y trong E, ký hiệu μx,y′ là độ đo phổ của (x,y) đối với f(u). Theo hệ quả trước và INT, V, p. 71, § 6, No. 2, đl. 1, ta có g∈L2(Sp(f(u)),μx,y′) khi và chỉ khi g∘f∈L2(Sp(u),μx,y), do đó miền xác định của g(f(u)) bằng miền xác định của (g∘f)(u). Với mọi x∈E và y∈ dom(g(f(u))), khi đó ta có công thức
Cho u là một toán tử bộ phận chuẩn trên một không gian Hilbert E.
a) Nếu f∈Lu∞(Sp(u)), thì f(u)∈L(E);
b) Nếu f∈Lu∞(Sp(u)) và g∈Lu(Sp(u)), thì f(u)∘g(u)⊂(fg)(u);
c) Ánh xạ f↦f(u) của Lu∞(Sp(u)) vào L(E) là một cấu xạ liên tục có đơn vị của các đại số có đối hợp. Đặc biệt, ta có ∥f(u)∥⩽∥f∥∞ với f∈Lu∞(Sp(u));
d) Nếu u∈L(E), thì với mọi f∈Lu∞(Sp(u)), tự đồng cấu f(u) thuộc đối giao hoán tử kép của u trong L(E).
Cho f∈Lu∞(Sp(u)). Ta có Df=E và f(u) là một tự đồng cấu liên tục của E theo công thức (8), p. 272, do đó mệnh đề a).
Cho g∈Lu(Sp(u)). Cho y∈Dg. Ta có y∈Dfg và, với mọi x∈E, suy ra ⟨f(u)x∣g(u)y⟩=⟨x∣(fg)(u)y⟩ theo công thức (7), p. 271, do đó f(u)(g(u)y)=(fg)(u)(y), điều này chứng minh b).
Từ a) và b), ánh xạ f↦f(u) của Lu∞(Sp(u)) vào L(E) là một cấu xạ có đơn vị của các đại số có đối hợp; do đó, nó là một cấu xạ liên tục có chuẩn ⩽1(I, p. 104, mệnh đề 2), do đó mệnh đề c).
Giả sử rằng u là một tự đồng cấu của E. Cho v∈L(E) hoán vị được với u. Khi đó ta có v∘f(u)=f(u)∘v với f∈C (Sp(u)) theo các tính chất của phép tính phiếm hàm liên tục (I, p. 110, nhận xét). Cho x và y thuộc E. Các công thức
⟨x∣(v∘f(u))y⟩=⟨x∣(f(u)∘v)y⟩(9)
đúng với mọi hàm f∈C (Sp(u)), có nghĩa là các độ đo phổ của (v∗(x),y) và của (x,v(y)) đối với u là bằng nhau. Theo công thức (6), p. 271, đẳng thức này kéo theo rằng công thức (9) đúng với mọi f∈Lu∞(Sp(u)). Do đó v∘f(u)=f(u)∘v.
Cho f và g thuộc Lu(Sp(u)) và cho (x,y)∈Df×Dg. Độ đo phổ của (f(u)x,g(u)y) đối với u là độ đo fg⋅μx,y, trong đó μx,y là độ đo phổ của (x,y) đối với u.
Gọi ν là độ đo phổ của (f(u)x,g(u)y) đối với u. Với mọi hàm φ∈K (Sp(u)), ta có
Cho u là một toán tử từng phần chuẩn tắc trên một không gian Hilbert E. Cho (fn)n∈N là một dãy trong Lu(Sp(u)) hội tụ đơn giản đến f∈Lu(Sp(u)) và sao cho tồn tại g∈Lu(Sp(u)) thỏa mãn ∣fn∣⩽g với mọi n∈N. Khi đó dom(g(u))⊂ dom(fn(u)) với mọi n∈N và dom(g(u))⊂ dom(f(u)). Hơn nữa, với mọi phần tử y của miền xác định của g(u), ta có
f(u)(y)= limn→+∞fn(u)(y).
Đặc biệt, nếu fn∈Lu∞(Sp(u)) với mọi n∈N và nếu các hàm fn bị chặn đều, thì fn(u) hội tụ đến f(u) trong không gian L(E) được trang bị tôpô của sự hội tụ đơn giản.
Ta ký hiệu μx,y (resp. μx) là độ đo phổ của (x,y) (resp. của x) tương ứng với u.
Cho y∈ dom(g(u)), sao cho g∈L2(Sp(u),μy). Điều kiện ∣fn∣⩽g kéo theo rằng fn∈L2(Sp(u),μy), do đó y∈ dom(fn(u)).
Vì (fn) hội tụ đơn giản đến f và ∣fn∣⩽g, ta có f∈L2(Sp(u),μy) theo định lý Lebesgue (INT, IV, p. 137, § 3, no7, th. 6), do đó y∈ dom(f(u)). Hơn nữa, dãy (fn) hội tụ đến f trong L2(Sp(u),μy), do đó chuẩn của fn(u)y hội tụ đến chuẩn của f(u)y.
Cho x∈E. Các hàm f và g, cũng như các hàm fn với mọi n∈N, thuộc L1(Sp(u),μx,y) (mệnh đề 3). Theo định lý Lebesgue (INT, IV, loc. cit.), dãy (fn) hội tụ đến f trong L1(Sp(u),μx,y), do đó
⟨x∣fn(u)y⟩=∫fnμx,y→∫fμx,y=⟨x∣f(u)y⟩
Sp(u) Sp(u)
Suy ra fn(u)(y) hội tụ đến f(u)(y) (EVT, V, p. 17, mệnh đề 10).
Cho X là một không gian tôpô compact địa phương và ν là một độ đo trên X. Cho g:C×X→C là một hàm liên tục có giá compact. Với z∈C, đặt
h(z)=∫Xg(z,x)dν(x)
a) Ánh xạ h từ C vào C là liên tục và bị chặn;
b) Ánh xạ từ X vào L(E) được xác định bởi x↦g(u,x) là ν-khả tích và ta có
h(u)=∫Xg(u,x)dν(x)
Hàm h bị chặn vì g liên tục có giá compact, và nó liên tục theo INT, IV, p. 144, § 4, no3, hệ quả 1. Vì g liên tục và có giá compact, ánh xạ x↦g(u,x) là liên tục từ X vào L(E) (TG, X, p. 28, th. 3 và mệnh đề 5, c)). Ánh xạ này có giá compact, do đó bị chặn và khả tích trên X đối với ν. Ta viết
v=∫Xg(u,x)dν(x)∈L(E)
Cho y và z là các phần tử của E và μ là độ đo phổ của (y,z) tương ứng với u. Ta có
⟨y∣v(z)⟩=∫⟨y∣g(u,x)z⟩dν(x)=∫(∫g(λ,x)dμ(λ))dν(x)
X X Sp(u)
(công thức (6), p. 271). Vì g∈K(C×X), suy ra
⟨y∣v(z)⟩=∫Sp(u)(∫Xg(λ,x)dν(x))dμ(λ)=⟨y∣h(u)z⟩
theo INT, III, p. 84, § 4, no1, th. 2 và công thức (6), p. 271. Điều này chứng minh rằng v=h(u), như cần chứng minh.
4. Các phép chiếu phổ
Cho u là một toán tử chuẩn bộ phận trên một không gian Hilbert phức E. Cho A là một tập con đo được phổ quát của Sp(u) và φA là hàm đặc trưng của nó. Vì φA bị chặn và thỏa mãn φA2=φA, tự đồng cấu φA(u) của E là một phép chiếu trực giao của E. Nó được gọi là phép chiếu phổ của u xác định bởi A. Ta ký hiệu nó bởi pA=φA(u). Ta có p∅=0 và pSp(u)=1E.
Cho A là một tập con đo được phổ quát của C. Phép chiếu phổ của u xác định bởi A là phép chiếu phổ pSp(u)∩A. Nó cũng được ký hiệu đơn giản là pA. Với mọi hàm f∈Lu(Sp(u)), mọi x∈E và mọi y∈ dom(f(u)), ta có công thức
⟨pA(x)∣f(u)y⟩=∫fdμ(10)
Sp(u)∩A
trong đó μ là độ đo phổ của (x,y) đối với u (công thức (7), p. 271).
Cho A và B là các tập con đo được phổ quát của Sp(u). Vì φAφB=φA∩B, nên có pA∘pB=pA∩B (mệnh đề 5 của IV, p. 275, c)). Đặc biệt, nếu A và B rời nhau, các ảnh của pA và của pB là trực giao.
Cho (Ai)i∈I là một họ đếm được từng đôi một rời nhau gồm các tập con đo được phổ quát của Sp(u), và cho pi là phép chiếu phổ của u xác định bởi Ai. Hợp A của các tập Ai là một tập con đo được phổ quát của Sp(u), và chuỗi ∑ipi hội tụ đến pA trong L(E) được trang bị tôpô của sự hội tụ đơn giản.
Tập A là đo được phổ quát theo INT, IV, p. 177, § 5, no4, hệ quả 2. Chuỗi ∑iφAi hội tụ đơn giản đến φA và các tổng riêng phần của nó bị chặn bởi 1. Do đó, mệnh đề suy ra từ mệnh đề 6 của IV, p. 276.
Cho A là một tập con đóng của Sp(u). Cho φA là hàm đặc số của A và pA=φA(u) là phép chiếu phổ của u xác định bởi A. Ta ký hiệu EA là ảnh của pA. Nó là một không gian con đóng của E.
a) Không gian con EA là không gian của các x∈E sao cho giá của độ đo phổ của x đối với u được chứa trong A;
b) Nếu A bị chặn trong C, thì EA được chứa trong miền xác định của u;
c) Với mọi x thuộc miền xác định của u, ta có pA(x)∈ dom(u) và u(pA(x))∈EA, đặc biệt u(x)∈EA nếu x∈ dom(u)∩EA.
Với x trong E, người ta ký hiệu μx là độ đo phổ của x đối với u.
Chứng minh a). Cho x là một phần tử của EA. Cho z∈C− A và U là một lân cận mở tương đối compact của z không gặp A. Với mọi hàm f∈K(C) có giá được chứa trong U, ta có
∫fμx=⟨x∣f(u)x⟩=⟨pA(x)∣f(u)x⟩=∫fμx=0
Sp(u) Sp(u)∩A theo công thức (10). Điều này có nghĩa là z không thuộc giá của μx. Do đó, giá của μx được chứa trong A.
Ngược lại, cho x∈E sao cho giá của μx được chứa trong A. Ta có
⟨x∣pA(x)⟩=∫μx=∫μx=⟨x∣x⟩
Sp(u)∩A Sp(u)
(loc. cit.) do đó ∥pA(x)−x∥2=∥pA(x)∥2−∥x∥2⩽0 và do đó pA(x)=x, nghĩa là x∈EA.
Mệnh đề b) suy ra từ a) và từ nhận xét trong IV, p. 273.
Chứng minh c). Miền xác định của u là tập hợp các x∈E sao cho hàm đồng nhất của Sp(u) thuộc L2(Sp(u),μx) (loc. cit.). Vì μpA(x)=φA⋅μx với x∈E (hệ quả của Prop. 5 của IV, p. 275), ta có pA(x)∈ dom(u) nếu x∈ dom(u).
Cho x∈ dom(u) và y=pA(x); ta có y∈ dom(u)∩EA theo c). Độ đo phổ của u(y) tương đối với u là ∣IdSp(u)∣2⋅μy(loc. cit.). Vì μy có giá trong A, điều tương tự cũng đúng với μu(y), do đó u(y)∈EA theo a).
Cho λ∈ Sp(u). Ảnh của p{λ} là không gian con thực sự của u tương đối với λ.
Cho x∈ dom(u). Gọi μ (tương ứng ν ) là độ đo phổ của phần tử x đối với u (tương ứng là độ đo phổ của (x,u(x)) đối với u). Ta có ν= IdSp(u)⋅μ (Hệ quả của Mệnh đề 5 của IV, p. 275). Nếu u(x)=λx, ta cũng có ν=λμ, do đó có đẳng thức IdSp(u)⋅μ=λμ. Điều này suy ra rằng giá của μ được chứa trong {λ}(xem INT, V, p. 46, § 5, no3, Hệ quả 2) và do đó x thuộc ảnh của p{λ} (Mệnh đề 9, a)).
Ngược lại, giả sử rằng x thuộc ảnh Eλ của p{λ}. Khi đó x thuộc dom(u) và u(x) cũng thuộc Eλ(loc. cit., b)). Vì φ{λ}⋅ (IdSp(u)−λ ) =0, ta có quan hệ p{λ}∘(u−λ1E)⊂0 (Mệnh đề 5 của IV, p. 275, c)), do đó 0=p{λ}(u(x))−λp{λ}(x)=u(x)−λx.
Cho λ∈C. Ta có λ∈ Sp(u) khi và chỉ khi, với mọi lân cận mở V của λ trong C, phép chiếu phổ pV của u đối với V là khác không.
Nếu λ∈/ Sp(u), thì tồn tại một lân cận mở V của λ trong C không giao với Sp(u), và khi đó pV=p∅=0.
Ngược lại, giả sử rằng tồn tại một lân cận mở V của λ trong C sao cho pV=0. Cho c>0 là sao cho đĩa có tâm λ và bán kính c được chứa trong V.
Cho x∈ dom(u) và gọi μx là độ đo phổ của x đối với u. Vì μx(V)=⟨x∣pV(x)⟩=0, ta tính được
∫C∣z−λ∣2dμx(z)=∫C−V∣z−λ∣2dμx(z)
⩾c2∫C−Vdμx(z)=c2∫Cdμx(z)=c2∥x∥2
Nhưng, mặt khác, ta có
∥u(x)−λx∥2=∫C∣z−λ∣2dμx(z)=∥u∗(x)−λx∥2
(công thức (8), p. 272), do đó ∥u(x)−λx∥⩾c∥x∥ và ∥u∗(x)−λx∥⩾c∥x∥. Suy ra rằng λ thuộc tập giải thức của u (Bổ đề 5 của IV, p. 248). Điều này kết thúc chứng minh.
Cho A là một tập mở trong C và n∈N. Nếu A chứa n phần tử của Sp(u), thì chiều của ảnh của phép chiếu phổ pA của u tương đối với A ít nhất bằng n.
Cho λ1,...,λn là các phần tử phân biệt của phổ của u thuộc A. Tồn tại một họ (Vi)1⩽i⩽n các tập mở rời nhau từng đôi một của C sao cho λi∈Vi với 1⩽i⩽n. Gọi B là hợp của các tập Vi. Ảnh của pA chứa ảnh của phép chiếu phổ pB; hơn nữa pB là tổng của các phép chiếu pVi, và vì ảnh của pVi trực giao với ảnh của pVj với mọi i=j, kết quả suy ra từ Mệnh đề 10.
5. Công thức Helffer–Sjöstrand
Trong số này, E ký hiệu một không gian Hilbert phức. Ta sẽ thu được một công thức cho một số trường hợp của phép tính phiếm hàm của một toán tử từng phần tự liên hợp, được biểu diễn trực tiếp theo giải thức của toán tử đang xét.
Ta trang bị R (tương ứng C) với độ đo Lebesgue, ký hiệu bởi μ, và ta đồng nhất nhóm R và nhóm đối ngẫu của nó bằng ánh xạ (x,y)↦ exp(2iπxy) (xem Hệ quả 3 của II, p. 236).
Với mọi hàm f được xác định và khả vi trên một tập mở U của R2, đồng nhất với C, có các tọa độ thực x và y, ta đặt
Khi đó fε liên tục và bị chặn, và fε hội tụ về f trong Cb(R) khi ε tiến tới 0.
Tính liên tục của fε là một hệ quả của INT, IV, p. 144, § 4, no3, cor. 1, vì f có giá compact. Hơn nữa, nếu r là số sao cho giá của f được chứa trong [−r,r]×R, ta có
∣fε(x)∣⩽2∥f∥∞∫−rr√(x−y)2+ε21dy⩽ε4r∥f∥∞
do đó fε bị chặn.
Khai triển Taylor đến cấp 1 (FVR, I, p. 30, prop. 3) và công thức (13) chứng minh rằng tồn tại M⩾0 và một hàm ϱ1 trên R2 sao cho
f(y+iγ)=f(y)+iγf′(y)+γ2ϱ1(y;γ), and ∣ϱ1(y;γ)∣⩽M,
với mọi y∈R và γ∈R. Vì ánh xạ y↦f(y+iγ) có giá được chứa trong [−r,r] với mọi γ∈R, ánh xạ y↦ϱ1(y;γ) có giá được chứa trong [−r,r], với mọi γ∈R.
do đó F(f′)F(σε) hội tụ về 0 trong L1(R) khi ε tiến tới 0. Vì f′ và σε thuộc L2(R), Mệnh đề 14 của II, p. 223 suy ra rằng f′∗σε=F(F(f′)F(σε)) hội tụ về 0 trong Cb(R).
Với mọi ε>0, độ đo dương δε⋅dx trên R có khối lượng toàn phần bằng 1 (xem FVR, III, p. 7). Tập hợp các độ đo δε⋅dx với ε>0 và bộ lọc cảm sinh trên tập hợp này bởi bộ lọc các lân cận của 0 trong R+∗ thỏa mãn các giả thiết của Bổ đề 4 của INT, VIII, p. 137, § 2, no7. Các độ đo δε⋅dx do đó hội tụ trong M1(R) tới độ đo điểm ε0 khi ε tiến tới 0. Suy ra f∗δε→f trong Cb(R) (INT, VIII, p. 163, § 4, no4). Bổ đề được chứng minh.
Cho u là một toán tử từng phần tự liên hợp trên E. Cho f∈D(R) và f∈D(C) là một mở rộng gần giải tích của f. Cho h là ánh xạ từ C vào L(E) được xác định bởi
h(λ)=∂z∂f(λ)R(u,λ)
nếu λ∈C−R và h(λ)=0 nếu λ∈R. Khi đó h là μ-khả tích trên C và
f(u)=−π1∫Ch(λ)dμ(λ)
Ánh xạ h đo được và giá của nó là compact. Vì u là tự liên hợp, ta có ∥R(u,λ)∥⩽∣I(λ)∣−1 với mọi λ∈C−R (Mệnh đề 17 của IV, p. 248). Do đó, ánh xạ h bị chặn theo công thức (13), và do đó nó nguyên trên C.
Cho ε∈R+∗. Ký hiệu Fε+ (tương ứng Fε−) là tập đóng trong C của các λ∈C sao cho I(λ)⩾ε (tương ứng I(λ)⩽−ε ). Ta có
Cho r>0 sao cho giá của h được chứa trong C=[−r,r]2. Ta ký hiệu Rε+ là hình hộp [−2r,2r]×[ε,2r] trong C. Nó là một tập con đa diện địa phương của C (VAR, R2, 11.3, p. 48). Nó thỏa mãn các điều kiện sau:
(i) Ta có Rε+⊂2C∩Fε+;
(ii) Tập hợp Rε+ chứa giao của Fε+ và giá của h;
(iii) Biên chính quy ∂Rε+ (VAR, R2, 11.3.2, p. 49) chứa đoạn Sε=[−r,r]+iε⊂C;
(iv) Ta có h(λ)=0 nếu λ∈∂Rε+−Sε.
Gọi dλ (tương ứng dλ ) là dạng vi phân 1 trên C là vi phân của ánh xạ đồng nhất của C (tương ứng của phép liên hợp phức). Gọi g là hàm trên C−R nhận giá trị trong L(E) sao cho g(λ)=f(λ)R(u,λ) với λ∈C−R. Đặt ω=gdλ; nó là một dạng vi phân 1 trên C−R, có giá compact và nhận giá trị trong L(E). Vì giải thức của u là chỉnh hình (Mệnh đề 14 của IV, p. 246), ta có
Đo vectơ liên kết với dω (VAR, R2, 10.4.3, p. 43) là đo có mật độ −2ih đối với đo Lebesgue. Áp dụng công thức Stokes cho tập con đa diện địa phương Rε+ và cho dạng vi phân ω (VAR, R2, 11.3.4, p. 49), do đó ta thu được
Khi fε→f khi ε→0 trong Cb(R) (Bổ đề 7), tự đồng cấu vε=πfε(u) hội tụ đến πf(u) trong L(E) (Mệnh đề 5 của IV, p. 275). Định lý được chứng minh.
6. Các tôpô giải thức và tính liên tục của phép tính phiếm hàm
Trong No. này, E ký hiệu một không gian Hilbert phức. Nhắc lại rằng A(E) ký hiệu tập hợp các toán tử từng phần tự liên hợp trên E. Ta sẽ mở rộng sang A(E) các tính chất liên tục của No. 8 của IV, p. 194.
Cho T là một tôpô lồi địa phương trên L(E). Tôpô giải thức T trên A(E) là tôpô mịn nhất sao cho các ánh xạ u↦R(u,λ) từ A(E) vào L(E) được trang bị tôpô T là liên tục với mọi λ∈C−R.
Cho T là một tôpô lồi địa phương trên L(E) kém mịn hơn tôpô không gian Banach của L(E).
a) Cho f∈C0(R). Với mọi dãy (un)n∈N trong A(E) hội tụ đến u đối với tôpô giải thức T, dãy (f(un))n∈N hội tụ đến f(u) trong không gian L(E) được trang bị tôpô T;
b) Giả sử rằng mọi u∈A(E) thừa nhận một hệ cơ bản đếm được các lân cận đối với tôpô giải thức T. Ánh xạ từ C0(R)×A(E) vào không gian L(E) được trang bị tôpô T xác định bởi (f,u)↦f(u) là liên tục.
Ta hãy chứng minh a). Tôpô T trên L(E) là cực đại của các tôpô được xác định bởi các nửa chuẩn liên tục đối với tôpô T (EVT, II, p. 26, Hệ quả và nhận xét sau đó). Vì vậy chỉ cần chứng minh rằng với mọi nửa chuẩn p trên L(E) liên tục đối với tôpô T, dãy p(f(un)−f(u)) hội tụ đến 0 (TG, I, p. 51, Mệnh đề 10).
Cho p là một nửa chuẩn như vậy. Gọi L(E)p là không gian Banach tách được hoàn thành của không gian L(E) được trang bị nửa chuẩn p, và gọi ϖ là ánh xạ chính tắc từ L(E) vào L(E)p; ánh xạ này liên tục, và ta có p(u)=∥ϖ(u)∥p với mọi u∈L (E), trong đó chuẩn là chuẩn của không gian L(E)p.
Vì T kém mịn hơn tôpô không gian Banach của L (E), tồn tại c⩾0 sao cho p(u)⩽c∥u∥ với mọi u∈L(E).
Giả sử trước hết rằng f∈D(R). Gọi f là một mở rộng giải tích gần đúng của f. Ta ký hiệu bởi μ độ đo Lebesgue trên C. Theo công thức Helffer–Sjöstrand (Định lý 2 của IV, p. 284), ta có
ϖ(f(un))=−π1∫C∂z∂f(λ)ϖ(R(un,λ))dμ(λ)(14)
với mọi n∈N.
Cho λ∈C−R. Theo giả thiết, dãy các giải thức R(un,λ) hội tụ đến R(u,λ) trong L(E) được trang bị tôpô T, do đó dãy (ϖ(R(un,λ)))n hội tụ đến ϖ(R(u,λ)) trong không gian Banach L(E)p.
Với mọi n∈N, ta có
∥∂z∂f(λ)R(un,λ)∥⩽∣I(λ)1∂z∂f(λ)∣
(Mệnh đề 17 của IV, p. 248), do đó
∥∂z∂f(λ)ϖ(R(un,λ))∥p⩽c∣I(λ)1∂z∂f(λ)∣
Đánh giá (13) của IV, p. 281 cho thấy vế phải của bất đẳng thức này là một hàm bị chặn với λ∈C−R; nó khả tích trên C vì f có giá compact. Từ định lý Lebesgue (INT, IV, p. 137, § 3, no7, Định lý 6) và từ công thức Helffer–Sjöstrand áp dụng cho f, suy ra rằng ϖ(f(un)) hội tụ đến ϖ(f(u)), do đó p(f(un)−f(u)) tiến tới 0.
Bây giờ giả sử rằng f∈C0(R). Cho ε>0. Tồn tại một hàm fε trong D(R) sao cho ∥fε−f∥∞⩽ε(cf. Mệnh đề 4, a) của IV, p. 202 và INT, III, p. 45, § 1, no2, Mệnh đề 3). Theo Mệnh đề 5, c) của IV, p. 275, khi đó ta có ∥f(u)−fε(u)∥⩽ε và ∥f(un)−fε(un)∥⩽ε với mọi n∈N. Do đó, ta thu được
p(f(un)−f(u))⩽2cε+p(fε(un)−fε(u))
với mọi n∈N. Vì fε∈D(R), dãy (p(fε(un)−fε(u)))n∈N hội tụ đến 0 theo trường hợp trước, và do đó p(f(un)−f(u)) hội tụ đến 0. Điều này hoàn tất chứng minh a).
Ta chứng minh mệnh đề b). Dưới giả thiết liên quan đến T, từ TG, IX, p. 17, Mệnh đề 10 và nhận xét sau đó, và từ mệnh đề a), suy ra rằng ánh xạ u↦f(u) từ A(E) vào L(E) là liên tục khi f∈C0(R). Vì các ánh xạ f↦f(u) từ C0(R) vào L(E) là liên tục với chuẩn ⩽1 đối với mọi u∈A(E) (Mệnh đề 5, c) của IV, p. 275), mệnh đề b) suy ra từ TG, X, p. 13, Hệ quả 3.
Cho S là một tập hợp các phần bị chặn của E. Tôpô S trên L(E) (EVT, III, p. 13) là một tôpô lồi địa phương ít tinh hơn tôpô không gian Banach của L(E).
Cho Tb là tôpô không gian Banach của L(E). Đối với tôpô giải thức Tb, mọi u∈A(E) đều có một hệ cơ bản đếm được các lân cận.
Thực vậy, chỉ cần chứng minh rằng với mọi λ∈C-R và mọi ε>0, tồn tại λ′∈Q+iQ∗ và một số nguyên n⩾1 sao cho mọi toán tử từng phần v∈A(E) thỏa mãn ∥R(v,λ′)−R(u,λ′)∥<1/n cũng thỏa mãn điều kiện ∥R(v,λ)−R(u,λ)∥<ε; viết
∥R(v,λ)−R(u,λ)∥⩽∥R(v,λ)−R(v,λ′)∥
+∥R(v,λ′)−R(u,λ′)∥+∥R(u,λ′)−R(u,λ)∥
tính chất này suy ra từ công thức (8) của IV, p. 245, từ các ước lượng của mệnh đề 17 của IV, p. 248, và từ sự kiện rằng Q+iQ∗ là trù mật khắp nơi trong C−R.
Kết luận của mệnh đề không đúng nói chung nếu C0(R) được thay bởi Cb(R) (bài tập 29 của IV, p. 366, e)). Tuy nhiên, ta có kết quả sau.
Gọi Ts là tôpô hội tụ đơn giản trên L(E). Cho f∈Cb(R). Với mọi dãy (un)n∈N trong A(E) hội tụ về u đối với tôpô giải thức Ts, dãy (f(un))n∈N hội tụ về f(u) trong L(E) được trang bị tôpô Ts.
Cho (un) là một dãy trong A(E) hội tụ về u đối với tôpô giải thức Ts. Cho x∈E và cho ε>0.
Với mỗi số nguyên N∈N, cho φN∈K(R) là một hàm có giá đỡ được chứa trong [−(N+1),N+1] sao cho 0⩽φN⩽1 và φN(t)=1 với mọi t∈[−N,N]. Các hàm φN hội tụ đơn giản về 1 khi N tiến tới vô hạn, và thỏa mãn ∣φN∣⩽1, do đó mệnh đề 6 của IV, p. 276 suy ra rằng tồn tại N∈N sao cho ∥φN(u)x−x∥⩽ε. Đặt fN=fφN.
Với mọi n∈N, ta có
∥f(un)x−f(u)x∥⩽∥f(un)x−fN(un)x∥+(15)
∥fN(un)x−fN(u)x∥+∥fN(u)x−f(u)x∥
Với mọi v∈A (E), ta có
∥f(v)x−fN(v)x∥=∥(f(1−φN))(v)x∥
⩽∥f(v)∥∥x−φN(v)x∥⩽∥f∥∞∥x−φN(v)x∥
(mệnh đề 5, c) của IV, p. 275). Vì φN∈C0(R), mệnh đề a) của mệnh đề 11 áp dụng cho tôpô giải thức Ts suy ra rằng φN(un)x hội tụ về φN(u)x khi n→+∞. Do đó, với mọi n đủ lớn, ta có
∥x−φN(un)x∥⩽∥x−φN(u)x∥+ε∥x∥⩽(1+∥x∥)ε
Bất đẳng thức (15) khi đó trở thành
∥f(un)x−f(u)x∥⩽∥f∥∞(2+∥x∥)ε+∥fN(un)x−fN(u)x∥
với mọi n đủ lớn. Chứng minh được kết thúc nhờ mệnh đề a) của tài liệu đã dẫn, áp dụng cho hàm fN∈C0(R) và cho tôpô giải thức Ts.
Cho E là một không gian vectơ tôpô tách. Cho (E1,∥⋅∥1) và (E2,∥⋅∥2) là các không gian con trù mật của E được trang bị các cấu trúc không gian Hilbert sao cho các phép nhúng chính tắc của E1 và E2 vào E là liên tục. Cho F là một không gian con của E1∩E2, trù mật trong E1 và E2 đối với các cấu trúc không gian Hilbert này. Nếu ∥x∥1=∥x∥2 với mọi x∈F, thì E1=E2 và ∥⋅∥1=∥⋅∥2.
Cho x∈E1. Tồn tại một dãy (xn)n∈N trong F sao cho xn hội tụ đến x trong không gian Hilbert E1. Vì ∥xn−xm∥2=∥xn−xm∥1 với mọi số nguyên n và m, dãy (xn) là một dãy Cauchy trong E2. Gọi y là giới hạn của nó. Ta có ∥y∥2= lim∥xn∥2=∥x∥1. Vì các phép nhúng chính tắc của E1 và E2 vào E là liên tục, ta có xn→x trong E và tương tự xn→y trong E. Do đó suy ra rằng x=y và ∥x∥1=∥x∥2; đặc biệt, E1⊂E2. Ta kết luận bằng tính đối xứng.
Cho E là một không gian Hilbert phức. Cho u là một toán tử bộ phận tự liên hợp dương trên E. Với mọi α∈R+, ta đặt uα=f(u), trong đó f là ánh xạ liên tục x↦xα của R+ vào R. Đây là một toán tử bộ phận tự liên hợp dương (Cor. 1, a) của IV, p. 273). Khi u∈L (E), ký hiệu này tương thích với ký hiệu liên quan đến đại số có đối hợp L(E)(cf. Prop. 16 của I, p. 118). Nếu α là một số nguyên dương, toán tử bộ phận uα trùng với toán tử bộ phận được xác định bởi hợp thành u∘⋯∘u (Cor. 1, b) của IV, p. 273).
Cho β∈R+. Ta có uαβ=(uα)β (Cor. 4 của IV, p. 274). Đặc biệt, nếu α>0, thì toán tử bộ phận u1/α là toán tử bộ phận tự liên hợp dương duy nhất v trên E sao cho vα=u.
Giả sử rằng 0⩽α⩽β. Khi đó dom(uβ)⊂ dom(uα) : thực vậy, với mọi số thực x⩾0, ta có xα⩽1+xβ, và kết quả khi đó suy ra từ định nghĩa của miền xác định của uα(cf. Prop. 3 của IV, p. 271).
Cho u là một toán tử đóng với miền xác định trù mật từ E vào một không gian Hilbert phức F. Toán tử bộ phận u∗u là tự liên hợp và dương (Prop. 12 của IV, p. 241). Ta viết ∣u∣=(u∗u)1/2.
Cho u là một toán tử đóng có miền xác định trù mật từ E vào một không gian Hilbert phức F.
a) Miền xác định của toán tử từng phần tự liên hợp dương ∣u∣ trùng với miền xác định của u;
b) Tồn tại một ánh xạ tuyến tính đẳng cự từng phần duy nhất j từ E vào F sao cho u=j∣u∣ và Ker(j) = Ker(u);
c) Cho u1 là một toán tử tự liên hợp dương trên E và j1 là một ánh xạ tuyến tính đẳng cự từng phần từ E vào F sao cho u=j1u1 và Ker(j1) = Ker(u1). Khi đó u1=∣u∣ và j1=j.
Miền xác định của u∗u được chứa trong dom(u) và trong dom(∣u∣). Nó trù mật trong các không gian Hilbert Eu(loc. cit.) và E∣u∣ (Hệ quả 1, e) của IV, p. 273) và, với mọi x∈ dom(u∗u), ta có
∥x∥u2=∥x∥2+⟨u(x)∣u(x)⟩=∥x∥2+⟨x∣(u∗u)(x)⟩(16)
=∥x∥2+⟨∣u∣(x)∣∣u∣(x)⟩=∥x∥∣u∣2
Do đó, các không gian Hilbert Eu và E∣u∣ là bằng nhau (Bổ đề 8), suy ra dom(u) = dom(∣u∣) và ∥u(x)∥ = ∥∣u∣(x)∥ với mọi x∈ dom(u).
Công thức (16) suy ra rằng Ker(u) = Ker(∣u∣) và tồn tại một ánh xạ tuyến tính đẳng cự duy nhất v từ Im(∣u∣) lên Im(u) thỏa mãn v(∣u∣(x))=u(x) với mọi x∈ dom(∣u∣). Vì ∣u∣ là tự liên hợp, ta có Im(∣u∣)∘= Ker(∣u∣) (Mệnh đề 7, c) của IV, p. 236). Do đó tồn tại một phép đẳng cự từng phần duy nhất j từ E vào F mở rộng v và triệt tiêu trên Ker(∣u∣) = Ker(u). Vì E = Ker(u)⊕ Im(∣u∣), ánh xạ này là ánh xạ tuyến tính đẳng cự từng phần duy nhất sao cho u=j∣u∣ và Ker(j) = Ker(u).
Ta hãy chứng minh c). Ta có u1j1∗j1u1⊂(j1u1)∗j1u1=u∗u. Ánh xạ tuyến tính j1∗j1 là phép chiếu trực giao có hạt nhân Ker(j1) = Ker(u1) (TVS, V, p. 41, Mệnh đề 5 (ii)) và do đó có ảnh Ker(u1)∘= Im(u1) (Mệnh đề 7, c) của IV, p. 236). Do đó, u12⊂u∗u, suy ra u12=u∗u vì hai toán tử này là tự liên hợp. Vì vậy, suy ra u1=(u∗u)1/2, và mệnh đề về tính duy nhất trong b) cuối cùng chứng minh rằng j1=j.
Cho u là một toán tử đóng có miền xác định trù mật từ E vào một không gian Hilbert phức F. Cặp (j,∣u∣) được xác định bởi Mệnh đề 12 được gọi là phân tích cực của u.
Giả sử rằng u∈L(E;F). Phân tích cực của nó theo nghĩa của định nghĩa này trùng với phân tích cực của Định nghĩa 4 của I, p. 140.
8. Các toán tử tự liên hợp được xác định bởi một dạng Hermit bộ phận dương
Trong Số này, E ký hiệu một không gian Hilbert phức.
Cho D là một không gian con vectơ của E. Một dạng Hermit bộ phận trên E có miền xác định D là một sự tương ứng q=(Γ,E×E,C) có miền xác định là D×D, có đồ thị Γ là phiếm hàm, và sao cho ánh xạ từ D×D vào C được xác định bởi Γ là một dạng Hermit. Ta viết dom(q) =D.
Ta nói rằng q là một dạng bộ phận dương nếu dạng Hermit mà nó xác định là dương.
Cho u là một toán tử bộ phận tự liên hợp trên E. Với mọi phần tử x và y của E, ta ký hiệu bởi μx,y (tương ứng μx) độ đo phổ của (x,y) (tương ứng của x) đối với u.
Cho (j,∣u∣) là phân tích cực của u (Định nghĩa 7 của IV, p. 290). Ta ký hiệu bởi D′ miền xác định của ∣u∣1/2. Theo định nghĩa, đây là không gian của các x∈E sao cho hàm z↦∣z∣ khả tích trên Sp(u) đối với độ đo μx. Nó chứa dom(u).
Cho (x,y)∈D′×D′. Hàm đồng nhất trên Sp(u) là khả tích đối với độ đo μx,y (Mệnh đề 4, b) của IV, p. 271); ta đặt
qu(x,y)=∫tdμx,y(t)
Sp(u)
Nếu y∈ dom(u), ta có qu(x,y)=⟨x∣u(y)⟩ theo công thức (6) của IV, p. 271. Ánh xạ qu là một dạng Hermit trên D′. Nó xác định một dạng Hermit bộ phận trên E, được gọi là liên kết với u. Nếu toán tử u là dương, thì dạng qu là một dạng Hermit bộ phận dương.
Cho u là một toán tử từng phần tự liên hợp dương trên E. Cho qu là dạng từng phần dương liên kết.
a) Miền của qu là miền của u1/2, và với mọi x và y trong dom(u1/2), ta có qu(x,y)=⟨u1/2(x)∣u1/2(y)⟩;
b) Dạng từng phần dương qu là đóng. Miền của u là một lõi của qu.
Vì u là dương, ta có ∣u∣=u. Miền dom(∣u∣1/2) của qu do đó trùng với dom(u1/2), và ta có
qu(x,y)=∫tdμx,y(t)=∫t1/2⋅t1/2dμx,y(t)
Sp(u) Sp(u)
=⟨u1/2(x)∣u1/2(y)⟩
với x và y trong dom(qu) (mđề. 4, b) của IV, p. 271). Điều này chứng minh mệnh đề a).
Hơn nữa, không gian tiền Hilbert Equ khi đó trùng với không gian tiền Hilbert Eu1/2 liên kết với u1/2 (đn. 4 của IV, p. 230). Vì u1/2 là một toán tử từng phần đóng, không gian này là một không gian Hilbert (mđề. 4 của IV, p. 230) và dom(u) trù mật trong Eu1/2 theo mệnh đề e) của hệ quả 1 của IV, p. 273.
Cho q là một dạng Hermit từng phần trên E với miền D trù mật trong E. Với y∈D, ta ký hiệu bằng λy dạng tuyến tính x↦q(y,x) trên D. Ta ký hiệu bằng D tập hợp các y∈D sao cho dạng tuyến tính λy liên tục trên D.
Cho y∈D. Vì D trù mật trong E, tồn tại một dạng tuyến tính liên tục duy nhất trên E mở rộng λy. Ta lại ký hiệu nó bằng λy. Tồn tại một phần tử duy nhất u(y) trong E sao cho λy(x)=⟨u(y)∣x⟩ với mọi x∈E (EVT, V, p. 15, đl. 3). Ánh xạ y↦u(y) là tuyến tính từ D vào E; toán tử từng phần u trên E với miền D được gọi là toán tử từng phần biểu diễn q. Do đó ta có
Cho q là một dạng bộ phận dương đóng và q′ là một dạng Hermit dương liên tục trên E. Dạng Hermit dương được xác định trên dom(q) bởi (x,y)↦q(x,y)+q′(x,y) là một dạng Hermit dương bộ phận đóng có cùng miền với q. Nó được ký hiệu bởi q+q′.
Theo EVT, V, p. 16, Hệ quả 2, tồn tại một ánh xạ tuyến tính duy nhất u′∈L(E) sao cho q′(x,y)=⟨x∣u′(y)⟩ với mọi (x,y)∈E×E. Tự đồng cấu u′ là dương và toán tử bộ phận biểu diễn dạng Hermit dương bộ phận đóng q+q′ là u+u′.
Cho q là một dạng bộ phận dương đóng có miền trù mật trên E và u là toán tử bộ phận biểu diễn q.
a) Miền của u là trù mật trong không gian Hilbert Eq;
b) Toán tử bộ phận u là tự liên hợp và dương.
Vì q đóng, không gian tiền Hilbert Eq của Định nghĩa 9 là một không gian Hilbert.
Hãy chứng minh rằng toán tử bộ phận u+1E với miền dom(u) là song ánh. Vì
⟨x∣(u+1E)(x)⟩=q(x,x)+∥x∥2⩾∥x∥2
với mọi x∈ dom(u), toán tử bộ phận này là đơn ánh.
Cho y∈E. Dạng tuyến tính trên Eq xác định bởi x↦⟨y∣x⟩ là liên tục vì ∥x∥⩽∥x∥q. Do đó tồn tại y′∈Eq sao cho
⟨y∣x⟩=(y′∣x)q=⟨y′∣x⟩+q(y′,x)
với mọi x∈Eq (EVT, V, p. 15, Định lý 3). Theo định nghĩa, điều này có nghĩa là y′ thuộc miền của toán tử bộ phận u biểu diễn dạng bộ phận (x,y)↦(x∣y)q với miền dom(q), và u(y′)=y. Vì u=u+1E theo nhận xét trên, suy ra toán tử bộ phận u+1E cũng là toàn ánh, do đó song ánh.
Hãy chứng minh rằng miền của u là trù mật trong Eq. Cho y∈Eq vuông góc với dom(u) trong Eq. Tồn tại y′∈ dom(u) sao cho u(y′)+y′=y. Khi đó ta có
0=(y∣y′)q=⟨y∣y′⟩+q(y,y′)=⟨y∣y′+u(y′)⟩=∥y∥2
do đó y=0. Mệnh đề a) vì thế được chứng minh.
Vì dom(q) trù mật trong E và ∥x∥⩽∥x∥q với mọi x∈ dom(q), mệnh đề a) suy ra rằng dom(u) trù mật trong E. Vì dạng q là Hermit (tương ứng dương), với mọi x và y trong dom(u), ta có
⟨y∣u(x)⟩=q(y,x)=q(x,y)=⟨x∣u(y)⟩=⟨u(y)∣x⟩
(resp. ⟨x∣u(x)⟩=q(x,x)⩾0), sao cho u là đối xứng (tương ứng, dương). Cuối cùng, toán tử riêng phần u+1E là tự liên hợp theo hệ quả của mệnh đề 10 của IV, p. 240, và điều tương tự cũng đúng đối với u.
Ánh xạ liên kết với một toán tử tự liên hợp dương u trên E dạng riêng phần dương qu là một song ánh giữa tập hợp các toán tử riêng phần tự liên hợp dương trên E và tập hợp các dạng riêng phần dương đóng với miền xác định trù mật trên E. Song ánh ngược liên kết với một dạng riêng phần dương q toán tử riêng phần biểu diễn q.
Theo mệnh đề 13, b) và 14, b), các ánh xạ được mô tả trong mệnh đề là xác định tốt. Ta hãy chứng minh rằng chúng là các song ánh ngược của nhau.
Cho u là một toán tử riêng phần tự liên hợp dương trên E và q là dạng riêng phần dương liên kết với u. Gọi v là toán tử tự liên hợp dương biểu diễn q. Cho y∈ dom(u)⊂ dom(u1/2) = dom(q). Với mọi x∈ dom(q) = dom(u1/2), ta có
q(y,x)=⟨u1/2(y)∣u1/2(x)⟩=⟨u(y)∣x⟩
do đó y thuộc miền xác định của v và thỏa mãn v(y)=u(y). Toán tử riêng phần v vì vậy là một mở rộng của u; vì u và v là tự liên hợp, chúng bằng nhau.
Ngược lại, cho q là một dạng riêng phần dương đóng với miền xác định trù mật và u là toán tử riêng phần tự liên hợp dương biểu diễn q. Ta có dom(u)⊂ dom(u1/2). Với x và y trong dom(u), ta có
qu(x,y)=⟨u1/2(x)∣u1/2(y)⟩=⟨x∣u(y)⟩=q(x,y)
theo mệnh đề 13, a). Như vậy, các không gian Hilbert Eq và Equ đều chứa dom(u) như một không gian con trù mật (mệnh đề 14, a) và mệnh đề 13, b), tương ứng) và ∥x∥q=∥x∥qu với mọi x∈ dom(u). Suy ra rằng Eq=Equ và q=qu (bổ đề 8).
Cho q là một dạng riêng phần dương đóng trên E và u là toán tử tự liên hợp dương biểu diễn q. Miền xác định của q bằng miền xác định của (1E+u)1/2, và ta có
∥x∥q=∥(1E+u)1/2x∥
với mọi x∈ dom(q).
Miền của q bằng miền của u1/2 (Mệnh đề 13, a)), miền này trùng với miền của (1E+u)1/2(cf. Mệnh đề 3 của IV, p. 271). Với mọi x∈ dom(u)⊂ dom(u1/2), ta có
Cho u là một toán tử từng phần dương trên E, không nhất thiết đóng. Ta định nghĩa một dạng từng phần dương q có miền dom(u) bởi
q(x,y)=⟨x∣u(y)⟩
với x và y thuộc dom(u). Gọi Eq là không gian tiền-Hilbert phân tách được của Định nghĩa 9 của IV, p. 292. Gọi Eq là phần hoàn thiện Hilbert của Eq, mà tích vô hướng của nó lại được ký hiệu bởi (x,y)↦(x∣y)q. Vì đơn ánh chính tắc ι từ Eq vào E liên tục, nó có một mở rộng liên tục duy nhất, ký hiệu là ι, từ Eq vào E. Dạng Hermit q liên tục trên Eq, và do đó cũng được mở rộng thành một dạng Hermit dương liên tục duy nhất q trên Eq.
Ta hãy chứng minh rằng ánh xạ tuyến tính ι là đơn ánh. Cho x∈ Ker(ι). Xét một dãy (xn)n∈N trong Eq hội tụ tới x trong Eq. Khi đó
limn→+∞ι(xn)=ι(x)=0,
do đó dãy (xn)n∈N hội tụ tới 0 trong E. Cho y∈Eq. Vì q liên tục trên Eq, suy ra
Vì không gian Eq trù mật trong Eq, suy ra x=0, như mong muốn.
Đồng nhất Eq với ảnh của nó qua ι trong E, ta hiểu q như một dạng từng phần dương đóng có miền trù mật mở rộng q. Toán tử tự liên hợp dương liên kết với q là một mở rộng tự liên hợp của u. Nó được gọi là mở rộng Friedrichs của u.
Cho c∈R+. Cho q là một dạng Hermit bộ phận đóng với miền xác định trù mật sao cho q(x,x)⩾−c∥x∥2 với mọi x thuộc miền của q. Điều này có nghĩa là dạng Hermit bộ phận đóng với miền dom(q) được xác định bởi q(x,y)=q(x,y)+c⟨x∣y⟩ là một dạng bộ phận dương. Theo Định lý 3, các dạng như vậy do đó tương ứng với các toán tử bộ phận tự liên hợp u trên E sao cho u+c1E là dương, nghĩa là sao cho u bị chặn dưới (Định nghĩa 7 của IV, p. 237) bởi −c.
Ngược lại, cho u là một toán tử bộ phận đối xứng trên E sao cho
⟨x∣u(x)⟩⩾−c∥x∥2(17)
với mọi x∈ dom(u). Khi đó v=u+c1E là một toán tử bộ phận dương trên E. Mở rộng Friedrichs của u được định nghĩa là toán tử tự liên hợp v−c1E, trong đó v là mở rộng Friedrichs của v; nó là một mở rộng tự liên hợp của u, không phụ thuộc vào lựa chọn số thực c thỏa mãn (17).
9. Các nguyên lý biến phân cho phổ của các toán tử dương
Trong No. này, E là một không gian Hilbert phức khác không.
Gọi m là vế phải của đẳng thức cần chứng minh. Cho x∈E và gọi μx là độ đo phổ của x đối với u. Ta có
⟨x∣u(x)⟩=∫tdμx(t)
Sp(u)
⩾ inf(Sp(u))∫Sp(u)dμx(t)= inf(Sp(u))∥x∥2,
(công thức (6), p. 271), do đó inf(Sp(u))⩽m. Ngược lại, toán tử bộ phận u−m là dương, do đó inf(Sp(u))−m= inf(Sp(u−m⋅1E))⩾0 (Mệnh đề 17 của IV, p. 248).
Mệnh đề 9 của I, p. 139 tương ứng với trường hợp riêng của mệnh đề này khi u là một phần tử Hermit của L (E), trong trường hợp đó nó nhất thiết bị chặn dưới. Trong trường hợp này, ta cũng có
sup(Sp(u)) = supx∈dom(u)−{0}∥x∥2⟨x∣u(x)⟩
(ntd.); nếu u không thuộc L (E), thì cận trên nhỏ nhất này là +∞.
Cho u là một toán tử bộ phận chuẩn tắc trên E. Một số phức λ∈ Sp(u) thuộc phổ rời rạc của u nếu λ là cô lập trong Sp(u) và nếu λ là một trị riêng có bội số hữu hạn.
Ta ký hiệu Sps(u) là phổ rời rạc của u. Phần bù của nó trong Sp(u) được gọi là phổ cốt yếu của u và được ký hiệu là Spe(u).
Phổ cốt yếu của một toán tử bộ phận chuẩn tắc u trên E là đóng trong C, vì Sp(u) là đóng trong C và phần bù của phổ cốt yếu là mở trong Sp(u). Phổ rời rạc của u không nhất thiết là đóng trong C (bài tập 36 của IV, p. 369).
Cho E là một không gian Hilbert phức và u là một toán tử bộ phận chuẩn tắc trên E. Cho λ∈ Sp(u). Khi đó λ∈ Sps(u) khi và chỉ khi tồn tại một lân cận mở V của λ trong C sao cho phép chiếu phổ pV của u xác định bởi V có hạng hữu hạn.
Cho λ∈ Sps(u). Tồn tại một lân cận mở V của λ trong C sao cho Sp(u)∩V={λ}; khi đó phép chiếu phổ pV=p{λ} có hạng hữu hạn (Hệ quả của Mệnh đề 9 của IV, p. 278).
Ngược lại, giả sử tồn tại một lân cận mở V của λ sao cho phép chiếu phổ pV có hạng hữu hạn n∈N. Theo Hệ quả của Mệnh đề 10 của IV, p. 279, giao V∩ Sp(u) chứa nhiều nhất n phần tử, do đó λ là cô lập trong Sp(u). Vì vậy nó là một trị riêng của u có bội số phổ không vượt quá n theo Hệ quả của Mệnh đề 9 của IV, p. 278.
Trong phần còn lại của Số này, ta giả sử rằng E là vô hạn chiều; các tương tự của những kết quả dưới đây khi E là hữu hạn chiều được suy ra từ No.o4 của IV, p. 153.
Cho u là một toán tử tự liên hợp bị chặn dưới trên E. Cho c là một cận dưới của u; phổ của u được chứa trong [c,+∞[ (Mệnh đề 15). Giả sử phổ cốt yếu của u không rỗng. Khi đó ta ký hiệu ϱe là cận dưới lớn nhất của phổ cốt yếu của u, sao cho ϱe⩾c và ϱe là một phần tử của phổ của u. Ta đặt Sph(u)= Sp(u)∩[ϱe,+∞[; đây là một tập con đóng của Sp(u), do đó cũng của C, sao cho inf(Sph(u)) =ϱe; nó được gọi là phần trên của phổ của u. Nếu phổ cốt yếu của u rỗng, ta đặt Sph(u)=∅ và ϱe=+∞.
Giao Spb(u)= Sp(u)∩[0,ϱe[ được chứa trong phổ rời rạc của u, và do đó các phần tử của nó là các trị riêng cô lập có bội số hữu hạn; nó được gọi là phần dưới của phổ của u. Gọi Eb là không gian con đóng của E sinh bởi các không gian riêng tương ứng với các trị riêng λ∈ Spb(u). Theo Hệ quả của Mệnh đề 9 của IV, p. 278 và Mệnh đề 8 của IV, p. 278, không gian Eb là ảnh của phép chiếu phổ pSpb(u) được xác định bởi Spb(u). Vì Sp(u) là hợp rời nhau của Spb(u) và Sph(u), phần bù trực giao Eh của Eb là ảnh của phép chiếu phổ pSph(u) được xác định bởi Sph(u). Nếu Spb(u) là hữu hạn, thì không gian Eb có số chiều hữu hạn; khi đó không gian Eh là khác không, vì E được giả sử là vô hạn chiều.
Giả sử rằng Eb là hữu hạn chiều. Khi đó, với mọi số thực ε> 0, ảnh của phép chiếu phổ của u được xác định bởi [ϱe,ϱe+ε] là vô hạn chiều.
Nếu Eb là hữu hạn chiều, thì phổ cốt yếu của u là khác rỗng, do đó ϱe là hữu hạn và thuộc Spe(u). Hơn nữa, phổ dưới Spb(u) là hữu hạn, do đó tồn tại δ>0 sao cho [ϱe−δ,ϱe+δ]∩ Sp(u)⊂[ϱe,ϱe+δ]. Mệnh đề này suy ra từ Bổ đề 9.
Tập Spb(u)⊂[c,ϱe[ là đếm được, rời rạc và đóng trong [0,ϱe[. Nó là tập các giá trị của một dãy tăng ngặt (νk)0⩽k<Card(Spb(u)) các số thực dương; nếu Spb(u) là vô hạn, thì dãy (νk) hội tụ đến ϱe.
Đặt T = Spb(u)∩[0,ϱe[. Theo định nghĩa, nó là một tập con đóng và rời rạc của [c,ϱe[. Với mọi số nguyên i⩾1, tập Spb(u)∩[c,ϱe−1/i] là compact và rời rạc, do đó hữu hạn. Vì T là hợp của các tập hợp này với i⩾1, tập T là đếm được.
Điều này kết thúc chứng minh nếu Spb(u) là hữu hạn. Nếu Spb(u) là vô hạn, ta kết luận bằng cách áp dụng Bổ đề 2 của III, p. 90 cho ảnh S của T qua ánh xạ λ↦ϱe−λ.
Với mọi số nguyên k sao cho 0⩽k< Card(Spb(u)), gọi nk⩾1 là bội số của trị riêng νk của u. Đặt N=N∪{+∞}⊂R. Gọi M∈N là tổng của các bội số nk. Nó là chiều Hilbert của Eb, nếu ta đồng ý nói rằng một không gian có chiều Hilbert vô hạn là có chiều +∞∈N.
Với mọi số nguyên n sao cho 0⩽n<M, người ta định nghĩa λn(u)=νk, trong đó k⩾0 là số nguyên duy nhất sao cho
n0+⋯+nk−1⩽n<n0+⋯+nk
Nếu n∈N thỏa mãn n⩾M, người ta đặt λn(u)=ϱe. Trường hợp này chỉ có thể xảy ra nếu Spb(u) là hữu hạn, trong trường hợp đó ϱe là hữu hạn, vì giả sử rằng E là có chiều vô hạn.
Theo phép dựng, dãy (λn(u))n∈N là tăng và, với mọi phần tử λ của Spb(u), số các số nguyên n sao cho λn(u)=λ bằng bội số của λ như một trị riêng của u. Dãy (λn(u))n∈N tiến tới +∞ khi và chỉ khi phổ cốt yếu của u là rỗng.
Với mọi n∈N, ký hiệu Fn (tương ứng Fnu) là tập hợp các không gian con vectơ F⊂E có chiều n (tương ứng tập hợp các không gian con vectơ F⊂ dom(u) có chiều n).
Cho n∈N sao cho n<M và cho F∈Fnu. Ta nói rằng F thích nghi với u nếu F có một cơ sở trực chuẩn (fi)0⩽i⩽n−1 sao cho u(fi)=λi(u)fi với 0⩽i⩽n−1.
Cho F∈Fnu thích nghi với u. Không gian F được chứa trong Eb; nó được sinh bởi các vectơ riêng của u ứng với các trị riêng λ⩽λn−1(u), và nó chứa các không gian riêng tương ứng với các trị riêng λ<λn−1(u). Hơn nữa, với mọi tập con A đo được phổ quát của Sp(u), không gian F là ổn định dưới phép chiếu phổ pA được xác định bởi A (mđ. 9, c) của IV, p. 278).
Cho F∈Fnu là một không gian con thích nghi với u. Mọi vectơ riêng của u thuộc không gian F∘∩Eb đều có một trị riêng ⩾λn(u).
Cho ℓ sao cho λn−1(u)=νℓ. Cho x∈F∘∩Eb là một vectơ riêng của u ứng với một trị riêng λ, và cho k< Card(Spb(u)) sao cho λ=νk.
Điều kiện k<ℓ là không thể xảy ra, vì νk<νℓ, và không gian F khi đó sẽ chứa không gian con riêng ứng với trị riêng νk, mâu thuẫn với việc x trực giao với F. Nếu k=ℓ, thì x là một vectơ riêng ứng với trị riêng λn−1(u); vì x∈F∘, bội số nk lớn hơn nghiêm ngặt số các số nguyên i<n sao cho λi(u)=νk, điều này suy ra rằng λn(u)=λn−1(u). Cuối cùng, nếu k>ℓ, ta có λ=νk>νℓ=λn−1(u), do đó λ⩾λn(u).
b) Với mọi số nguyên n<M và với mọi không gian con F∈Fnu thích nghi với u, ta có λn(u)=rF(u);
c) Với mọi số nguyên n<M và với mọi không gian con F∈Fn+1u thích nghi với u, ta có λn(u)=RF(u).
Tồn tại một cơ sở trực chuẩn (en)0⩽n<M của không gian Eb sao cho en∈ dom(u) và u(en)=λn(u)en với mọi n sao cho 0⩽n<M. Với mọi x∈Eb∩ dom(u), do đó ta có
⟨x∣u(x)⟩=0⩽n<M∑λn(u)∣⟨en∣x⟩∣2
Với mọi số nguyên n sao cho 1⩽n<M+1, gọi Fn là không gian con có chiều n của Eb sinh bởi (e0,...,en−1). Ta có Fn⊂ dom(u) và Fn thích nghi với u.
Cho n∈N và F∈Fn. Ta hãy chứng minh rằng rF(u)⩽λn(u) và, do đó, rằng
(19) Fsup∈FnrF(u)⩽λn(u).
Nếu 0⩽n<M, đặc biệt nếu M là vô hạn, thì hạn chế của phép chiếu trực giao của E lên F vào Fn+1 không đơn ánh, do đó tồn tại x=0 trong Fn+1 trực giao với F. Vì
Nếu M∈N và n⩾M, thì với mọi số thực ε>0, tồn tại x có chuẩn bằng 1 trong dom(u), trực giao với F và có độ đo phổ μx có giá đỡ được chứa trong [ϱe,ϱe+ε] (Bổ đề 11 và Mệnh đề 9, a) của IV, p. 278), do đó
rF(u)⩽⟨x∣u(x)⟩=∫Sp(u)tdμx(t)⩽ϱe+ε=λn(u)+ε
theo định nghĩa. Vì ε>0 là tùy ý, do đó ta có rF(u)⩽λn(u). Bất đẳng thức (19) do đó được thiết lập.
Cho n∈N và F∈Fn+1u. Ta hãy chứng minh rằng RF(u)⩾λn(u) và, do đó, rằng
(20) Finf∈Fn+1uRF(u)⩾λn(u).
Nếu 0⩽n<M, nhận xét rằng hạn chế lên F của phép chiếu trực giao lên Fn không đơn ánh, do đó tồn tại một vectơ x=0 trong F trực giao với Fn. Đặt xb=pSpb(u)(x) và xh=pSph(u)(x). Do đó ta có x=xb+xh. Các phần tử xb và xh thuộc miền xác định của u (Mệnh đề 9, c) của IV, p. 278) và trực giao với Fn. Ta có cận dưới
⟨xb∣u(xb)⟩=i⩾n∑λi(u)∣⟨ei∣xb⟩∣2⩾λn(u)∥xb∥2
và ⟨xh∣u(xh)⟩⩾ϱe∥xh∥2 (công thức (18)), do đó
⟨x∣u(x)⟩=⟨xb∣u(xb)⟩+⟨xh∣u(xh)⟩
⩾λn(u)∥xb∥2+ϱe∥xh∥2⩾λn(u)∥x∥2
Nếu M là hữu hạn và n⩾M, tồn tại x=0 trong F trực giao với Eb, do đó x∈Eh, và
⟨x∣u(x)⟩⩾ϱe∥x∥2=λn(u)∥x∥2
theo (18). Bất đẳng thức (20) do đó được chứng minh.
Bây giờ ta sẽ chứng minh các mệnh đề b) và c), chúng kéo theo rằng các bất đẳng thức (19) và (20) là các đẳng thức khi n<M.
Ta chứng minh mệnh đề b). Cho F∈Fnu là một không gian thích nghi với u. Ta có tổng trực tiếp Hilbert
Cho x∈F∘−{0}. Viết x=xh+y+z, trong đó xh∈Eh và y (tương ứng z) thuộc không gian thứ hai (tương ứng thứ ba) của phân tích trên. Sử dụng lại (18) và sự kiện rằng mọi trị riêng λ>λn−1(u) của u đều ⩾λn(u), ta thu được
⟨x∣u(x)⟩=⟨xh∣u(xh)⟩+⟨y∣u(y)⟩+⟨z∣u(z)⟩
⩾ϱe∥xh∥2+λn(u)∥y∥2+λn−1(u)∥z∥2
Nếu z=0, thì theo Bổ đề 12, ta có λn(u)=λn−1(u). Do đó suy ra rằng ⟨x∣u(x)⟩⩾λn(u)∥x∥2, do đó rF(u)⩾λn(u). Kết hợp với (19), điều này kéo theo mệnh đề b).
Ta chứng minh mệnh đề c). Cho F∈Fn+1u là một không gian con thích nghi với u. Cho (fi)0⩽i⩽n là một cơ sở trực chuẩn của F sao cho u(fi)=λi(u)fi với 0⩽i⩽n. Với mọi x∈F, ta có
⟨x∣u(x)⟩=0⩽i⩽n∑λi(u)∣⟨fi∣x⟩∣2⩽λn(u)∥x∥2
với đẳng thức nếu x=fn, do đó RF(u)=λn(u).
Cuối cùng ta chứng minh rằng (19) và (20) là các đẳng thức khi n⩾M. Trong trường hợp này, M là hữu hạn, do đó Eb được chứa trong miền xác định của u; hơn nữa, theo định nghĩa ta có λn(u)=ϱe.
Tồn tại F∈Fn chứa Eb. Mọi phần tử x=0 của dom(u) trực giao với F do đó trực giao với Eb, và thỏa mãn
2⟨x∣u(x)⟩⩾ϱe
∥x∥
(công thức (18)), do đó rF(u)⩾ϱe=λn(u), và do đó
supF∈FnrF(u)⩾λn(u).
Cho ε>0. Vì Eb là hữu hạn chiều, suy ra từ bổ đề 11 rằng tồn tại một họ trực chuẩn (xi)i∈I gồm các phần tử của E sao cho không gian con F sinh bởi Eb và (xi)i∈I có chiều n+1 và được chứa trong dom(u), và sao cho ⟨xi∣u(xi)⟩⩽ϱe+ε với mọi i∈I. Khi đó ta có RF(u)⩽ϱe+ε. Vì ε>0 là tùy ý, ta kết luận rằng
infF∈Fn+1uRF(u)⩽ϱe=λn(u).
Mệnh đề được chứng minh.
10. Nhiễu compact và phổ cốt yếu
Trong số này, E là một không gian Hilbert phức vô hạn chiều.
Cho I là một họ trực chuẩn trong E. Họ I hội tụ yếu về 0 đối với bộ lọc các phần bù của các tập con hữu hạn của I.
Cho x∈E. Theo bất đẳng thức Bessel (EVT, V, p. 21, prop. 4) và TG, IV, p. 37, th. 1, họ (∣⟨ei∣x⟩∣2)i∈I là khả tổng, do đó ⟨ei∣x⟩ tiến tới 0 đối với bộ lọc các phần bù của các tập con hữu hạn của I (TG, III, p. 38, prop. 1).
Cho u là một toán tử từng phần tự liên hợp trên E và λ là một số thực. Khi đó λ∈ Spe(u) khi và chỉ khi tồn tại một dãy trực chuẩn (xn)n∈N trong E sao cho u(xn)−λxn tiến tới 0 trong E.
Trước hết, giả sử rằng λ∈ Spe(u). Nếu phép chiếu phổ của u ứng với {λ} có hạng vô hạn, thì mọi dãy trực chuẩn (xn) trong ảnh của nó đều trả lời câu hỏi (cf. cor. to prop. 9 of IV, p. 278). Ta sẽ giả sử trong phần tiếp theo rằng điều này không xảy ra.
Với mỗi k∈N, cho Jk là tập hợp các t∈[λ−1,λ+1] sao cho
k+21<∣t−λ∣⩽k+11
Các tập hợp Jk rời nhau từng đôi một. Hơn nữa, với mọi số nguyên K∈N, các tập hợp (Jk)k⩾K tạo thành một phân hoạch của tập hợp
IK=[λ−1/(K+1),λ+1/(K+1)]−{0}
Vì phép chiếu phổ của u ứng với IK∪{0} có hạng vô hạn (Bổ đề 9 of IV, p. 297) và phép chiếu ứng với {λ} được giả sử là có hạng hữu hạn, từ prop. 8 of IV, p. 278 ta suy ra rằng tồn tại một dãy tăng ngặt (kn)n∈N trong N sao cho phép chiếu phổ pn của u ứng với Jkn là khác không. Cho xn là một vectơ có chuẩn 1 trong ảnh của pn. Dãy (xn) là trực chuẩn, vì ảnh của pn trực giao với ảnh của pm với mọi n=m trong N.
Cho n∈N. Gọi μn là độ đo phổ của xn ứng với u; giá của nó được chứa trong Jkn (prop. 9 of IV, p. 278). Suy ra rằng
∥u(xn)−λxn∥2=∫∣t−λ∣2dμn(t)⩽12
Ckn
do đó dãy (xn)n∈N có tính chất đã yêu cầu.
Ngược lại, giả sử tồn tại một dãy trực chuẩn (xn)n∈N trong E sao cho u(xn)−λxn→ 0. Ký hiệu μn là độ đo phổ của xn đối với u.
Cho ε>0. Ký hiệu pε là phép chiếu phổ của u đối với khoảng mở Iε=]λ−ε,λ+ε[. Với mọi n∈N, ta có
1=∥xn∥2=μn(Iε)+μn(R−Iε)
⩽μn(Iε)+12∫∣t−λ∣2dμn(t)
εR−Iε
=∥pε(xn)∥2+ε21∥u(xn)−λxn∥2
Giả thiết về dãy (xn) do đó suy ra rằng chuẩn của pε(xn) không thể hội tụ về 0. Vì dãy trực chuẩn (xn) hội tụ yếu về 0 trong E (Bổ đề 13), phép chiếu pε không thể compact (Hệ quả của Mệnh đề 6 của III, p. 6) và do đó có hạng vô hạn. Vì điều này đúng với mọi ε>0, Bổ đề 9 của IV, p. 297 cho phép ta kết luận rằng λ∈ Spe(u).
Định lý sau đây là tương tự của Định lý 3 của III, p. 93 đối với các toán tử bộ phận tự liên hợp.
Cho u là một toán tử bộ phận tự liên hợp trên E. Phổ cốt yếu của u là giao của các tập Sp(u+v), trong đó v chạy qua tập các tự đồng cấu Hermit compact của E.
Toán tử bộ phận u+v là tự liên hợp với mọi tự đồng cấu Hermit v của E, vì (u+v)∗=u∗+v∗(cf. IV, p. 236).
Ta chứng minh rằng nếu v là compact, thì Spe(u)⊂ Spe(u+v). Cho λ∈ Spe(u), và cho (xn)n∈N là một dãy trực chuẩn trong E sao cho u(xn)−λxn hội tụ về 0 (Mệnh đề 18). Dãy (xn) hội tụ yếu về 0 trong E (Bổ đề 13), và vì tự đồng cấu v là compact, dãy (v(xn))n∈N hội tụ về 0 trong E (Hệ quả của Mệnh đề 6 của III, p. 6). Do đó dãy (u+v)(xn)−λxn hội tụ về 0 trong E, và Mệnh đề 18 suy ra rằng λ∈ Spe(u+v).
Phổ cốt yếu của u do đó được chứa trong giao của các tập Sp(u+v) với v∈Lc(E) là Hermit.
Ngược lại, cho λ∈ Sps(u). Cho Eλ là không gian con thực sự của u tương ứng với λ, và pλ là phép chiếu trực giao có ảnh Eλ; nó là phép chiếu phổ của u tương ứng với {λ} (Hệ quả của Mệnh đề 9 của IV, p. 278). Theo định nghĩa của phổ nhạy, phép chiếu pλ có hạng hữu hạn, do đó compact. Đặt w=u+pλ; nó là một toán tử bộ phận tự liên hợp. Để kết luận chứng minh, ta hãy kiểm tra rằng λ thuộc tập giải của w.
Ta có Eλ⊂ dom(u), và các không gian Eλ và dom(u)∩Eλ∘ là bất biến đối với u (Mệnh đề 9 của IV, p. 278).
Cho x∈ dom(u). Viết x=pλ(x)+y, trong đó y∈ dom(u)∩Eλ∘. Theo điều trên, ta có
∥w(x)−λx∥2=∥pλ(x)∥2+∥w(y)−λy∥2(21)
Cho V là một lân cận mở của λ không gặp phổ của u, và cho c>0 sao cho đĩa có tâm λ và bán kính c được chứa trong V. Gọi μy là độ đo phổ của y đối với u. Vì y trực giao với Eλ, giá của μy không gặp V (ntd.). Khi đó ta có
∥w(y)−λy∥2=∥u(y)−λy∥2=∫C∣t−λ∣2dμy(t)⩾c2∥y∥2(22)
Từ (21) và (22) suy ra rằng ∥w(x)−λx∥2⩾ inf(c2,1)∥x∥2; vì w là tự liên hợp và λ∈R, kết luận sau đó suy ra từ Bổ đề 5 của IV, p. 248.
Cho u là một toán tử từng phần tự liên hợp trên E và v là một tự đồng cấu Hermit compact của E. Khi đó Spe(u+v)= Spe(u).
Điều này suy ra ngay lập tức từ định lý.
11. Nhiễu
Trong No. này, E là một không gian Hilbert phức.
Nếu u là một toán tử từng phần tự liên hợp trên E và v∈L(E) là một tự đồng cấu Hermit, thì u+v là tự liên hợp (xem IV, p. 236). Điều này nói chung không đúng khi v là một toán tử từng phần đối xứng (Bài tập 9 của IV, p. 347). Tuy nhiên trong No. này ta vẫn thu được các kết quả dương thuộc loại này.
Cho u là một toán tử từng phần trên E. Một toán tử từng phần v trên E được gọi là bị chặn tương đối với u nếu dom(u)⊂ dom(v) và nếu v xác định, bằng cách chuyển qua không gian con, một ánh xạ tuyến tính liên tục từ Eu vào E.
Cho u là một toán tử từng phần trên E. Cho v là một toán tử từng phần bị chặn tương đối với u. Tồn tại một số thực m sao cho
∥v(x)∥⩽m(∥x∥+∥u(x)∥)
với mọi x∈ dom(u). Cận dưới lớn nhất của các số thực a⩾0 sao cho tồn tại một số thực b sao cho
∥v(x)∥⩽a∥u(x)∥+b∥x∥
được gọi là chuẩn tương đối của v đối với u, và được ký hiệu bởi ∥v∥u,
với mọi x∈ dom(u). Chuẩn tương đối của v do đó nhỏ hơn hoặc bằng chuẩn của hạn chế của v vào không gian Eu.
Cho u là một toán tử từng phần trên E. Mọi tự đồng cấu v∈L(E) đều bị chặn tương đối đối với u và chuẩn tương đối của nó bằng không, vì ∥v(x)∥⩽∥v∥∥x∥ với mọi x∈ dom(u), điều này cho phép lấy a=0 trong bất đẳng thức trên.
Cho u là một toán tử từng phần tự liên hợp trên E và v là một toán tử từng phần đối xứng bị chặn tương đối đối với u. Nếu chuẩn tương đối ∥v∥u là <1, thì toán tử từng phần u+v với miền dom(u) là tự liên hợp.
Vì ∥v∥u<1, theo định nghĩa, tồn tại các số thực dương a và b sao cho a<1 và ∥v(x)∥⩽a∥u(x)∥+b∥x∥ với mọi x∈ dom(u).
Cho t∈R∗. Đặt wt=v∘R(u,it). Ta có dom(wt) =E vì ảnh của R(u,it) được chứa trong miền của u, miền này được chứa trong miền của v theo giả thiết. Cho x∈ dom(u). Vì u là tự liên hợp, ta có
∥(it−u)x∥2=∥itx∥2+∥u(x)∥2−it⟨x∣u(x)⟩+it⟨u(x)∣x⟩
=∣t∣2∥x∥2+∥u(x)∥2
do đó các bất đẳng thức ∥u(x)∥⩽∥(it−u)x∥ và ∥x∥⩽∣t∣−1∥(it−u)x∥. Nhưng khi đó ta được
∥v(x)∥⩽(a+b∣t∣−1)∥(it−u)x∥
Đặc biệt, đặt x=R(u,it)y với y∈E; ta thu được
∥wt(y)∥⩽(a+b∣t∣−1)∥y∥
Suy ra rằng wt∈L(E) và ∥wt∥⩽a+∣t∣−1b.
Vì a< 1, tồn tại t∈R+∗ sao cho a+b∣t∣−1<1. Khi đó ∥wt∥<1 và ∥w−t∥<1; các tự đồng cấu 1E−wt và 1E−w−t của E do đó là khả nghịch (Mệnh đề 2 của I, p. 22). Vì ta có công thức (1E−wt)∘(it−u)=it−(u+v), điều này suy ra rằng u+v−it là toàn ánh; tương tự, toán tử từng phần u+v+it là toàn ánh. Suy ra rằng u+v là tự liên hợp (Mệnh đề 11 của IV, p. 240).
12. Các toán tử có giải thức compact
Trong số này, E ký hiệu một không gian Hilbert phức vô hạn chiều.
Cho u là một toán tử từng phần tự liên hợp trên E. Các điều kiện sau là tương đương :
(i) Tồn tại một cơ sở trực chuẩn B=(ej)j∈J của E sao cho u là đường chéo trong cơ sở B và giá trị tuyệt đối của họ các trị riêng của u tiến tới vô cùng theo lọc các phần bù của các tập hợp hữu hạn của J;
(ii) Với mọi λ thuộc tập giải thức của u, giải thức R(u,λ) là compact;
(iii) Tồn tại một số phức λ thuộc tập giải thức của u sao cho giải thức R(u,λ) là compact;
(iv) Phổ của u trùng với phổ điểm của u.
Giả sử (i) được thỏa mãn, và gọi (λj)j∈J là họ các trị riêng của u. Gọi μ là độ đo đếm trên J. Phổ của u là ảnh cốt yếu-μ của họ (λj) (Mệnh đề 22 của IV, p. 252); nó là tập hợp các giá trị của họ này. Với mọi λ∈/ Sp(u), giải thức R(u,λ) là đường chéo trong cơ sở B và họ các trị riêng của nó là ((λ−λj)−1)j∈J(loc. cit.). Vì họ này hội tụ về 0, tự đồng cấu R(u,λ) là compact (Mệnh đề 2, (iii) của IV, p. 148). Điều này chứng minh rằng (i) kéo theo (ii).
Vì tập giải thức của u là khác rỗng (xem Mệnh đề 17 của IV, p. 248), các tính chất (ii) và (iii) là tương đương theo công thức (8) của IV, p. 245 và Mệnh đề 3 của III, p. 5.
Vì R(u,λ) là chuẩn tắc đối với λ∈/ Sp(u) (Mệnh đề 16 của IV, p. 247), điều kiện (iii) kéo theo (iv) theo Mệnh đề 15 của IV, p. 247 và Mệnh đề 5 của III, p. 90.
Cuối cùng ta chứng minh rằng (iv) kéo theo (i). Gọi O là tập hợp các tập con trực chuẩn của E gồm các vectơ riêng của u. Tập hợp O, có thứ tự bởi quan hệ bao hàm, có đặc trưng hữu hạn (E, III, p. 34, Định nghĩa 2) vì O thuộc O khi và chỉ khi các tập hợp gồm nhiều nhất hai phần tử của O thuộc O. Theo E, III, p. 35, Định lý 1, tồn tại một phần tử cực đại O của O. Ký hiệu F là không gian con đóng của E sinh bởi O. Với e∈O, tồn tại duy nhất λ(e)∈R sao cho u(e)=λ(e)e (Mệnh đề 17 của IV, p. 248).
Tập hợp các giá trị của ánh xạ λ từ O vào R trùng với phổ của u. Thật vậy, một mặt tập hợp này được chứa trong phổ của u và mặt khác, nếu tồn tại λ0∈ Sp(u) không phải là một giá trị của λ, thì λ0 là một trị riêng của u theo giả thiết. Tồn tại một vectơ e∈ dom(u) có chuẩn 1 sao cho u(e)=λ0e và e∈/O; tập con O∪{e} là trực chuẩn (vì các không gian riêng của u ứng với các trị riêng phân biệt là trực giao theo mệnh đề b) của hệ quả của Mệnh đề 17 của IV, p. 248); nó thuộc O, mâu thuẫn với tính cực đại của O.
Giả sử rằng F=E. Khi đó F∘ là khác không. Tự đồng cấu R(u,i) của E là chuẩn (mệnh đề 16 của IV, p. 247). Nó giữ ổn định không gian con F∘ của E (bổ đề 4 của I, p. 135). Cho v là tự đồng cấu của F∘ suy ra từ R(u,i) bằng cách chuyển qua các không gian con. Nó là một tự đồng cấu liên tục và chuẩn của F∘(loc. cit.) mà phổ của nó được chứa trong phổ của R(u,i). Vì F∘ là khác không, phổ của v là khác rỗng (hệ quả 1 của I, p. 26). Hơn nữa, phổ của v không rút gọn về 0, vì tự đồng cấu chuẩn v là khác không (ví dụ 1 của I, p. 110). Cho s∈ Sp(v)−{0}. Vì s thuộc phổ của R(u,i), tồn tại e∈O sao cho s=(i−λ(e))−1, và s là một trị riêng của R(u,i) (mệnh đề 15, a) của IV, p. 247). Vì s là khác không, nó là một điểm cô lập của Sp(R(u,i)) theo giả thiết, do đó cũng là một điểm cô lập của Sp(v). Vì vậy, s là một trị riêng của v (mệnh đề 5, c) của I, p. 134). Cho e∈F∘ là một vectơ riêng chuẩn 1 của v; nó cũng là một vectơ riêng của u (mệnh đề 15, b) của IV, p. 247), và tập hợp O∪{e} mâu thuẫn với sự kiện rằng O là cực đại trong O. Do đó F = E.
Họ các phần tử của O vì vậy là một cơ sở trực chuẩn của E được tạo thành bởi các vectơ riêng của u. Phổ của u là đóng trong R, và phổ điểm là rời rạc; vì các tập hợp này trùng nhau, tập hợp các phần tử λ∈ Sp(u) sao cho ∣λ∣⩽R là compact, do đó hữu hạn, với mọi R>0. Vì vậy họ các giá trị tuyệt đối của các trị riêng của u tiến tới vô hạn theo lọc các phần bù của các tập hợp con hữu hạn của O. Do đó (iv) suy ra (i).
Cho u là một toán tử bộ phận tự liên hợp trên E. Khi đó u có resolvent compact khi và chỉ khi đơn ánh chính tắc j của không gian Hilbert Eu vào E là compact.
Giả sử rằng u có resolvent compact. Tồn tại λ∈/ Sp(u) sao cho R(u,λ) là compact (mệnh đề 19, (iii)). Cho B là quả cầu đơn vị của không gian Hilbert Eu. Vì u là một ánh xạ tuyến tính liên tục từ Eu vào E, tập con B′=(λ1E−u)(B) của E là bị chặn. Vì R(u,λ) là compact, tập con B=R(u,λ)(B′) là tương đối compact trong E (nhận xét 1 của III, p. 2). Điều này chứng minh rằng j là compact.
Ngược lại, giả sử rằng ánh xạ tuyến tính j là compact. Số phức i thuộc tập giải thức của u (Mệnh đề 17 của IV, p. 248). Ta có u∘R(u,i)=−1E+iR(u,i). Gọi B là quả cầu đơn vị của E. Với mọi x∈B, ta có
∥u∘R(u,i)(x)∥=∥−x+iR(u,i)(x)∥⩽1+∥R(u,i)∥
và do đó
∥R(u,i)x∥u2=∥R(u,i)x∥2+∥u∘R(u,i)x∥2
⩽∥R(u,i)∥2+(1+∥R(u,i)∥)2
Ảnh C của B qua R(u,i) do đó bị chặn trong Eu; vì j là compact theo giả thiết, tập hợp C=j(C) là tương đối compact trong E (III, loc. cit.). Do đó, giải thức R(u,i) là compact và u có giải thức compact (Mệnh đề 19, (iii)).
Cho q là một dạng riêng phần dương đóng trên E và u là toán tử tự liên hợp dương biểu diễn q. Các điều kiện sau là tương đương:
(i) Toán tử riêng phần u có giải thức compact;
(ii) Tự đồng cấu dương √(1E+u)−1=(1E+u)−1/2 của E là compact;
(iii) Đơn ánh chính tắc j của không gian Hilbert Eq (Định nghĩa 9 của IV, p. 292) vào E là compact.
Vì u là dương, số thực −1 thuộc tập giải thức của u (Mệnh đề 17 của IV, p. 248), do đó tự đồng cấu dương v=√(1E+u)−1 được xác định, và ta có v=(1E+u)−1/2 theo phép tính phiếm hàm.
Tự đồng cấu v là compact khi và chỉ khi v2=(1E+u)−1 là compact (Mệnh đề 6 của III, p. 91), nghĩa là khi và chỉ khi u có giải thức compact (Mệnh đề 19, (iii)). Điều này chứng minh rằng các điều kiện (i) và (ii) là tương đương.
Giả sử rằng tự đồng cấu v là compact. Gọi B là quả cầu đơn vị của không gian Hilbert Eq. Vì (1E+u)1/2 là một ánh xạ tuyến tính liên tục từ Eq vào E (Hệ quả của Định lý 3 của IV, p. 294), tập con B′=(1E+u)1/2(B) của E bị chặn, do đó tập con j(B)=B=v(B′) là tương đối compact trong E (Nhận xét 1 của III, p. 2). Điều này chứng minh rằng j là compact. Vậy (ii) suy ra (iii).
Ánh xạ tuyến tính v:x↦(1E+u)−1/2(x) từ E vào Eq được xác định tốt và đẳng cự (Hệ quả của Định lý 3 của IV, p. 294). Vì v=j∘v, điều kiện (iii) suy ra (ii) (Mệnh đề 3 của III, p. 5).
Cho n∈N. Cho U là một tập hợp mở trong Rn. Trang bị cho U độ đo Lebesgue, ký hiệu bởi μ. Gọi Δ là toán tử vi phân vô hướng −∑i=1n∂i2 trên U. Toán tử riêng phần Δ− với miền xác định D(U) được xác định bởi φ↦Δ(φ) là đóng được (Mệnh đề 13 của IV, p. 242) và đối xứng (IV, p. 243). Nó là dương, vì với mọi φ∈D(U), ta có
⟨φ∣Δ−(φ)⟩=∫UφΔ(φ)dμ=−i=1∑n∫Uφ∂i2φdμ
=i=1∑n∫U∂iφ∂iφdμ=∫Ui=1∑n∣∂iφ∣2dμ⩾0
Ta ký hiệu ΔD là mở rộng Friedrichs của toán tử riêng phần đối xứng dương Δ−(IV, p. 295, Ví dụ); nó là một toán tử Laplace trên U, được gọi là toán tử Laplace Dirichlet trên U.
Cho q là dạng riêng phần dương liên kết với ΔD. Miền xác định của q là sự hoàn thiện Hilbert của D(U) đối với dạng Hermit dương được xác định bởi
(φ1,φ2)↦∫Uφ1φ2+i=1∑n∫U∂iφ1∂iφ2
với mọi (φ1,φ2)∈D(U)×D(U). Nói cách khác, miền xác định của q là không gian Sobolev H01(U) (No.o14 của IV, p. 221).
Giả sử rằng U bị chặn. Đơn ánh chính tắc của H01(U) vào L2(U) là compact; toán tử Laplace Dirichlet trên U do đó là một toán tử có giải thức compact (Hệ quả của Mệnh đề 20). Vì không gian Hilbert H01(U) có kiểu đếm được (Mệnh đề 20 của IV, p. 222), và vì ảnh của ΔD có chiều vô hạn, tồn tại một dãy tăng (λn)n⩾0 các số thực tiến tới +∞ và một cơ sở trực chuẩn (fn)n∈N của L2(U), mà các phần tử của nó thuộc miền của ΔD, sao cho ΔD(fn)=λnfn với mọi n∈N. Có thể chứng minh ("luật Weyl") rằng khi T tiến tới +∞, ta có
n∈N∑1∼(2π)ncnmTn/2
λn⩽T
trong đó cn=πn/2/Γ(1+n/2) là thể tích của quả cầu đơn vị trong Rn (INT, V, p. 101, § 8, no7) và m>0 là độ đo Lebesgue của U.
Bài tập
Trừ khi có quy định khác, các không gian Hilbert dưới đây được giả sử là phức.